Quản lý công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình

Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế nghiên cứu quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn TP Đồng Hới tỉnh Quảng Bình.

Chuyên ngành

Quản Lý Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2020

123
21
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và Vai trò

Luận văn bắt đầu bằng việc làm rõ các khái niệm cơ bản về nghề, đào tạo nghề, lao động nông thôn và quản lý nhà nước trong bối cảnh đào tạo nghề. Nghề được định nghĩa là một lĩnh vực hoạt động lao động đòi hỏi sự đào tạo và mang lại thu nhập. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được nhấn mạnh là sự nghiệp của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Luận văn cũng làm rõ vai trò của quản lý nhà nước trong việc đào tạo nghề, như "Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển ĐTN cho LĐNT, có chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề…". Việc đặt nền móng khái niệm rõ ràng ngay từ đầu giúp người đọc nắm bắt được phạm vi và trọng tâm của nghiên cứu.

II. Nội dung và Các yếu tố ảnh hưởng

Phần này đi sâu vào nội dung và các tiêu chí của quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Luận văn đề cập đến các hoạt động then chốt như hoạch định chiến lược, quy hoạch, ban hành văn bản pháp luật, quản lý bộ máy đào tạo nghề, đầu tư nguồn lực, đào tạo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý, thanh tra, kiểm tra. Bên cạnh đó, luận văn cũng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo nghề, bao gồm môi trường kinh tế - chính trị - xã hội, chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, và đặc điểm địa phương. Việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng này cho thấy tác giả đã tiếp cận vấn đề một cách toàn diện, không chỉ tập trung vào các chính sách mà còn xem xét bối cảnh thực tiễn.

III. Thực trạng tại Đồng Hới Quảng Bình

Chương này tập trung vào phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Đồng Hới. Luận văn trình bày khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Đồng Hới, sau đó đi vào đánh giá thực trạng các hoạt động quản lý nhà nước liên quan đến đào tạo nghề. Một số vấn đề được nêu ra bao gồm thực trạng xây dựng kế hoạch, ban hành văn bản hướng dẫn, tuyên truyền, tư vấn học nghề, tổ chức bộ máy quản lý, đầu tư nguồn lực, và đánh giá kết quả đào tạo nghề. Luận văn đưa ra số liệu cụ thể về tình hình dân số, lao động, kinh phí đào tạo nghề giai đoạn 2016-2018 để làm rõ thực trạng. Ví dụ, luận văn đề cập đến vấn đề "QLNN về công tác ĐTN cho LĐNT vẫn mang tính “thời vụ” theo kiểu “có gì học nấy”, chưa bám sát với quy hoạch sử dụng…". Điều này giúp tăng tính thuyết phục cho những phân tích và đề xuất giải pháp sau này.

IV. Giải pháp và Định hướng

Dựa trên những phân tích về thực trạng, luận văn đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Đồng Hới, hướng đến năm 2025. Các giải pháp được đề cập bao gồm lập kế hoạch và thiết kế chương trình đào tạo nghề, tuyên truyền, tư vấn học nghề, tổ chức quản lý, đổi mới chính sách huy động vốn, nâng cao năng lực giáo viên, và kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả. Luận văn cũng đưa ra quan điểm, mục tiêu và phương hướng đào tạo nghề cho lao động nông thôn trong tương lai. Việc đề xuất các giải pháp cụ thể và định hướng phát triển cho thấy tính ứng dụng thực tiễn cao của nghiên cứu. Bên cạnh đó, luận văn cũng đã xem xét các kinh nghiệm từ các địa phương khác như Quảng Trị và Nghệ An để làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp.

16/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Cơ sở QLNN về ĐTN cho LĐNT. Chương 2: Thực trạng QLNN về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2016-2018. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đến năm 2025. CHUONG 1 CO SO QUAN LY NHA NUOC VE DAO TAO NGHE CHO LAO DONG NONG THON 1.

CAC KHAI NIEM CO BAN 1. Nghề và đào tạo nghề a. Nghề Trong đời sống sản xuất của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo công nhân chúng ta thường nói đến một khái niệm khác, đó là nghề. Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đảo tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng đề làm ra các loại sản phẩm vật chat hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.

Nghề thường được hiểu là một việc làm có tính ổn định, đem lai thu nhập dé duy trì và phát triển cuộc sống cho mỗi người. Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con đường để thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân [6] Có nhiều khái niệm về nghề trên thế giới: ~ Nghề là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn. - Nghề là một loại lao động có thói quen về ky năng, ky xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sinh sống. ~ Nghề là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đảo tạo trong khoa học nghệ thuật.

- Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó. Nhu vay, nghề là một hiện tượng xã hội gắn chặt với sự phân công lao. đông, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại. Ở Việt Nam, nghề cũng được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu.

Có tác giả quan niệm nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao. 10 động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội.Ở một khía cạnh khác, có tác giả quan niệm nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có được những tri thức, những ky năng đề làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.Bên cạnh đó có thê hiểu “nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ hiểu biết (kiến thức) và kỹ năng mà một người lao động, cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”. [1] Như vậy, nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và kỹ năng thực hành để hoàn thành những công việc nhất định.

