Luận án tiến sĩ về tín dụng ngân hàng thương mại đối với nông nghiệp công nghệ cao tại tỉnh Lâm Đồng

Luận án tiến sĩ phân tích tín dụng ngân hàng thương mại cho nông nghiệp công nghệ cao tại Lâm Đồng, đề xuất giải pháp phát triển bền vững.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

296
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan nghiên cứu

Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNCNC) tại tỉnh Lâm Đồng đang trở thành một lĩnh vực quan trọng trong phát triển kinh tế địa phương. Tín dụng ngân hàng thương mại (NHTM) đóng vai trò thiết yếu trong việc cung cấp vốn cho các hoạt động sản xuất NNCNC. Tuy nhiên, thực trạng tín dụng ngân hàng cho lĩnh vực này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu. Luận án này nhằm phân tích và đánh giá thực trạng cho vay nông nghiệp công nghệ cao, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển tín dụng ngân hàng thương mại cho NNCNC tại Lâm Đồng.

1.1. Bối cảnh nghiên cứu

Lâm Đồng có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển NNCNC. Tuy nhiên, dòng vốn từ các ngân hàng thương mại cho lĩnh vực này còn hạn chế. Nghiên cứu chỉ ra rằng, mặc dù có nhiều tiềm năng, nhưng việc cho vay nông nghiệp công nghệ cao gặp nhiều khó khăn như quy trình phức tạp, định giá tài sản thế chấp thấp và thời gian giải ngân chậm. Những vấn đề này cần được giải quyết để thúc đẩy sự phát triển của NNCNC tại địa phương.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu của nghiên cứu là phân tích thực trạng tín dụng ngân hàng thương mại đối với NNCNC tại Lâm Đồng, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình. Nghiên cứu sẽ tập trung vào việc đánh giá nhu cầu vốn của các hộ sản xuất NNCNC và khả năng tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các tổ chức tín dụng trong việc phát triển tín dụng nông nghiệp.

II. Cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu về tín dụng ngân hàng thương mại cho NNCNC cần dựa trên các lý thuyết về hành vi và các khung lý thuyết liên quan. Lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB) và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) sẽ được áp dụng để phân tích ý định cấp tín dụng của nhân viên ngân hàng. Các yếu tố như cảm nhận rủi ro và sự mong đợi cũng sẽ được xem xét để hiểu rõ hơn về hành vi cấp tín dụng cho NNCNC.

2.1. Lý thuyết hành vi có hoạch định TPB

Lý thuyết TPB cho rằng hành vi của cá nhân được quyết định bởi ý định, mà ý định lại bị ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và cảm nhận kiểm soát hành vi. Trong bối cảnh tín dụng ngân hàng, các nhân viên tín dụng sẽ có ý định cấp vốn dựa trên những yếu tố này. Nghiên cứu sẽ áp dụng TPB để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cấp tín dụng cho NNCNC.

2.2. Mô hình chấp nhận công nghệ TAM

Mô hình TAM được sử dụng để đánh giá sự chấp nhận của nhân viên ngân hàng đối với việc cấp tín dụng cho NNCNC. Mô hình này cho rằng sự chấp nhận công nghệ phụ thuộc vào hai yếu tố chính: sự hữu ích và tính dễ sử dụng. Nghiên cứu sẽ khảo sát mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến ý định cấp tín dụng cho sản xuất NNCNC, từ đó đưa ra các khuyến nghị phù hợp.

III. Thực trạng tín dụng ngân hàng thương mại tại Lâm Đồng

Thực trạng tín dụng ngân hàng thương mại cho NNCNC tại Lâm Đồng cho thấy nhiều vấn đề cần được giải quyết. Dữ liệu khảo sát cho thấy, mặc dù nhu cầu vốn cho sản xuất NNCNC cao, nhưng tỷ lệ cho vay từ các ngân hàng thương mại vẫn còn thấp. Các yếu tố như quy trình vay vốn phức tạp, thời gian giải ngân chậm và thiếu hình thức thế chấp tài sản đã cản trở việc tiếp cận vốn của các hộ sản xuất.

3.1. Nhu cầu vốn tín dụng trong sản xuất NNCNC

Nhu cầu vốn cho sản xuất NNCNC tại Lâm Đồng đang gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh thị trường nông sản ngày càng cạnh tranh. Các hộ sản xuất cần nguồn vốn để đầu tư vào công nghệ mới, cải tiến quy trình sản xuất và mở rộng quy mô. Tuy nhiên, việc tiếp cận vốn từ các ngân hàng thương mại vẫn gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng thiếu hụt vốn cho sản xuất.

