TRÍCH YẾU LUẬN ÁN Tên tác giả: Trần Thị Diên Tên luận án: Giải pháp phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa ở tỉnh Tuyên Quang Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp Mã số: 9.15 Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích các yếu tố ảnh hƣởng, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa ở tỉnh Tuyên Quang. Phƣơng pháp nghiên cứu Nghiên cứu áp dụng các phƣơng pháp tiếp cận bao gồm: Tiếp cận có sự tham gia; Tiếp cận thể chế; Tiếp cận theo quy mô sản xuất; Tiếp cận theo quan điểm phát triển; Tiếp cận theo chuỗi giá trị sản phẩm. Nghiên cứu sử dụng các phƣơng pháp thu thập thông tin nhƣ khảo sát bằng bảng hỏi, thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu các tác nhân liên quan đến sản xuất và tiêu thụ cam của tỉnh. Nghiên cứu tiến hành điều tra tổng số 330 phiếu khảo sát, bao gồm: 150 hộ sản xuất cam; 30 cơ sở cung cấp vật tƣ cho sản xuất cam; 45 cơ sở thu mua, tiêu thụ cam; 15 cán bộ địa phƣơng và nhà khoa học; 90 ngƣời tiêu dùng cam.
Các phƣơng pháp phân tích đƣợc sử dụng bao gồm: Phƣơng pháp thống kê; Phƣơng pháp hạch toán kinh tế; Phƣơng pháp phân tích hồi quy đa biến; Phƣơng pháp phân tích SWOT. Các số liệu đƣợc nhập và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel, phân tích mô hình kinh tế lƣợng hồi quy đa biến bằng phần mềm SPSS 22. Kết quả chính và kết luận Luận án hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa, đƣa ra đƣợc khung lý thuyết, làm rõ nội dung cơ bản của phạm trù phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa làm cơ sở nghiên cứu thúc đẩy phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa ở tỉnh Tuyên Quang. Phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa ở tỉnh Tuyên Quang tăng trƣởng nhanh chóng cả về diện tích, năng suất, sản lƣợng, giá trị sản xuất hàng hóa qua các năm.
Đã có những chính sách quy hoạch và hỗ trợ của Nhà nƣớc đối với sản xuất và tiêu thụ cam của tỉnh, nhƣng quá trình phát triển vùng sản xuất cam hàng hóa còn gặp xi nhiều khó khăn, thách thức nhƣ: Các chính sách chƣa đồng bộ và hiệu quả; Công tác quy hoạch chƣa chặt chẽ và ổn định, tình trạng diện tích cam ngoài vùng quy hoạch không ngừng gia tăng; Cơ sở hạ tầng và cung ứng vật tƣ chƣa đáp ứng yêu cầu sản xuất; Chất lƣợng cây cam giống còn kém; Trang thiết bị, dụng cụ dùng cho sản xuất còn thô sơ; Việc chăm sóc cây cam, phòng trừ sâu bệnh hại chƣa đúng quy trình và chƣa đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững; Chƣa có nhà máy bảo quản và chế biến cam; Chất lƣợng nguồn nhân lực tham gia phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa còn thấp; Liên kết trong sản xuất và tiêu thụ cam còn đơn giản và chƣa phát triển; Cam đã có thƣơng hiệu nhƣng thị trƣờng tiêu thụ còn khó khăn; Sản xuất cam đạt hiệu quả kinh tế cao và gia tăng với tốc độ nhanh nhƣng còn nhiều rủi ro, bất ổn. Nghiên cứu đã xác định và phân tích ảnh hƣởng của các nhóm yếu tố: Nhóm yếu tố nguồn lực phục vụ sản xuất nhƣ điều kiện tự nhiên, điều kiện sản xuất của hộ trồng cam, trình độ, kinh nghiệm của chủ hộ, quy mô sản xuất, nguồn vốn đầu tƣ; Nhóm yếu tố thuộc quy trình, kỹ thuật sản xuất cam hàng hóa nhƣ kỹ thuật chăm sóc vƣờn cam, mô hình sản xuất cam theo tiêu chuẩn VietGAP, phòng trừ sâu bệnh hại; Nhóm yếu tố thuộc về tổ chức và liên kết nhƣ quy hoạch vùng sản xuất cam hàng hóa, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm; Nhóm yếu tố thuộc về thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm nhƣ thời điểm tiêu thụ cam, phƣơng thức tiêu thụ và cầu của ngƣời tiêu dùng. Ngoài ra, mô hình kinh tế lƣợng cũng chỉ ra một số yếu tố có ảnh hƣởng tích cực, nếu gia tăng các yếu tố này sẽ làm tăng doanh thu bán cam hàng hóa của hộ trồng cam nhƣ: kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, số lần tập huấn, chính sách quy hoạch, vốn vay, mô hình sản xuất cam VietGAP, chi phí sản xuất và phƣơng thức tiêu thụ sản phẩm. Dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm phát triển sản xuất cam theo hƣớng hàng hóa ở tỉnh Tuyên Quang, bao gồm: (i) Hoàn thiện một số cơ chế chính sách và quy hoạch; (ii) Phát triển cơ sở hạ tầng và hệ thống cung ứng vật tƣ cho vùng sản xuất; (iii) Đẩy mạnh áp dụng các tiến bộ kỹ thuật; (iv) Tăng cƣờng liên kết, phát triển chuỗi giá trị sản phẩm; (v) Phát triển nguồn nhân lực tham gia sản xuất và tiêu thụ cam; (vi) Đẩy mạnh đầu tƣ cho thu hoạch, bảo quản, chế biến cam; (vii) Giữ vững thƣơng hiệu “ Cam sành Hàm Yên” và mở rộng thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm; (viii) Nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất cam hàng hóa của hộ.
