CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP HIỆN ĐẠI 1. Tổng quan các nghiên cứu đã công bố ở trong, ngoài nước có liên quan về mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại 1. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài Nông nghiệp là ngành sản xuất gắn với sinh vật (cây trồng, vật nuôi), bị chi phối bởi quy luật sinh học, các điều kiện ngoại cảnh (đất đai, thời tiết - khí hậu), đồng thời là ngành sản xuất ra sản phẩm thiết yếu để xã hội tồn tại và phát triển. Từ lâu, ngành nông nghiệp đã được các nhà kinh tế quan tâm nghiên cứu và trở thành xuất phát điểm trong nhiều lý thuyết kinh tế.
Tổng quan các nghiên cứu về các giai đoạn và các kiểu phát triển kinh tế, phát triển nông nghiệp - C. Ăngghen trong tác phẩm Tư Bản [96] đã phân tích khoa học và triệt để về chủ nghĩa tư bản với biểu hiện là một hình thái KT-XH. Mác đưa ra quan điểm lịch sử về sự phát triển kinh tế vào việc phân tích các phạm trù, quy luật kinh tế, những tích lũy tư bản cùng với nguyên nhân của nạn thất nghiệp. Tác phẩm bàn sâu về động lực của nền kinh tế tư bản và những mâu thuẫn cơ bản của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, đưa ra học thuyết giá trị - lao động, giá trị thặng dư, đồng thời chỉ ra quy luật vận động tất yếu của lịch sử.
Tác phẩm này đã đề cập đến các lĩnh vực mà đề tài quan tâm như: Hợp tác trong sản xuất; mối quan hệ giữa tiến bộ trong SXNN với thị trường sức lao động; về sự lạc hậu tương đối của nông nghiệp so với công nghiệp.Lênin trong tác phẩm “Bàn về chế độ hợp tác xã” [119] đã chỉ ra ý nghĩa đặc biệt của chế độ HTX trong công cuộc xây dựng CNXH. Chế độ HTX cho phép kết hợp lợi ích cá nhân của người sản xuất nhỏ với lợi ích của xã hội, cho phép nhà nước thực hiện kiểm tra, kiểm soát, làm cho lợi ích tư nhân phục tùng lợi ích xã hội. Lênin đã xem xét chế độ HTX gắn liền với sự phát triển và củng cố nền kinh tế XHCN, ông khẳng định HTX là một biện pháp hết sức quan trọng để giải quyết nhiệm vụ cải tạo XHCN đối với nền nông nghiệp có nhiều thành phần kinh tế. Ti-khô-nốp (1980) trong tác phẩm “Cơ sở kinh tế-xã hội của liên kết nông-công nghiệp” [118] đã nghiên cứu nhiều hình thức cụ thể của liên kết kinh tế.
7 xuất hiện trong lịch sử như phường buôn, phường hội trong xã hội phong kiến; Các- ten, Xanh-đi-ca, Công-xooc-xi-om, Côn-Xớc trong chủ nghĩa tư bản; đặc biệt là nghiên cứu các hình thức liên minh công - nông trong xây dựng kinh tế dưới CNXH trong điều kiện chế độ công hữu về tư liệu sản xuất như: Hợp đồng đặt mua, hiệp tác hoá các xí nghiệp công nghiệp, tổ hợp nông - công nghiệp. Ông cho rằng chỉ có thể liên kết nông nghiệp với công nghiệp khi đã đảm bảo được sự thích ứng hoàn toàn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức xã hội của nó, tức chỉ có thể có trong CNXH. - Học thuyết Keyne, ra đời trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế cuối những năm 29 đầu những năm 30 của thế kỷ XX [114]. Học thuyết vạch rõ vai trò to lớn của thị trường với phát triển kinh tế, từ đó xác định rõ cần phải áp dụng nhiều biện pháp nâng cao nhu cầu tiêu dùng, kích thích “cầu có hiệu quả”, tức là tìm biện pháp mở rộng thị trường trong và ngoài nước.
