CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VE CONG TÁC BAO DAM TIEN VAY BANG TAI SAN CUA NGAN HANG THUONG MAI 1. TIN DUNG NGAN HANG 1. Khái niệm tín dụng ngân hàng. Tín dụng là một phạm trù kinh tế khách quan xuất hiện và gắn liền với nên sản xuất hàng hóa của nhân loại.
Tín dụng phản ánh môi quan hệ vay mượn giữa các chủ thể dựa trên nguyên tắc hoàn trả. Theo đó, người cho vay sẽ chuyển giao quyền sử dụng của hàng hóa hoặc tiền tệ thuộc sở hữu của mình sang người vay và người vay có nghĩa vụ hoàn trả lại người cho vay một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu đã nhận. Dựa vào chủ thể của quan hệ tín dụng, trong nền kinh tế - xã hội tồn tại các hình thức tín dụng sau: Tín dụng thương mại, tín dụng ngân hàng, tín dụng nhà nước, tín dụng quốc tế Trong đó, tín dụng ngân hàng là một hình thức tín dụng chủ yếu trong 4 hình thức tín dụng trên. Tín dụng ngân hàng giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế, hoạt động của nó hết sức đa dạng và phong phú.
Tín dụng ngân hàng là sự giao dịch về tai sản, trong đó ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng tài sản nào đó (tiền hoặc uy tín) của mình đối với các chủ thể trong nền kinh tế theo sự cam kết là các chủ thể vay tài sản phải hoàn trả vốn và lãi cho ngân hàng một cách vô điều kiện trên cơ sở các thỏa thuận. Tín dụng ngân hàng được đề cập trong luật của nhiều nước với những khía cạnh khác nhau nào đó, song về nội dung cơ bản thì không có dị biệt Theo Điều 20, (Luật các TCTD sửa đổi của Việt Nam định nghĩa về hoạt động tín dụng và cấp tín dụng của các NHTM) và các TCTD khác như sau: “Cấp tín dụng là việc tổ chức tín dụng thỏa thuận đẻ khách hàng sử dụng một khoản tiền với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh Ngân hàng và các nghiệp vụ khác Thông thường tín dụng ngân hàng chủ yếu là cho vay bằng tiền. Nhưng, do sự đa dạng hóa hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của người vay, từ những năm 70 trở lại đây ngân hàng còn có các hình thức tín dụng như cho thuê tài chính bằng tài sản hữu hình như máy móc thiết bị, nhà xưởng, văn phòng làm việc. Trên thực tế, việc thực hiện các bảo đảm trong quan hệ tín dụng là có những điều kiện cụ thể.
Tuy nhiên nhìn chung, xét về mặt bản chất thì sự tin tưởng, tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng là nguồn thu nhập hiện tại cũng như trong tương lai của khách hàng được xem xét như là khả năng trả nợ món vay ngân hàng một cách tốt nhất, khả năng đó được coi là thước đo mức độ tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng. Phân loại tín dụng Tín dụng ngân hàng có thê phân chia thành nhiều loại khác nhau tùy. theo các tiêu thức khác nhau như sau: a. Phan logi tin dụng theo thời gian Phân chia theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì thời gian liên kết mật thiết với an toàn và sinh lợi của tín dụng cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
Theo thời gian tín dụng được phân thành: - Tin dụng ngắn hạn: Từ 12 tháng trở xuống chủ yếu tài trợ cho nhu. cầu thiếu vốn tạm thời như phục vụ thanh toán hàng hóa, bổ sung vốn lưu động, phục vụ nhu cầu sinh hoạt, hoặc cho vay trên thị trường liên ngân hàng. -_ Tín dụng trung hạn: Từ trên I năm đến 5 năm, tài trợ cho tài sản cố định như phương tiện vận tải, một số cây trồng vật nuôi, trang thiết bi ~_ Tín dụng dài hạn: Trên 5 năm tài trợ cho công trình xây dựng như nhà, sân bay, cầu, đường, máy móc thiết bị có giá trị lớn, thường có thời gian sử dụng lâu. Phân loại tín dụng theo quy trình nghiệp vụ Tín dụng theo quy trình nghiệp vụ bao gồm: -_ Cho vay: Là việc ngân hàng giao một khoản tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong thời gian xác định.
vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục tín dụng. - Chiết khấu giấy tờ có giá: Là việc ngân hàng mua giấy tờ có giá trước khi đến hạn và bảo lưu quyền truy đòi. -_ Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng. thuê theo những thỏa thuận nhất định.
-_ Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với bên thứ ba nếu khách hàng và ngân hàng không thực hiện được. Phân loại tín dụng theo bảo đảm. Tín dụng theo bảo đảm được phân thành: ~_ Tín dụng không cần tài sản bảo đảm được cấp cho khách hàng có uy. tín, thường là khách hàng làm ăn thường xuyên có lãi, tình hình tài chính vững mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ nan dây dưa, hoặc món vay tương đối nhỏ so với vốn của người vay.