3.2. Khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng

Khó khăn trong việc tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng thương mại chủ yếu đến từ quy trình vay vốn phức tạp và yêu cầu tài sản thế chấp cao. Nhiều hộ sản xuất không đủ khả năng cung cấp tài sản thế chấp, dẫn đến việc không thể vay vốn. Thời gian giải ngân cũng là một vấn đề lớn, khi mà nhiều hộ sản xuất cần vốn ngay lập tức để kịp thời vụ sản xuất.

IV. Giải pháp phát triển tín dụng ngân hàng thương mại

Để phát triển tín dụng ngân hàng thương mại cho NNCNC tại Lâm Đồng, cần có các giải pháp đồng bộ từ phía các ngân hàng và chính quyền địa phương. Các ngân hàng cần đơn giản hóa quy trình vay vốn, cải thiện thời gian giải ngân và đa dạng hóa hình thức thế chấp. Đồng thời, chính quyền cần hỗ trợ các hộ sản xuất trong việc nâng cao năng lực tài chính và quản lý sản xuất.

4.1. Đề xuất giải pháp cho các ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại cần cải thiện quy trình cấp tín dụng bằng cách đơn giản hóa thủ tục và giảm thiểu yêu cầu tài sản thế chấp. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong quản lý tín dụng cũng sẽ giúp tăng cường hiệu quả và giảm thời gian xử lý hồ sơ vay vốn. Ngoài ra, ngân hàng cũng nên tổ chức các chương trình đào tạo cho nhân viên về NNCNC để nâng cao nhận thức và khả năng đánh giá dự án.

4.2. Khuyến nghị với chính quyền địa phương

Chính quyền địa phương cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho NNCNC, bao gồm việc cung cấp thông tin về các chương trình tín dụng, hỗ trợ đào tạo cho nông dân và khuyến khích các ngân hàng tham gia vào lĩnh vực này. Việc xây dựng các mô hình hợp tác giữa ngân hàng và nông dân cũng sẽ giúp tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho sản xuất NNCNC.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Lý do chọn đề tài 1. Bối cảnh nghiên cứu Nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (NNCNC) là một bước tiến trong sản xuất nông nghiệp, là một trong những giải pháp nhằm thực hiện các mục tiêu tái cơ cấu ngành nông nghiệp đã được Chính phủ phê duyệt. Thông qua sản xuất NNCNC, các sản phẩm có giá trị kinh tế cao, chất lượng tốt đã được tạo ra.

Qua đó gia tăng thu nhập, năng lực cạnh tranh cho người sản xuất và kinh tế của địa phương. Lâm Đồng là tỉnh có khí hậu và đất đai rất thuận lợi để phát triển NNCNC, đặc biệt là các loại nông sản cao cấp có nguồn gốc ôn đới và á nhiệt đới. Tính đến cuối năm 2018, tổng diện tích sản xuất NNCNC tại tỉnh Lâm Đồng là 54.477 ha (chiếm 19,5% diện tích đất canh tác nông nghiệp toàn tỉnh); trong đó diện tích sản xuất rau là 18.968 ha, hoa là 3.623,8 ha, cây đặc sản là 158,7 ha, chè là 6.335 ha, cà phê là 19.884,9 ha, ngoài ra có 2.829,5 ha lúa cho năng suất cao1. Chương trình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đã được Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng xác định là một trong 6 chương trình trọng tâm để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện từ năm 2004.

Từ đó đến nay, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy ngành nông nghiệp phát triển theo hướng ứng dụng công nghệ cao (Quyết định số 56/2004/QĐ-UB phê duyệt Chương trình phát triển NNCNC giai đoạn 2004-2010; Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 11/5/2011 về đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 1691/QĐ-UBND thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU; Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 11/11/2016 của Tỉnh ủy Lâm Đồng về phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững và hiện đại giai đoạn 2016 - 2020 và định hướng đến năm 2025; Quyết định số 756/QĐ-UBND ngày 19/4/2017 của UBND tỉnh về kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 11/11/2016 của Tỉnh ủy Lâm Đồng). Với những lợi thế và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, Lâm Đồng nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng đang phát huy những lợi thế so sánh để phát triển sản xuất rau, hoa theo hướng công nghệ cao thành từng vùng tập trung, qua đó nâng cao năng suất và giá trị sản phẩm thu hoạch vừa thân thiện với môi trường. Theo đánh giá của Sở Nông nghiệp 1 UBND tỉnh Lâm Đồng (2018), Báo cáo số 237/BC-UBND ngày 27/11/2018 về tình hình thực hiện kế hoạch kinh tế xã hội năm 2018; nhiệm vụ, giải pháp năm 2019 luan an 2 và phát triển nông thôn tỉnh Lâm Đồng thì hiện toàn tỉnh có 11.000 ha đạt doanh thu hơn 500 triệu đồng/ha/năm. Trong đó có hơn 700 ha đạt doanh thu từ 01 (một) đến 03 (ba) tỷ đồng, cá biệt có một số diện tích trồng rau, hoa chất lượng cao đạt doanh thu hơn 03 (ba) tỷ đồng/ha/năm.

