CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Một số khái niệm về lao động và việc làm Khái niệm lao động Khái niệm về lao động có nhiều cách tiếp cận khác nhau nhưng suy đến cùng, lao động là hoạt động đặc thù của con người, phân biệt con người với con vật và xã hội loài người và xã hội loài vật, bởi vì: khác với con vật lao động của con người là hoạt động có mục đích, có ý thức tác động vào thế giới tự nhiên nhằm cải biến những vật tự nhiên thành sản phẩm phục vụ cho nhu cầu đời sống của con người.Mác viết: “Con nhện làm những động tác giống như động tác của người thợ dệt, và bằng việc xây dựng ngăn tổ sáp của mình, con ong còn làm cho một số nhà kiến trúc phải hổ thẹn. Nhưng điều ngay từ đầu phân biệt nhà kiến trúc tồi nhất với con ong giỏi nhất là trước khi xây dựng những ngăn tổ ong bằng sáp, nhà kiến trúc đã xây dựng chúng ở trong đầu óc của mình rồi” [2,21-22].
Lịch sử phát triển của xã hội đã chứng minh vai trò quyết định của lao động với quá trình tiến hoá của loài người và quá trình phát triển kinh tế xã hội.Mác: “Lao động là một điều kiện tồn tại của con người không phụ thuộc vào bất kỳ hình thái xã hội nào, là một lịch sử tất yếu tự nhiên vĩnh cữu là môi giới cho sự trao đổi giữa con người với tự nhiên, tức là cho bản thân sự sống của con người” [6,61]. Thật vậy, quá trình sản xuất vật chất bao giờ cũng được kết hợp bởi 3 yếu tố: Lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động. Trong bất kỳ nền sản xuất nào, kể 7 cả nền sản xuất hiện đại, lao động bao giờ cũng là nhân tố cơ bản, là điều kiện không thể thiếu của sự tồn tại và phát triển đời sống xã hội của loài người. Khái niệm lực lượng lao động Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế ILO: Lực lượng lao động là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định, đang có việc làm và những người không có việc làm đang tích cực tìm kiếm việc làm.
Bộ lao động thương binh và xã hội Việt Nam thì cho rằng: Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế [5,38]. Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có thể rút ra kết luận về lực lượng lao động như sau: Lực lượng lao động bao gồm toàn bộ những người trong độ tuổi lao động đang có việc làm hoặc không có việc làm, nhưng có nhu cầu làm việc và sẵn sàng làm việc và độ tuổi này tùy thuộc vào điều kiện văn hóa, kinh tế, chính trị xã hội của từng quốc gia. Điều 6 và 145 của Bộ luật lao động nước CHXHCN Việt Nam quy định độ tuổi tối thiểu và tối đa của người lao động: Đối với nam từ 15 – 60 tuổi; đối với nữ 15 – 55 tuổi (trừ một số trường hợp đặc biệt khác do chính phủ quy định).
Khái niệm việc làm Việc làm là mối quan tâm số một của người lao động và giải quyết việc làm là công việc quan trọng của tất cả các quốc gia. Cuộc sống của bản thân và gia đình người lao động phụ thuộc rất lớn vào việc làm của họ. Sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia cũng gắn liền tính hiệu quả chính sách giải quyết việc làm.Với tầm quan trọng như vậy, việc làm được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau như kinh tế, xã hội học, lịch sử. Khi nghiên cứu quá trình sản xuất TBCN, C.Mác có đề cập đến việc làm nhưng chưa đưa ra khái niệm cụ thể về việc làm: “Sự tăng lên của bộ phận tư bản khả biến của tư bản, và do đó sự tăng thêm số công nhân đã có việc làm, bao giờ cũng gắn với những biến động mạnh mẽ và với việc sản xuất ra số nhân khẩu thừa tạm thời” [6,158].
8 Theo cách tiếp cận của C.Mác thì giữa lao động và việc làm có mối quan hệ mật thiết với nhau. Việc làm thể hiện mối quan hệ của con người với những nơi làm việc cụ thể mà ở đó lao động diễn ra. Các nhà kinh tế anh cho rằng: “Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động kinh tế của một xã hội, nghĩa là tất cả những gì quan hệ đến cách kiếm sống của một con người, kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành khuôn khổ của quá trình kinh tế” [5,315]. Như vậy, theo cách hiểu này thì tất cả những công việc tạo ra thu nhập mà không cần phân biệt có được pháp luật cho phép hay không đều được xem là việc làm.
Ở Việt Nam trước đây, trong cơ chế kế hoạch tập trung, quan liêu bao cấp, người lao động được coi là có việc làm và được xã hội thừa nhận, trân trọng là người làm việc trong thành phần kinh tế XHCN (quốc doanh tập thể). Theo cơ chế đó xã hội không thừa nhận việc làm ở các thành phần kinh tế khác. Ngày nay, quan niệm về việc làm đã được hiểu rộng hơn, đúng đắn và khoa học hơn, đó là các hoạt động của con người nhằm tạo ra thu nhập, mà không bị pháp luật cấm. Tại điều b, chương 2 bộ luật lao động nước CH XHCN Việt Nam quy định: “Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” [4,42].