Đào tạo nghề Theo Mục 1, Điều 5,Luật Dạy nghề thì ĐTN được hiểu: “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học, tức là đạt được các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghÈ”. [8] Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (GDNN), ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc đề nâng cao trình độ nghề nghiệp. [10] Theo quy định tại Luật Giáo dục (2005): “Dạy nghề là một cấp học trong. GDNN và được thực hiện dưới một năm đối với ĐTN trình độ sơ cất , từ một đến ba năm đối với ĐTN trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.

Các CSDN ll bao gồm trường cao đăng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm day nghề, lớp dạy nghề”. [9] Theo ILO:“ĐTN là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng. và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm dao tao ban dau, dao tao lai, dao tao nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”.

[27] Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) đưa ra khái niệm: “ĐTN nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học dé có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. [10] Như vậy, ĐTN là hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người lao động để họ có thể hành nghề hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. * Các hình thức ĐTN như sau: ~ Đào tạo trình độ sơ cấp: Mục tiêu ĐTN trình độ sơ cấp đề người học. có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề.

Thời gian đào tạo trình độ sơ cấp được thực hiện từ 03 tháng đến dưới 01 năm học nhưng phải bảo đảm thời gian thực học tối thiểu là 300 giờ học đối với người có trình độ học vấn phù hợp với nghề cần học. - Đào tạo trình độ trung cắp:Mục tiêu ĐTN trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cắp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. Thời gian đào tạo trình độ trung cấp theo niên chế đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên là từ 01 đến 02 năm học tùy theo. chuyên ngành hoặc nghề đào tạo.Thời gian đào tạo trình độ trung cấp theo.

phương thức tích lũy mô-dun hoặc tín chỉ là thời gian tích lũy đủ số lượng 12 mô-dun hoặc tín chỉ quy định cho từng chương trình đào tạo. Người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, nếu có nguyện vọng tiếp tục học lên trình độ cao. đang thì phải học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng văn hóa trung học phổ thông. - Đào tạo trình độ cao đẳng: Mục tiêu ĐTN trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc Thời gian đào tạo trình độ cao đẳng theo niên chế được thực hiện từ 02 đến 03 năm học tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phô thông; từ 01 đến 02 năm học tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành, nghề đào tạo và có bằng tốt nghiệp trung học phô thông hoặc đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông.

Lao động nông thôn và đào tạo nghề cho lao động nông thôn a. Nong thon, lao động nông thôn Đối với khái niệm về nông thôn có sự khác nhau ở mỗi quốc gia, nó phụ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử và tiến trình phát triển KT-XH của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở những nước đang phát triển, việc phân biệt nông, thôn với đô thị chưa thể tách bạch hoàn toàn, một số nơi khu vực nông thôn diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng nhưng vẫn còn có sự xen lẫn về đất dai, địa bàn dân cư và các hoạt động KT-XH. Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm.

Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường và phát triển hàng hóa (so với đô thị là thấp hơn). Cũng có 13 ý kiến, nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng đô thị. Một quan điểm khác lại nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp.

Tuy nhiên, những ý kiến trên chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nên kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp - dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thi tran rai rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đối khác so với khái niệm trước đây, có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những thị trấn, đô thị nhỏ, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cing tồn tại hỗ trợ và thúc đây nhau phát trién.Vi thé, trong điều kiện hiện nay ở 'Việt Nam nếu nhìn nhận dưới góc độ quản lý có thể đưa ra khái niệm về nông. thôn như sau:[S] Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều vùng. nông thôn là địa bàn để người nông dân sinh sống và phát triển, là một bộ phận quan trọng cấu thành xã hội, đặc biệt là đối với các quốc gia có sản xuất nông nghiệp là nền tảng như Việt Nam.

Nông thôn là phần lãnh thố không thuộc nội thành, nội thị các thành phó, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân (UBND) xã. Nông thôn Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống. LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuôi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ của Dương Thị Thúy Hà, với tiêu đề "Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế quản lý nhà nước về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn trên địa bàn thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình", trình bày những vấn đề quan trọng liên quan đến quản lý nhà nước trong lĩnh vực đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Bài viết nhấn mạnh sự cần thiết của việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp cho người lao động nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế địa phương và cải thiện đời sống của cộng đồng nông thôn.

Độc giả có thể tìm hiểu thêm về các khía cạnh liên quan đến quản lý nhà nước trong giáo dục và đào tạo qua bài viết Luận văn quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, hoặc khám phá thêm về Luận văn thạc sĩ quản lý nhà nước về công tác đào tạo cán bộ công chức trên địa bàn quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, nơi cũng đề cập đến sự phát triển nguồn nhân lực trong khu vực công. Những tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về các chính sách và thực tiễn trong quản lý nhà nước liên quan đến giáo dục và đào tạo nghề.