Sản xuất NNCNC đòi hỏi nguồn vốn đầu tư rất lớn, qua khảo sát sơ bộ thực trạng đầu tư của một số doanh nghiệp sản xuất rau hoa, để đạt mức doanh thu trồng rau, hoa NNCNC hơn 03 tỷ đồng/ha/năm, ngoài các yếu tố đầu vào của sản xuất, vốn lưu động v.v, mỗi ha đất sản xuất cần đầu tư hệ thống nhà kính, hệ thống tưới tiêu, máy móc thiết bị từ 2,2 tỷ đồng đến 2,5 tỷ đồng. Thống kê từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Lâm Đồng cho thấy, giai đoạn từ năm 2012 đến 2018, các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng chỉ cho vay được 1.021 tỷ đồng để phát triển NNCNC. Số vốn này mới đáp ứng được khoảng 20% nhu cầu vốn tín dụng cho sản xuất NNCNC của cả giai đoạn (4. Mặc dù là tỉnh có nhiều ưu thế để phát triển NNCNC và việc phát triển NNCNC đang được Tỉnh ủy và UBND tỉnh rất quan tâm, đưa vào chương trình trọng tâm, trọng điểm để phát triển trong từng giai đoạn; bên cạnh đó, Chính phủ cũng đã ban hành một loạt các chính sách về tín dụng để hỗ trợ sản xuất NNCNC (Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 7/3/2017 của Chính phủ; Nghị định 210/2013/NĐ-CP về chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định 55/2015/NĐ-CP về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015/NĐ-CP.), tuy nhiên, lượng vốn tín dụng từ các NHTM chảy vào khu vực này trong thời gian qua còn rất hạn chế.

Theo Boucher et al (2007), nguồn vốn tín dụng ngân hàng do các NHTM cung ứng đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tăng năng suất nông nghiệp thông qua việc đầu tư vào tư liệu sản xuất. Trong khi đó, Diagne et al (2000) lại cho rằng vốn tín dụng cũng cho phép các hộ nông dân đầu tư vào cải tiến kỹ thuật và áp dụng công nghệ mới trong nông nghiệp như đầu tư vào hạt giống cho năng suất cao, đầu tư mua phân bón làm tăng hiệu quả sản xuất và nâng cao thu nhập của họ. Vì vậy, vốn tín dụng NHTM đóng vai trò quan trọng đối với phát triển sản xuất nông nghiệp nông thôn, đặc biệt trong lĩnh vực NNCNC. Như vậy, việc phát hiện các khó khăn, điểm nghẽn trong hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng cho sản xuất NNCNC là rất bức thiết, góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng để phát triển NNCNC.

Tổng quan nghiên cứu liên quan và khoảng trống khoa học Trong những năm qua, đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước về tín dụng NHTM và tín dụng NHTM trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn. Các tác giả trước đây đã phần nào khắc họa những nội dung quan trọng liên quan đến hoạt động tín dụng của các NHTM, trong đó có nhiều xu hướng tiếp cận khác nhau, cụ thể như sau: 1. Các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu thực nghiệm củaWaqar Akram, Zakir Hussain, MH Sial và Ijaz Hussain (2008), về hạn chế tín dụng nông nghiệp và hành vi vay của nông dân ở nông thôn Punjab, Pakistan. Nhóm tác giả này đã sử dụng Mô hình hồi quy Logit để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc hạn chế tín dụng nông nghiệp và hành vi vay mượn của trang trại ở nông thôn Punjab.

Kết quả chỉ ra rằng có 8 lý do quan trọng từ những người được phỏng vấn cho việc không đăng ký vay từ một tổ chức, thể chế; trong đó có 5 lý do từ phía nông trại đó là (1) không cần vay, (2) các khoản phí không chính thức, (3) tài sản thế chấp không đầy đủ, (4) đã có đủ nguồn và (5) không muốn trả lãi vay; có 3 lý do từ phía cung tín dụng đó là (1) thủ tục rườm rà, (2) người cho vay ở quá xa và (3) thủ tục đắt tiền (expensive Procedur es). Nghiên cứu đã sử dụng một bảng câu hỏi với các nội dung có liên quan đến tiếp cận tín dụng nông nghiệp như: Tài sản thế chấp cho khoản vay nông nghiệp; mục đích của khoản vay; tổ chức tín dụng chính thức; lãi suất và phản ứng của nông dân; thời gian giải ngân khoản vay; khoảng cách của ngân hàng; nhu cầu vay và lãi suất. Kết quả ước lượng mô hình Logit cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận tín dụng nông nghiệp của hộ gia đình phụ thuộc vào: (1) Giá trị đất, (2) giá trị tài sản của trang trại triển khai, (3) kinh nghiệm của chủ trang trại, (4) tỷ lệ phụ thuộc, (5) hoạt động của tổ chức, (6) trình độ của tổ chức và (7) tiết kiệm của hộ gia đình. Nghiên cứu thực nghiệm của Rabah (2015) về các yếu tố ảnh hưởng đến tín dụng ngân hàng tại các Ngân hàng thương mại Jordan.

