Chương I. Cơ sở lý luận về quán lý nhà nước về công tác đào tạo nguồn nhân lực hành chính công. 10 CHUONG 1 CƠ SỞ LÝ LUAN VE QUAN LY NHÀ NƯỚC VÈ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH CÔNG 1. KHÁI QUAT VE DAO TAO VA QUAN LY NHÀ NƯỚC VE DAO TẠO NGUÒN NHÂN LỰC HÀNH CHÍNH CÔNG 1.
Khái niệm, đặc điểm của đào tạo nguồn nhân lực hành chính công &. Nhân lực 'Nhân lực là sức lực con người, nằm trong mỗi con người và làm cho con người hoạt động. Sức lực đó ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của cơ thể con người và đến một mức độ nào đó, con người đủ điều kiện tham gia vào quá trình lao động - con người có sức lao động. Nhân lực là nguồn lực của mỗi người, bao gồm thê lực, trí lực và nhân cách.
Theo Liên Hiệp Quốc (United Nations): “Nguén nhân lực là tắt ca những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [9] Như vậy: nhân lực là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết & cơ bản nhất là tiềm năng lao động), gồm: thể lực, trí lực, nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cầu kinh tế - Quận nhất định. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực (NNL) được hiểu ở tầm vĩ mô là một nguồn lực đầu vào quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Khái niệm này được sử dụng khá rộng rãi đề chỉ vai trò và vị trí con người trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Ở nước ta, khái niệm “nguồn nhân lực” được nhắc đến nhiều kể từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX.
1I - Theo cách tiếp cận của Liên hợp quốc, nguồn nhân lực là tất cả kiến thức, kỹ năng và năng lực của con người có liên quan đến sự phát triển xã hội. Với cách nhìn này, NNL được xem xét ở phương diện chất lượng, vai trò và sức mạnh của con người đối với sự phát triển của xã hội [9]. - Thủ tướng Phan Văn Khải từng khẳng định trong buổi nói chuyện với cán bộ lãnh đạo thành phố Hà nội đăng trên web “dân trí” rằng: “Nguồn nhân lực con người bao gồm cả sức lao động, trí tuệ và tỉnh thần gắn với truyền thống của dân tộc ta” - Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tắt cả những người lao động. trong tổ chức đó.
Bao gồm tắt cả các cá nhân tham gia bất kỳ hoạt động nào của tô chức, bắt kể vai trò của họ là gì. - Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm nguồn nhân lực vì có cách tiếp cận khác nhau nhưng có một điểm chung đó là NNL của một tổ chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức. Từ quan niệm chung đó có thể thấy, NNL của một tô chức được hình thành trên cơ sở các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết lại bởi mục tiêu của tổ chức “Nguôn nhân lực (NNL) là yếu tổ quan trọng hàng đầu trong lực lượng sản xuất. Với vai trò quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển và tiến bộ của toàn xã hội ( tầm vĩ mô) và quyết định sự phát triển, thành công hay thất bại của một tổ chức (vi mô) " [1, 23] e.
Nguôn nhân lực hành chính công Hành chính công là tập hợp tắt cả các hoạt động của công chức Nhà nước có liên quan đến quản lý. Hành chính công là nền hành chính nhà nước, là tổng thể các tô chức và định chế hoạt động của bộ máy hành pháp có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước, do các cơ quan có tư cách 12 pháp nhân công quyên tiến hành bằng các văn bản dưới luật nhằm thực thi chức năng quản lý Nhà nước, giữ gìn bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hằng ngày của nhân dân trong mối quan hệ giữ công dân và Nhà nước. Nguôn nhân lực hành chính công là những lao động tham gia trực tiếp vào các hoạt động hành chính công ở các cơ quan hành chính công ở các cơ. quan nhà nước và có thu nhập từ hoạt động hành chính công đó.
[2, tr 18] Đối tượng chung của nguồn nhân lực cơ quan hành chính nhà nước và trong các tô chức khác đều con người. Vì vậy, nhiều kỹ thuật trong quản lý và phát triển con người đều có thể áp dụng chung cho các loại hình tổ chức khác nhau này. Mặt khác, nguồn nhân lực trong cơ quan hành chính nhà nước gồm những cán bộ công chức viên chức, do đó nguồn nhân lực của tổ chức hành chính nhà nước có những điểm khác biệt so với nguồn nhân lực trong các tô chức thông thường khác. Sự khác biệt đó xuất phát từ sự khác nhau về công việc (việc làm) của tổ chức hành chính nhà nước so với các tổ chức thông thường khác.