Ý tưởng này gợi lên suy nghĩ về quá trình HĐH nền nông nghiệp, đồng thời cũng là quá trình phát triển kinh tế hàng hóa, tìm và mở rộng thị trường.Nurkse là người đi tiên phong trong lý thuyết phát triển [114], cho rằng cần đầu tư vốn đồng bộ để phát triển rộng rãi các ngành khác nhau, bởi đây là cách duy nhất để tránh khỏi vòng tròn luẩn quẩn của nghèo đói. Nurkse quan tâm đến vấn đề tăng thu nhập quốc dân bình quân đầu người bằng cách tạo ra những chuyển biến để thoát khỏi nông nghiệp - khu vực thu hút quá nhiều nhân công. Ông cho rằng lao động dư thừa cần phải được chuyển khỏi nông nghiệp, đáp ứng sự hình thành tư bản cho các công trình xây dựng, công xưởng, nhà máy. Tình hình đó sẽ tăng năng lực sản xuất và nhu cầu chung cần thiết cho sản phẩm, có thu nhập cao lâu dài, từ đó đạt được sự cân đối tốt hơn trong nền kinh tế.
Tuy nhiên, với lý thuyết phát triển cân đối làm phân tán các nguồn lực rất có hạn của quốc gia. Chính vì vậy, chỉ sau một thời kỳ tăng trưởng, các nền kinh tế theo đuổi mô hình cơ cấu cân đối đã nhanh chóng rơi vào tình trạng thiểu năng.Bernis trong Lý thuyết phát triển cơ cấu ngành không cân đối [94] cho rằng các nước chậm phát triển không thể và không nhất thiết phải đảm bảo tăng trưởng bền vững bằng cách duy trì cơ cấu cân đối liên ngành, mà cần tập trung tài nguyên, vốn, năng lực quản lý vào những ngành chủ yếu. Trong mỗi giai đoạn phát triển của thời kỳ CNH, vai trò "cực tăng trưởng" của. 8 các ngành trong nền kinh tế là không giống nhau.
Vì thế, cần tập trung các nguồn lực khan hiếm cho một số lĩnh vực trong những thời điểm nhất định với ý nghĩa là những ngành, lĩnh vực đầu tàu lôi kéo toàn bộ nền kinh tế phát triển.Rostow trong Lý thuyết các giai đoạn phát triển kinh tế, còn được gọi là mô hình suy diễn lịch sử [114], đã chia tiến trình kinh tế thành năm giai đoạn: Giai đoạn xã hội truyền thống (nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế), giai đoạn chuẩn bị cất cánh (đã xuất hiện các khu vực kinh tế có tác dụng lôi kéo, thúc đẩy sự phát triển), giai đoạn cất cánh (tỷ lệ đầu tư tăng từ 5 đến 10% tổng sản phẩm quốc dân), giai đoạn hướng tới sự chín muồi kinh tế (tỷ lệ đầu tư cao, xuất hiện nhiều cực tăng trưởng, làm thay đổi CCKT), và giai đoạn kỷ nguyên tiêu dùng cao. Với cách phân chia này các nước đang phát triển hiện nay ở vào giai đoạn 1 đến 3. Xã hội có trình độ phát triển còn thấp thì khu vực nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn về cơ cấu giá trị sản phẩm và cơ cấu lao động. Theo mô hình này, then chốt nhất là giai đoạn “cất cánh”.
Để chuẩn bị điều kiện cất cánh nền kinh tế phải có một hoặc nhiều ngành chủ đạo cho “cất cánh”. Nông nghiệp trong giai đoạn chuẩn bị “cất cánh” có nhiệm vụ như một cuộc cách mạng nông nghiệp nhằm đảm bảo lương thực, thực phẩm cho dân cư. - Peter Timmer tiếp thu và phát triển các lý thuyết của các nhà kinh tế đã công bố về các quá trình phát triển nông nghiệp, phân quá trình phát triển nông nghiệp của một nước thành 4 giai đoạn [116]. Mỗi giai đoạn kèm theo các chính sách thích hợp của chính phủ cần ban hành.