Dựa trên các nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay của ngân hàng đặc biệt là Imran và Nishatm (2013) Sharma và Gounder (2012), Olokoyo (2011) và Guo và Stepanyan (2011), Rabah đã sử dụng các phương pháp thống kê mô tả, thống kê Durbin-Watson, thống kê F để kiểm định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay của các ngân hàng thương mại ở Jordan. Biến phụ thuộc trong nghiên cứu là tỷ lệ cấp tín dụng trên tổng tài sản, các biến độc lập gồm: (1) Tỷ lệ tiền gửi; (2) tỷ lệ nợ xấu;(3) tỷ lệ vốn; (4) tỷ lệ thanh khoản; (5) quy mô tài sản;(6) lãi suất cho vay; (7) lãi suất tiền gửi; (8) lãi suất cửa sổ; (9) dự trữ pháp lý; (10) tỷ lệ luan an 4 lạm phát và (11) tốc độ tăng trưởng kinh tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ thanh khoản và lãi suất cửa sổ có tỷ lệ âm và tác động đáng kể đến tỷ lệ cho vay của các ngân hàng, trong khi đó, quy mô ngân hàng và tăng trưởng kinh tế có một tác động tích cực và đáng kể đến tỷ lệ cho vay của các ngân hàng. Firas Mohammed Al-rawashdeh, Al Balqa; Burhan M.

Al-omari et al (2013) đã sử dụng phương pháp kiểm định Kolmogorov-Smornov Z về đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến việc cấp tín dụng trong các ngân hàng thương mại Cơ quan Khu kinh tế đặc biệt Aqaba- Jordan. Nghiên cứu này chỉ ra các nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng của các chi nhánh của ngân hàng thương mại ở Aqaba-Jordan gồm: (1) Nhóm yếu tố thuộc về khách hàng vay, (2) nhóm yếu tố thuộc chính sách tín dụng, (3) nhóm yếu tố ảnh hưởng đến tạo điều kiện tín dụng liên quan đến trung tâm quản lý khoản vay, (4) nhóm yếu tố thuộc chính sách vĩ mô và (5) nhóm yếu tố thuộc môi trường kinh tế của địa phương. Khi nghiên cứu tín dụng của nông hộ ở 5 huyện của Malawi, bằng phân tích hồi qui OLS, Diagne and Manfred Zeller (1999) đã kết luận có nhiều yếu tố tác động tới mức độ tiếp cận tín dụng (giới hạn tiền vay) của nông hộ, đó là: (1) Tỷ lệ giá trị đất đai trên tổng giá trị tài sản tác động nghịch tới mức tiếp cận cả tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức, (2) qui mô lao động và (3) tỷ lệ khẩu có tác động nghịch, (4) khoảng cách từ nhà ở tới nơi vay vốn cũng có tác động nghịch. Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tín dụng chính thức của nông hộ là: (1) Giá phân bón có tác động thuận, (2) qui mô lao động và (3) tỷ lệ khẩu phụ thuộc của hộ có tác động nghịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Tín dụng ngân hàng thương mại đối với nông nghiệp công nghệ cao tại tỉnh Lâm Đồng" của tác giả Đào Dũng Trí, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Loan, được thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh vào năm 2020. Bài luận án này tập trung vào việc phân tích và đánh giá vai trò của tín dụng ngân hàng thương mại trong việc hỗ trợ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Lâm Đồng, một tỉnh có tiềm năng lớn trong lĩnh vực nông nghiệp hiện đại. Nội dung nghiên cứu không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về tình hình tín dụng mà còn đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tín dụng trong nông nghiệp công nghệ cao, từ đó góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của ngành nông nghiệp tại địa phương.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh liên quan đến nông nghiệp công nghệ cao và tín dụng, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: "Luận án Tiến Sĩ về Phát Triển Nông Nghiệp Công Nghệ Cao Tại Thành Phố Hồ Chí Minh", nơi nghiên cứu về sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao trong bối cảnh đô thị hóa; "Nghiên cứu thực trạng và giải pháp chăn nuôi lợn đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại Lâm Đồng", cung cấp cái nhìn về thực trạng chăn nuôi tại Lâm Đồng; và "Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học để nhân giống cây kiwi tại Lâm Đồng", nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp tại tỉnh này. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nông nghiệp công nghệ cao và sự hỗ trợ của tín dụng ngân hàng trong lĩnh vực này.