xii THESIS ABSTRACT PhD candidate: Tran Thi Dien Thesis title: The solutions for development of orange production as commodity orientation in Tuyen Quang province. Major: Agricultural Economics Code: 9.15 Educational organization:Vietnam National University of Agriculture Research objectives To evaluate the current situation of orange production, analyze the factors affecting to this production situation and to propose some major solutions for development of orange production ascommodity orientation in Tuyen Quang province. Materials and Methods Approach method: (i) Participatory approach; (ii) Institutional approach; (iii) Scale-based approach; (iv) Development based approach; (v) Value chain based approach. Primary data was collected through household survey, group discussions, in- depth interviews with the stakeholders regarding the production and consumption of orange at the provincal, district, and commune level.
They are planters (150); Input providers (30); Collectors (45); Local officials, scientists (15); Final consumers (90). Method of data analysis: Collected data was processed by using Microsoft Excel and SPSS 22. Data analysis: (i) Statistical methods; (ii) Economic accounting method; (iii) Multivariate regression analysis; and (iv) SWOT analysis. Main findings and conclusions The thesis has systematized and improved theoretical issues of development of orange production as commodity orientation.
The study has proposed a theoretical framework and clarified the basic content of development of orange production as commodity orientation as well. These contributions are basis theories for promoting orange production as commodity orientation in Tuyen Quang province. The development of orange production as commodity orientation in Tuyen Quang province has grown rapidly in terms of area, productivity, output and gross output over the years. Even though there have been policies of government regarding planning and support for the production and marketing, the development of orange xiii cultivation area has faced many difficulties and challenges: (i) The implemented policies have not been synchronous and ineffective; (ii) Planning task is not close and unstable; (iii) The area of orange farming outside the planned area is constantly increasing; (iv) Infrastructure and input supply have not met production requirements; (v) The quality of orange seedlings is still poor; (vi) Equipments used for production are still rudimentary; (vii) The pest control is not in accordance with technical process and does not meet the requirements of sustainable development; (viii)There is no activity to preserve and process oranges; (ix)The quality of labors involved in orange production is still low; (x) The linkages in production and marketing of oranges are simple and undeveloped; (xi) Although the orange fruits have a good brand, it is difficult to sell products; (xii) There are many risks and uncertainties in orange production.
There is a range of factors affecting the development of orange production in Tuyen Quang province, including: (i) Natural condition; (ii) Demographic characteristics of household head (education, experience, age); (iii) Production scale; (iv) Financial captital; (v) Technical factors (VietGAP, pest control, harvesting time); (vi) Linkage in production and consumption; (vii) Market and consumption. In addition, econometric models also show some positive influences such as production experience of grower, training times, planning policies, loans, VietGAP models, cost, output price, and product consumption forms. If these factors increase, the total value of orange producers will increase. Based on the research findings, the thesis proposed solutions for development of orange production as commodity orientation in Tuyen Quang province as follows: (i) Completing a number of policy mechanisms and planning; (ii) Developing infrastructure and input supply system for orange production; (iii) Promoting applying technical advances in production and consumption; (iv) Strengthening linkages among stakeholders in the product value chain; (v) Developing human resources involved in the oranges production and marketing; (vi) Improving investment for orange harvesting, preserving, and processing; (vii) Maintaining the brand of “Ham Yen Orange” and expanding the consumption market; (viii) Improving the economic efficiency of orange growers.
TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Đối với mỗi quốc gia, sản xuất hàng hoá luôn giữ vị trí quan trọng, vì vậy giải pháp phát triển sản xuất hàng hóa luôn là mối quan tâm của mọi quốc gia, lãnh thổ, ngành sản xuất. Trong khi lý luận về phát triển sản xuất đƣợc đề cập khá rộng rãi trong các nghiên cứu kinh tế nhƣ FAO (1990), Gunnar (1989), Dudley (1997), Patrick et al., (2011), Tomislav (2018), lý luận về giải pháp phát triển sản xuất một ngành nông nghiệp cụ thể theo hƣớng hàng hóa còn thiếu vắng. Các nghiên cứu về phát triển sản xuất thƣờng đƣợc tiếp cận theo hƣớng gia tăng về số lƣợng và chất lƣợng sản phẩm, rất ít nghiên cứu lý luận tiếp cận giải pháp phát triển sản xuất theo hƣớng hàng hóa cho một nông sản cụ thể. Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp có xuất phát điểm thấp với 64,9 % dân số sống ở nông thôn và 43,3 % lao động nông nghiệp (Tổng cục Thống kê, 2017), nhƣng có những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội cho phép nƣớc ta phát triển một nền nông nghiệp nhiệt đới, nền nông nghiệp hiện đại sản xuất hàng hóa.
Trong những năm qua, Việt Nam cũng đã có những định hƣớng và giải pháp phát triển nền sản xuất nông nghiệp theo hƣớng hàng hóa nhằm tạo ra nhiều nông sản có giá trị đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nƣớc và xuất khẩu trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Văn kiện Đại hội XII của Đảng ta đã chỉ ra phƣơng hƣớng, nhiệm vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn là xây dựng nền nông nghiệp theo hƣớng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lƣợng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, đẩy mạnh xuất khẩu, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để sản phẩm nông nghiệp Việt Nam có đủ sức cạnh tranh trên thị trƣờng khu vực và quốc tế (Văn phòng TW Đảng, 2016).