Theo quan niệm trên, việc làm là các hoạt động lao động được hiểu như sau: - Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương hoặc hiện vật từ công việc đó. - Làm những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cho cộng đồng. Theo khái niệm trên, một hoạt động được coi là việc làm cần thỏa mản hai điều kiện: Một là, hoạt động đó phải có ích và tạo ra thu nhập cho người lao động và các thành viên trong gia đình. Hai là, người lao động được tự do hành nghề, hoạt động đó không bị pháp luật cấm - điều này chỉ rõ tính pháp lý của việc làm.
Quan điểm trên về việc làm là phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở Việt Nam hiện nay. Trong xu thế hội nhập và mở cửa như hiện nay, người lao động có thể làm 9 bất cứ việc gì, bất cứ đâu miễn là không vi phạm pháp luật để mang lại thu nhập cho bản thân, cho gia đình và xã hội. Điều này đã mở ra một hướng mới cho giải quyết việc làm, tạo ra một thị trường việc làm phong phú và đa dạng, thu hút nhiều lao động, thực hiện tốt mục tiêu giải quyết việc làm cho lao động. Khái niệm thiếu việc làm Theo tổ chức lao động quốc tế (ILO) cho rằng: Người thiếu việc làm là người trong tuần lễ điều tra có số giờ làm việc dưới mức quy định chuẩn và có nhu cầu làm thêm.
Theo một số chuyên gia về chính sách lao động việc làm thì cho rằng: Người thiếu việc làm là những người đang làm việc có mức thu nhập dưới mức lương tối thiểu và họ có nhu cầu làm thêm. Từ những quan niệm về người thiếu việc làm trên có thể hiểu như sau: người thiếu việc làm là người lao động đang có việc làm nhưng họ làm việc không hết thời gian theo pháp luật quy định hoặc làm những công việc mà tiền lương thấp không đáp ứng đủ nhu cầu của cuộc sống, họ muốn tìm thêm việc làm để bổ sung thu nhập. Thiếu việc làm có hai dạng: Thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình. - Thiếu việc làm hữu hình: Là người lao động làm việc có thời gian ít hơn thường lệ, họ không đủ việc làm đang tìm kiếm thêm việc làm và sẳn sàng để làm việc.
- Thiếu việc làm vô hình (không nhìn thấy được): Là những người có đủ việc làm, làm đủ thời gian thậm chí nhiều thời gian hơn mức quy định nhưng thu nhập thấp, công việc không phù hợp với chuyên môn nghiệp vụ, họ có nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm. Nguyên nhân của tình trạng này là do tay nghề hoặc kỷ năng của người lao động thấp không sử dụng hết khả năng hiện có hoặc do điều kiện lao động kém, tổ chức lao động không hợp lý. Thước đo khái niệm thiếu việc làm vô hình là những thu nhập thấp hơn mức lương tối thiểu. Nguyên nhân thiếu việc làm: - Do nền kinh tế chậm phát triển, diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp và giảm dần do đô thị hoá.
10 - Do lực lượng lao động tăng quá nhanh, trong khi đó số chổ làm việc mới tạo ra quá ít, do trình độ chuyên môn kỷ thuật, tay nghề của người lao động còn thấp kém. - Do tính chất thời vụ, thời tiết khí hậu, do chính sách đầu tư chưa hợp lý, sản phẩm sản xuất ra không tiêu thụ được. Khái niệm thất nghiệp Theo khái niệm của ILO thì thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong độ tuổi lao động muốn có việc làm nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công nhất định.Samuelson – nhà kinh tế học thuộc trường phái hiện đại cho rằng: “Thất nghiệp là những người không có việc làm, nhưng đang chờ để trở lại làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm” [29,27]. Ở nước ta, theo khái niệm của Bộ Lao động thương binh và xã hội: “Người bị coi là thất nghiệp là người đủ 15 tuổi trở lên trong nhóm dân số hoạt động kinh tế, hiện tại đang đi tìm việc làm hay không đi tìm việc làm do không biết tìm việc ở đâu” [11,142].
Như vậy, những người thất nghiệp tất yếu họ phải thuộc lực lượng lao động hay dân số hoạt động kinh tế. Một người bị coi là thất nghiệp phải hội đủ các yếu tố sau đây: - Có khả năng làm việc. - Hiện đang chưa có việc làm. - Đang mong muốn và tìm việc làm.
Với cách hiểu như thế, không phải bất kỳ ai có sức lao động nhưng chưa làm việc đều coi là thất nghiệp. Do đó, một tiêu thức quan trọng để xem xét một người coi là thất nghiệp thì phải biết được người đó có muốn đi làm hay không.