Vì thế, đòi hỏi nguồn nhân lực của các cơ quan hành chính nhà nước cũng có những tính chất khác so với hoạt động của các tổ chức khác. Hoạt động trong cơ quan hành chính nhà nước luôn gắn liền với quyền lực nhà nước. Cán bộ, công chức được sử dụng các nguồn lực của nhà nước đẻ thực thi công vụ, họ hoạt động vì các mục tiêu chung của Nhà nước, không mang tính lợi nhuận. cơ quan nhà nước hoạt động trên những nguyên tắc khác với hoạt động của các tô chức khác.
Đào tạo nguồn nhân lực hành chính công “Đào tạo: làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thông những tri thức, kỹ? năng theo quy định của từng cấp học, bậc học” và “Bôi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc "[22, tr 33] 13 Đào tạo nguồn nhân lực là hoạt động làm cho con người trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định. Là quá trình học tập để làm cho. cán bộ công chức có thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ có hiệu quả hơn trong. công tác của họ.
Đào tạo nguồn nhân lực hành chính công là quá trình cung cấp cho công chức những thông tin, kỹ năng và sự hiểu biết cần thiết về tổ chức cũng như mục tiêu của hoạt động hành chính công. Đào tạo nguồn nhân lực hành chính công là một quá trình học tập nghiệp vụ và kinh nghiệm tại môi trường làm việc trong hoạt động hành chính công để tìm kiếm sự thay đổi về chất tương đối lâu dài của một cá nhân, giúp cá nhân có thêm năng lực thực hiện tốt công việc của mình. “Vậy tóm lại: Đào tạo nguôn nhân lực hành chính công là một quá trình học tập nghiệp vụ và kinh nghiệm tại môi trường làm việc trong hoạt động hành chính công để tìm kiếm sự thay đối vẻ chất tương đối lâu dài của một cá nhân, giúp cá nhân có thêm năng lực thực hiện tốt công việc của mình ” [4, tr 38] e. Khái niệm cán bộ, công chức Khái niệm cán bộ và công chức đã được quy định và phân biệt rõ trong Điều 4, Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
Theo đó Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cắp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào. ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà 14 không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. # Khái niệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Theo Nghị định số 101/2017/NĐ-CP ngày 01/09/2017 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức thì: Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc.
Sự khác nhau giữa đào tạo và bồi dưỡng có thể phân biệt bằng các dấu hiệu về thời gian, nội dung ĐTBD, những đòi hỏi về quy chuẩn ĐTBD. Thời gian các khóa bồi dưỡng thường kéo dài 1-2 tuần hoặc 1-3 tháng. Đào tạo thường có thời gian dài hơn, khoảng từ một năm học trở lên. Về bằng cấp, sau khi hoàn thành khoá đào tạo, người học được cấp bằng về trình độ được đào tạo, còn bồi dưỡng chỉ cấp chứng chỉ hoặc chứng nhận đã học qua khoá bồi dưỡng.
Từ các quan niệm nêu trên, có thể hiểu: ĐTBD CBCC là quá trình tổ chức học tập cho đội ngũ CBCC nhằm trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng, thái độ làm việc giúp họ thực hiện tốt hơn nhiệm vụ được giao. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức Về đào tạo Bao gồm: Đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học, sau dai học. Về bồi dưỡng Bao gồm: Lý luận chính trị; n thức quản lý chuyên ngành, chuyên môn, nghiệp vụ; kiến thức quốc phòng và an ninh; kiến thức hội nhập quốc tiếng dân tộc, tin học, ngoại ngữ. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo cán bộ, công chức a.
Quan If “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng, có mục đích, có kế hoạch của chú thể quản lý đến đối tượng quản lý đề chỉ huy, điều khiển, liên kết các yếu tố tham gia vào hoạt động thành một chỉnh thể thống nhất, điều hoà hoạt động của các khâu một cách hợp quy luật nhằm đạt đến mục tiêu xác định trong điều kiện biến động của môi trường ” [1I, tr 31]. Quản lý là hiện tượng tồn tại trong mọi chế độ xã hội.