Chương I: Cơ sở QLNN về ĐTN cho LĐNT. Chương 2: Thực trạng QLNN về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2016-2018. Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện QLNN về ĐTN cho LĐNT trên địa bàn thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình đến năm 2025. CHUONG 1 CO SO QUAN LY NHA NUOC VE DAO TAO NGHE CHO LAO DONG NONG THON 1.
CAC KHAI NIEM CO BAN 1. Nghề và đào tạo nghề a. Nghề Trong đời sống sản xuất của xã hội, trong việc đào tạo cán bộ kỹ thuật, đào tạo công nhân chúng ta thường nói đến một khái niệm khác, đó là nghề. Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đảo tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng đề làm ra các loại sản phẩm vật chat hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.
Nghề thường được hiểu là một việc làm có tính ổn định, đem lai thu nhập dé duy trì và phát triển cuộc sống cho mỗi người. Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống mà còn là con đường để thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân [6] Có nhiều khái niệm về nghề trên thế giới: ~ Nghề là một loại hoạt động lao động đòi hỏi có sự đào tạo nhất định và thường là nguồn gốc của sự sinh tồn. - Nghề là một loại lao động có thói quen về ky năng, ky xảo của một người để từ đó tìm được phương tiện sinh sống. ~ Nghề là công việc chuyên môn đòi hỏi một sự đảo tạo trong khoa học nghệ thuật.
- Nghề là hoạt động cần thiết cho xã hội ở một lĩnh vực lao động nhất định đòi hỏi phải được đào tạo ở một trình độ nào đó. Nhu vay, nghề là một hiện tượng xã hội gắn chặt với sự phân công lao. đông, với tiến bộ khoa học kỹ thuật và văn minh nhân loại. Ở Việt Nam, nghề cũng được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu.
Có tác giả quan niệm nghề là một tập hợp lao động do sự phân công lao. 10 động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất hay do nhu cầu xã hội.Ở một khía cạnh khác, có tác giả quan niệm nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó nhờ được đào tạo con người có được những tri thức, những ky năng đề làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội.Bên cạnh đó có thê hiểu “nghề là một dạng xác định của hoạt động trong hệ thống phân công lao động của xã hội, là toàn bộ hiểu biết (kiến thức) và kỹ năng mà một người lao động, cần có để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định trong một lĩnh vực lao động nhất định”. [1] Như vậy, nghề là một hình thức phân công lao động, nó đòi hỏi kiến thức lý thuyết tổng hợp và kỹ năng thực hành để hoàn thành những công việc nhất định.
Đào tạo nghề Theo Mục 1, Điều 5,Luật Dạy nghề thì ĐTN được hiểu: “là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học, tức là đạt được các tiêu chuẩn kỹ năng nghề quy định về mức độ thực hiện và yêu cầu kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có để thực hiện các công việc của một nghÈ”. [8] Theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (GDNN), ĐTN là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc đề nâng cao trình độ nghề nghiệp. [10] Theo quy định tại Luật Giáo dục (2005): “Dạy nghề là một cấp học trong. GDNN và được thực hiện dưới một năm đối với ĐTN trình độ sơ cất , từ một đến ba năm đối với ĐTN trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.
Các CSDN ll bao gồm trường cao đăng nghề, trường trung cấp nghề, trung tâm day nghề, lớp dạy nghề”. [9] Theo ILO:“ĐTN là những hoạt động nhằm cung cấp kiến thức, kỹ năng. và thái độ cần có cho sự thực hiện có năng suất và hiệu quả trong phạm vi một nghề hoặc nhóm nghề. Nó bao gồm dao tao ban dau, dao tao lai, dao tao nâng cao, cập nhật và đào tạo liên quan đến nghề nghiệp chuyên sâu”.
[27] Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) đưa ra khái niệm: “ĐTN nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học dé có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp”. [10] Như vậy, ĐTN là hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người lao động để họ có thể hành nghề hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học. * Các hình thức ĐTN như sau: ~ Đào tạo trình độ sơ cấp: Mục tiêu ĐTN trình độ sơ cấp đề người học. có năng lực thực hiện được các công việc đơn giản của một nghề.
