Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số vấn đề về hiệu quả kinh tế và cơ sở sản xuất 1. Các khái niệm * Hiệu quả kinh tế HQKT là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu trong một thời kỳ nhất định. Các hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của cả nền kinh tế quốc dân mang lại kết quả được tính bằng khối lượng sản phẩm hàng hoá, giá trị sản lượng hàng hoá, doanh thu bán hàng,… Nhưng kết quả này chỉ phản ánh quy mô hoạt động kinh tế mà chưa phản ánh được trình độ tổ chức sản xuất của một đơn vị hoặc một nền kinh tế, chưa trả lời được các câu hỏi như: được tạo ra bằng cách nào? Bằng phương tiện gì? Chi phí bằng bao nhiêu? Để giải quyết được vấn đề này, kết quả của quá trình sản xuất phải được đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và nguồn lực khác.
Trong điều kiện giới hạn nguồn lực, phải tạo ra kết quả sản xuất cao, tạo ra được nhiều sản phẩm hàng hoá cho xã hội. Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo C.Mác thì đây là cơ sở để phân biệt trình độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác. HQKT chính là yếu tố thể hiện được điều này (Phạm Thị Thanh Xuân, 2015). Việc nâng cao HQKT được hiểu là nâng cao các chỉ tiêu đo lường và mức độ đạt được các mục tiêu định tính theo hướng tích cực * Cơ sở sản xuất CSSX, kinh doanh là doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ gia đình và các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Một cơ sở kinh doanh là một tổng thể các nhân tố hữu hình và vô hình thuộc sở hữu của nhà kinh doanh đem vào để kinh doanh. Quan điểm về Hiệu quả kinh tế Luan van 6 HQKT là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu và phát triển kinh tế. HQKT được xem xét dưới nhiều góc độ và quan điểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm kinh tế truyền thống và quan điểm kinh tế tân cổ điển cùng tồn tại. - Quan điểm truyền thống: quan điểm này cho rằng HQKT là phần còn lại của sản xuất kinh doanh sau khi đã trừ đi chi phí.
Nó được đo bằng các chỉ tiêu lời lãi. Nhiều tác giả cho rằng, HQKT được xem như là tỉ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra, hay ngược lại chi phí trên một đơn vị sản phẩm hay giá trị sản phẩm. Những chỉ tiêu hiệu quả này thường là mức sinh lời của đồng vốn. Nó chỉ được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh.
Các quan điểm truyền thống trên khi xem xét HQKT đã coi quá trình sản xuất kinh doanh trong trạng thái tĩnh, xem xét hiệu quả sau khi đã đầu tư. Trong khi đó, hiệu quả là chỉ tiêu quan trọng không những cho phép ta xem xét kết quả đầu tư mà còn giúp chúng ta quyết định nên đầu tư cho sản xuất bao nhiêu, đến mức độ nào. Trên phương diện này, quan điểm truyền thống chưa đáp ứng được đầy đủ. Mặt khác, quan điểm truyền thống không tính đến yếu tố thời gian khi tính toán thu chi cho một hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó, thu và chi trong tính toán HQKT thường chưa tính đủ và chính xác. Ngoài ra, các hoạt động đầu tư và phát triển lại có những tác động không những đơn thuần về mặt kinh tế mà còn cả xã hội và môi trường, có những phần thu và những khoản chi khó lượng hóa thì không thể phản ánh được trong cách tính này (Phạm Thị Thanh Xuân, 2015). - Xét HQKT trong trạng thái tĩnh HQKT được xác định bằng tỷ số giữa các kết quả đạt được và chi phí phải bỏ ra để có được kết quả đó, bao gồm nhân lực và vật lực. Q Công thức: H = C Trong đó: H: HQKT Q: Kết quả đạt được C: Chi phí bỏ ra Theo Culicop, HQKT là kết quả của một nền sản xuất nhất định, tức là đem so sánh kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.
Ta lấy tổng giá trị sản phẩm Luan van 7 chia cho vốn sản xuất ta được hiệu suất vốn, tổng giá trị sản phẩm chia cho vốn vật tư ta được hiệu suất vật tư, tổng giá trị sản lượng chia cho chi phí, ta được hiệu suất chi phí… Ưu điểm: Chỉ tiêu này chỉ rõ các mức độ, hiệu quả của việc sử dụng các nguồn lực sản xuất khác nhau giúp ta so sánh được kết quả đạt được với chi phí bỏ ra một cách dễ dàng, so sánh HQKT giữa các quy mô khác nhau. Nhược điểm: Chỉ tiêu này không thể hiện được quy mô của HQKT nói chung. Tại Việt Nam, một số tác giả cho rằng HQKT là so sánh kết quả cả chi phí sản xuất, đây là chỉ tiêu tổng hợp nhất của hoạt động sản xuất kinh doanh. - Quan điểm của các nhà tân cổ điển về HQKT: Theo các nhà kinh tế tân cổ điển như Luyn Squire, Herman Gvander Tack.
thì HQKT phải được xem xét trong trạng thái động của mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra. Thời gian là nhân tố quan trọng trong tính toán HQKT, dùng chỉ tiêu HQKT để xem xét trong việc đề ra các quyết định cả trước và sau khi đầu tư sản xuất kinh doanh. HQKT không chỉ bao gồm hiệu quả tài chính đơn thuần mà còn bao gồm cả hiệu quả xã hội và môi trường. Chính vì thế nên khái niệm về thu và chi trong quan điểm tân cổ điển được gọi là lợi ích và chi phí.