- Tín dụng dựa trên cam kết bảo đảm bằng tài sản. Ngân hàng và khách hàng phải ký hợp đồng bảo đảm. Ngân hàng phải kiểm tra, đánh giá được tình trạng của tài sản bảo đảm (quyền sở hữu, giá trị, tính thị trường, khả năng bán, khả năng tài chính của người thứ ba, có khả năng giám sát việc sử dụng hoặc khả năng bảo quản tài sản đảm bảo. 4L Tín dụng phân loại theo rấi ro Phân loại theo tiêu thức này, tín dụng bao gồm các khoản có độ an toàn cao hay thấp như sau: ~_ Nợ quá hạn: là nợ đến hạn không/chưa trả được.
Nợ quá hạn có thể đương phân loại: 10 + Nợ quá hạn có khả năng thu hồi: các khoản nợ đã quá hạn với thời hạn nhắn và khách hàng có kế hoạch khắc phục tốt, tài sản bảo đảm có giá trị lớn hơn khoản nợ vay,. + Nợ quá hạn khó đòi/ khê đọng: Nợ quá hạn quá lâu, khả năng trả nợ rất kém, tài sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá, khách hàng chây ỳ,. - _ Nợ lành mạnh, hoặc nợ đủ tiêu chuẩn: là các khoản nợ có khả năng. thu hồi cao.
Khách hàng có tình hình tài chính tốt, dự án vay có hiệu quả, không phát sinh nợ quá hạn. - No có vấn đề: là các khoản nợ có dấu hiệu như khách hàng chậm tiêu thụ, tiến độ thực hiện kế hoạch bị chậm, khách hàng gặp thiên tai, khách hàng trì hoãn nộp báo cáo tài chín] e. Phân loại khác Ngoài các tiêu chí phân loại trên, còn nhiều các tiêu chí phân loại khác như: ~ _ Theo ngành kinh tế: Tín dụng công nghiệp, tín dụng nông nghiệp, tín dụng dịch vụ, tín dụng bắt động sản, tín dụng chứng khoá: - Theo đối tượng tín dụng: Tín dụng vốn cố định, tín dụng vốn lưu động - Theo muc dich: Tin dung tiêu dùng, tín dụng sản xuất kinh doanh 1. Rủi ro tín dụng.
Cấp tín dụng là chức năng kinh tế cơ bản của ngân hàng. Rủi ro trong. ngân hàng có xu hướng tập trung chủ yếu vào danh mục tín dụng. Đây là rủi ro lớn nhất và thường xuyên xảy ra.
Khi ngân hàng rơi vào trạng thái tài chính khó khăn nghiêm trọng, thì nguyên nhân thường phát sinh từ hoạt động tín dụng của ngân hàng. Dù đã có nhiều cải cách trong lĩnh vực tài chính, rủi ro tín dụng vẫn là nguyên nhân chủ yếu gây ra thất thoát và dẫn đến nguy cơ phá sản ngân hàng. HH Có rất nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng như sau: Theo 7homas P.Fiích: Rủi ro tín dụng là lọai rủi ro xảy ra khi người vay không thanh tóan được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu trong họat động cho vay của ngân hàng.
Theo Hennie van Greuning —Sonja B rajovic Bratanovic: Rui ro tin dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chỉ trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh khỏan của ngân hàng. Theo khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý. Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tô chức tín dụng (Ban hành theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước): “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Như vậy, có thê hiểu rủi ro tín dụng là sự tổn thất về tài chính của ngân. hàng khi khách hàng nhận khoản vay vốn không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với ngân hàng. Về bản chất, rủi ro tín dụng gắn liền với hoạt động quan trọng nhất, có quy mô lớn nhất của NHTM. Khi quyết định thực hiện một khoản tài trợ ngân hàng xem xét phân tích nhằm đảm bảo độ an toàn cao nhất cho khoản vay.
Tuy nhiên khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng chịu sự tác động của tố, có những yếu tố bắt ngờ ko thể dự đoán trước được chính xác. Mặt khác việc phân tích tín dụng còn phụ thuộc vào khả năng hay các yếu tố chủ quan của cán bộ ngân hàng. Vì vậy có thể nói rằng rủi ro tín dụng là 12 không thể tránh khỏi và tồn tại khách quan gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, nó chỉ có thê đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Rủi ro tín dụng chính là khoản lỗ tiềm tàng vốn có được tạo ra khi ngân hàng cấp tín dụng.
BAO DAM TIEN VAY 1. Bao dam tién vay a. Khái niệm bảo đảm tiền vay Hoạt động tín dụng của ngân hàng là hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro. Mặc dù, trước khi quyết định cho vay, ngân hàng đã trải qua các khâu thu thập, xử lý, phân tích và thẩm định kỳ khả năng trả nợ của khách hàng nhưng vẫn chưa loại bỏ được rủi ro tín dụng.
Do vậy, bảo đảm tiền vay có thể sử dụng như là một trong những cách thức nhằm gia tăng khả năng thu hồi nợ và giảm thiểu rủi ro tín dụng.