Giai đoạn 1 được đặc trưng bởi năng suất lao động nông nghiệp tăng lên và lao động trong lĩnh vực chuyển sang các lĩnh vực khác một cách chậm chạp. Do vậy, chính sách của chính phủ giai đoạn này là tập trung vào đầu tư đẩy mạnh nghiên cứu khoa học và tạo ra công nghệ mới, đầu tư vào kết cấu hạ tầng nông thôn, tạo ra cơ cấu thị trường và giá cả có lợi cho nông dân nhằm kích thích phát triển sản xuất và áp dụng công nghệ mới. Giai đoạn 2 là giai đoạn nông nghiệp đóng góp cho nền kinh tế, lĩnh vực nông nghiệp nhờ tạo ra sản phẩm dư thừa, sẽ chuyển các nguồn lực tài chính và lao động sang các khu vực khác của nền kinh tế với tốc độ nhanh, chủ yếu đầu tư cho quá trình CNH. Chính sách của chính phủ trong giai đoạn này là tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định cho lĩnh vực nông nghiệp.
9 Giai đoạn 3, lĩnh vực nông nghiệp tham gia mạnh hơn vào quá trình phát triển kinh tế thông qua kết cấu hạ tầng cải thiện, thị trường lao động và thị trường vốn phát triển, thúc đẩy sự liên kết giữa kinh tế nông thôn và thành thị. Lĩnh vực nông nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng nhiều hơn bởi giá cả thay đổi và bởi các vận động vĩ mô trong kinh tế thương mại. Trong giai đoạn này, lao động nông nghiệp sẽ giảm xuống và chuyển tài nguyên cũng như lao động từ nông nghiệp sang các lĩnh vực khác của nền kinh tế sẽ bị chững lại. Chính sách của chính phủ trong giai đoạn này cần thúc đẩy tính hiệu quả trong SXNN, điều tiết thu nhập giữa nông thôn và thành thị.
Giai đoạn 4 được đặc trưng bởi hoạt động SXNN trong nền kinh tế công nghiệp, trong đó lao động nông nghiệp chiếm tỷ lệ thấp và ngân sách chi cho nhu cầu tiêu thụ lương thực và thực phẩm chiếm phần nhỏ trong ngân sách chi tiêu của các gia đình thành thị. Nếu theo mô hình này, theo tôi Việt Nam đang ở đầu giai đoạn phát triển thứ hai và có một số lĩnh vực có sự gối đầu sang giai đoạn thứ ba.North trong công trình “Áp dụng lý thuyết kinh tế và phương pháp định lượng trong giải thích các thay đổi về kinh tế và tổ chức” đoạt giải Nobel năm 1993 [97] đã chia quá trình phát triển của mỗi nền kinh tế thành 4 thời kỳ tùy theo chi phí thông tin và cưỡng chế thực hiện hợp đồng của mỗi thời kỳ: thời kỳ tự cung, tự cấp trong quy mô nông nghiệp làng xã; thời kỳ SXHH nhỏ, quan hệ sản xuất, kinh doanh vươn ra ngoài phạm vi làng xã, tới mức vùng; thời kỳ SXHH quy mô trung bình và thời kì SXHH với quy mô lớn.Von Thunen trong "Lý thuyết vành đai giữa trung tâm và ngoại vi" [109] bàn về tổ chức lãnh thổ SXNN, vào đầu những năm 1800, đã đề xuất. Thunen trên các kết quả tính toán của mình kết luận về vai trò của thành phố đối với sự phát triển nông nghiệp. Theo ông, xung quanh một thành phố trung tâm (với giả thiết là hoàn toàn cô lập với các trung tâm khác) có thể tồn tại và phát triển 5 vành đai sản xuất chuyên môn hóa nông nghiệp (theo nghĩa rộng) liên tục từ trong ra ngoài, gồm: vành đai 1- thực phẩm tươi sống; vành đai 2- lương thực, thực phẩm; vành đai 3- cây ăn quả; vành đai 4- lương thực và chăn nuôi; vành đai 5- vành đai lâm nghiệp.