Thời gian đào tạo trình độ sơ cấp được thực hiện từ 03 tháng đến dưới 01 năm học nhưng phải bảo đảm thời gian thực học tối thiểu là 300 giờ học đối với người có trình độ học vấn phù hợp với nghề cần học. - Đào tạo trình độ trung cắp:Mục tiêu ĐTN trình độ trung cấp để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ sơ cắp và thực hiện được một số công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc, làm việc độc lập, làm việc theo nhóm. Thời gian đào tạo trình độ trung cấp theo niên chế đối với người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên là từ 01 đến 02 năm học tùy theo. chuyên ngành hoặc nghề đào tạo.Thời gian đào tạo trình độ trung cấp theo.
phương thức tích lũy mô-dun hoặc tín chỉ là thời gian tích lũy đủ số lượng 12 mô-dun hoặc tín chỉ quy định cho từng chương trình đào tạo. Người có bằng tốt nghiệp trung học cơ sở, nếu có nguyện vọng tiếp tục học lên trình độ cao. đang thì phải học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng văn hóa trung học phổ thông. - Đào tạo trình độ cao đẳng: Mục tiêu ĐTN trình độ cao đẳng để người học có năng lực thực hiện được các công việc của trình độ trung cấp và giải quyết được các công việc có tính phức tạp của chuyên ngành hoặc nghề; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại vào công việc, hướng dẫn và giám sát được người khác trong nhóm thực hiện công việc Thời gian đào tạo trình độ cao đẳng theo niên chế được thực hiện từ 02 đến 03 năm học tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phô thông; từ 01 đến 02 năm học tùy theo chuyên ngành hoặc nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung cấp cùng ngành, nghề đào tạo và có bằng tốt nghiệp trung học phô thông hoặc đã học và thi đạt yêu cầu đủ khối lượng kiến thức văn hóa trung học phổ thông.
Lao động nông thôn và đào tạo nghề cho lao động nông thôn a. Nong thon, lao động nông thôn Đối với khái niệm về nông thôn có sự khác nhau ở mỗi quốc gia, nó phụ thuộc vào từng thời kỳ lịch sử và tiến trình phát triển KT-XH của các quốc gia khác nhau trên thế giới. Ở những nước đang phát triển, việc phân biệt nông, thôn với đô thị chưa thể tách bạch hoàn toàn, một số nơi khu vực nông thôn diễn ra quá trình đô thị hóa nhanh chóng nhưng vẫn còn có sự xen lẫn về đất dai, địa bàn dân cư và các hoạt động KT-XH. Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm.
Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa vùng nông thôn có cơ sở hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị. Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường và phát triển hàng hóa (so với đô thị là thấp hơn). Cũng có 13 ý kiến, nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định, vùng nông thôn thường có số dân và mật độ dân thấp hơn vùng đô thị. Một quan điểm khác lại nêu ra, vùng nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, nguồn sinh kế chính của cư dân trong vùng là từ sản xuất nông nghiệp.
Tuy nhiên, những ý kiến trên chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng nước, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nên kinh tế. Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp - dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thi tran rai rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đối khác so với khái niệm trước đây, có thể hiểu nông thôn hiện nay bao gồm cả những thị trấn, đô thị nhỏ, những trung tâm công nghiệp nhỏ có quan hệ gắn bó mật thiết với nông thôn, cing tồn tại hỗ trợ và thúc đây nhau phát trién.Vi thé, trong điều kiện hiện nay ở 'Việt Nam nếu nhìn nhận dưới góc độ quản lý có thể đưa ra khái niệm về nông. thôn như sau:[S] Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp dân cư, trong đó có nhiều vùng. nông thôn là địa bàn để người nông dân sinh sống và phát triển, là một bộ phận quan trọng cấu thành xã hội, đặc biệt là đối với các quốc gia có sản xuất nông nghiệp là nền tảng như Việt Nam.
Nông thôn là phần lãnh thố không thuộc nội thành, nội thị các thành phó, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân (UBND) xã. Nông thôn Việt Nam hiện nay có khoảng 70% dân số sinh sống. LĐNT là những người dân không phân biệt giới tính, tổ chức, cá nhân sinh sống ở vùng nông thôn, có độ tuôi từ 15 trở lên, hoạt động sản xuất ở nông thôn.