Xem xét HQKT trong trạng thái động, tức là phần biến động giữa chi phí và kết quả của hoạt động sản xuất kinh doanh. Theo quan điểm này, HQKT biểu hiện tỉ lệ phần tăng thêm của chi phí và phần tăng thêm của kết quả đạt được khi chi phí tăng thêm hoặc là tỷ lệ của kết quả bổ sung do chi phí bổ sung tăng thêm. ∆Q Công thức: H = ∆C Trong đó: H: HQKT ∆Q: Phần tăng thêm của kết quả sản xuất ∆C: Phần tăng thêm của chi phí sản xuất Cách đánh giá này thường được sử dụng khi xem xét HQKT của đầu tư theo chiều sâu hoặc trong vấn đề áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tức là nghiên cứu HQKT của chi phí đầu tư tăng thêm. Tuy nhiên, nó có hạn chế là không xem xét tới HQKT của tổng chi phí đã bỏ ra.
Luan van 8 - Xét theo mối quan hề động giữa đầu vào và đầu ra, một số tác giả đã phân biệt rõ ba phạm trù: hiệu quả kỹ thuật, hiệu quả phân bổ các nguồn lực và HQKT. Hiệu quả kỹ thuật: Là số sản phẩm thu thêm trên một đơn vị đầu vào đầu tư thêm. Nó được đo bằng tỷ số giữa số lượng sản phẩm tăng thêm trên chi phí tăng thêm. Tỷ số này gọi là sản phẩm biên.
Nó chỉ ra rằng một đơn vị nguồn lực dùng vào sản xuất đem lại bao nhiêu đơn vị sản phẩm. Hiệu quả kỹ thuật của việc sử dụng các nguồn lực được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đầu vào và đầu ra, giữa các đầu vào với nhau và giữa các sản phẩm khi nông dân quyết định sản xuất (Phạm Thị Thanh Xuân, 2015). Hiệu quả phân bổ: là giá trị sản phẩm thu thêm trên một đơn vị chi phí đầu tư thêm. Nó là hiệu quả kỹ thuật nhân với giá sản phẩm và giá đầu vào.
Nó đạt tối đa khi doanh thu biên bằng chi phí biên. HQKT: là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt cả hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ. Điều này có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt một trong hai yếu tố hiệu quả kỹ thuật hay hiệu quả phân bổ mới là điều kiện cần chứ chưa phải là điều kiện đủ cho đạt HQKT.
Chỉ khi nào việc sử dụng các nguồn lực đạt cả hai chỉ tiêu hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả phân bổ khi đó sản xuất mới đạt được HQKT. - Xét theo yếu tố thời gian trong hiệu quả: các học giả kinh tế tân cổ điển đã coi thời gian là yếu tố trong tính toán hiệu quả, cùng đầu tư sản xuất kinh doanh với một lượng vốn như nhau và cùng có tổng doanh thu bằng nhau nhưng có thể có hiệu quả khác nhau, bởi thời gian bỏ vốn đầu tư khác nhau thì thời gian thu hồi vốn khác nhau. Tuy nhiên để hiểu rõ thế nào là HQKT, cần phải tránh những sai lầm như đồng nhất giữa kết quả và HQKT; đồng nhất giữa HQKT với các chỉ tiêu đo lường HQKT hoặc quan niệm cũ về HQKT đã lạc hậu không phù hợp với hoạt động kinh tế theo cơ chế thị trường: Thứ nhất, kết quả kinh tế và HQKT là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. HQKT là phạm trù so sánh thể hiện mối tương quan giữa chi phí bỏ ra và kết quả thu được.
Còn kết quả kinh tế chỉ là một yếu tố trong việc xác định hiệu quả mà thôi. Hoạt động sản xuất kinh doanh của từng tổ chức cũng như của nền kinh tế quốc dân Luan van 9 mang lại kết quả là tạo ra khối lượng sản phẩm hàng hóa, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu bán hàng. Nhưng kết quả này chưa nói lên được nó tạo ra bằng cách nào? Bằng phương tiện gì? Chi phí là bao nhiêu? Và như vậy nó không phản ánh được trình độ sản xuất của tổ chức sản xuất hoặc trình độ của nền kinh tế quốc dân. Kết quả của quá trình sản xuất phải đặt trong mối quan hệ so sánh với chi phí và các nguồn lực khác.
Với nguồn lực có hạn, phải tạo ra kết quả sản xuất cao và nhiều sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Chính điều này thể hiện trình độ sản xuất trong nền kinh tế quốc dân mà theo Mác thì đây là cơ sở để phân biện trình độ văn minh của nền sản xuất này so với nền sản xuất khác. Thứ hai, cần phân biệt giữa HQKT với các chỉ tiêu đo lường HQKT, HQKT vừa là phạm trù trừu tượng vừa là phạm trù cụ thể. - Là phạm trù trừu tượng vì nó phản ánh trình độ, năng lực sản xuất kinh doanh của tổ chức sản xuất hoặc của nền kinh tế quốc dân.