CHƯƠNG 1 Phần này giới thiệu ngắn gọn về công trình nghiên cứu, lý do lựa chọn đề tài, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. Phần này xác định nội dung và cấu trúc nghiên cứu của các phần sau. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐÁNH GIÁ RỦI RO THANH KHOẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Tổng quan về thanh khoản và rủi ro thanh khoản 2.
Định nghĩa về thanh khoản Ủy ban Basel về giám sát NH (2008) định nghĩa: “Thanh khoản là khả năng mà ngân hàng có thể tài trợ cho việc gia tăng của tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không gây ra những khoản tổn thất không thể chấp nhận được”. Rudolf Duttweiler (2009) lại cho rằng: “Thanh khoản đại diện cho khả năng thực hiện tất cả các nghĩa vụ thanh toán khi đến hạn – đến mức tối đa và bằng đơn vị tiền tệ được quy định. Do thực hiện bằng tiền mặt, thanh khoản chỉ liên quan đến các dòng lưu chuyển tiền tệ. Việc không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán sẽ dẫn đến tình trạng thiếu khả năng thanh khoản” (tr.
Trần Huy Hoàng (2011) cho rằng: “Thanh khoản - Liquidity, là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh” (tr. Qua nghiên cứu các khái niệm của các tác giả trên, tác giả đề xuất khái niệm thanh khoản là khả năng ngân hàng thực hiện đầy đủ và nhanh chóng các nghĩa vụ tài chính phát sinh từ các hoạt động như tiền gửi tiền lương, các khoản vay và các các giao dịch tài chính khác với một chi phí hợp lý. Cung, cầu thanh khoản * Cung thanh khoản Theo Nguyễn Bảo Huyền (2016) cung thanh khoản là những khoản vốn làm tăng giá trị của ngân hàng và cấu thành môt nguồn thanh khoản cho ngân hàng. Cụ thể: tiền gửi của khách hàng, thu nhập từ các dịch vụ phi tiền gửi, thu hồi các khoản nợ của khách hàng, các khoản thu từ việc bán tài sản, vay từ thị trường tiền tệ, … * Cầu thanh khoản 8 Theo Nguyễn Bảo Huyền (2016) cầu thanh khoản là các yêu cầu về vốn cần thiết cho hoạt động của ngân hàng và việc giảm vốn ngân hàng.
Cụ thể: khách hàng rút tiền từ tài khoản, các khoản tín dụng đã giải ngân, thanh toán các khoản vay phi tiền gửi, các chi phí phát sing trong quá trình cung cấp dịch vụ, trả cổ tức cho cổ đông. Vai trò của thanh khoản đối với NHTM Hệ thống ngân hàng thương mại đóng vai trò là trung gian thanh khoản cho nền kinh tế thông qua các hoạt động chính gốm huy động vốn, cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ tài chính, do đó gây ra rủi ro cho toàn bộ nền kinh tế. Các ngân hàng thương mại cần đảm bảo khả năng thanh khoản để đáp ứng nhu cầu thanh toán hàng ngày dựa trên số lần rút tiền, giải ngân khoản vay và các chi phí thường xuyên để đảm bảo họ an toàn trước những cú sốc thanh khoản. Hơn nữa, đôi khi các ngân hàng vẫn đó rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán trong khi có đủ tài sản để thanh toán là do các khoản đầu tư theo khoản vay không thể thu hồi được để thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Khi đó, rủi ro thanh khoản có thể phát sinh, gây ra một số hậu quả cho ngân hàng: - Tăng chi phí: để đáp ứng nhu cầu thanh khoản các ngân hàng phải đi vay trên thị trường liên ngân hàng với lãi suất cao hơn, đồng thời ngân hàng phải bán tài sản với giá thấp hơn làm giảm doanh thu của ngân hàng, từ đó thị phần vốn chủ sở hữu cũng như tài sản thương mại bị giảm. - Nếu ngân hàng chậm giải quyết tình trạng thiếu vốn khả dụng, thì uy tín của ngân hàng trên thị trường sẽ bị ảnh hưởng. Việc thiếu hụt tạm thời có thể dẫn đến khả năng thanh khoản bị cạn kiệt nhanh chóng và ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng khủng hoảng và mất khả năng chi trả. Khi đó việc hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng này sẽ làm tăng rủi ro hệ thống và chi phí cứu trợ.
- Nghiêm trọng hơn, rủi ro thanh khoản làm ngân hàng mất khả năng chi trả ngay cả khi năng lực của ngân hàng vẫn đảm bảo hoạt động có lãi, ảnh hưởng đến niềm tin của khách hàng và hậu quả có thể dẫn đến phá sản, bán hoặc sát nhập. 9 - Nghiêm trọng hơn, rủi ro thanh khoản có hiệu ứng lan truyền có thể gây ra đổ vỡ hệ thống ngân hàng do các ngân hàng thường vay mượn lẫn nhau. Khi một ngân hàng không đủ khả năng chi trả các khoản vay nợ sẽ làm ảnh hưởng đến các ngân hàng khác và từ đó kéo theo sự sụp đổ của toàn hệ thống. Rủi ro thanh khoản 2.
Định nghĩa rủi ro thanh khoản Đã có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro thanh khoản, cụ thể theo Ủy ban Basel về giám sát NH (2008): “Rủi ro thanh khoản là rủi ro mà một định chế tài chính không có đủ khả năng tìm kiếm đầy đủ nguồn vốn để đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hằng ngày và cũng không gây tác động đến tình hình tài chính” (tr45). Rủi ro thanh khoản của ngân hàng xảy ra khi ngân hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ chi trả khi đến hạn hoặc có thể thực hiện nghĩa vụ chi trả với chi phí cao hơn mức trung bình của thị trường. Khi một ngân hàng bị mất khả năng thanh khoản sẽ làm ảnh hưởng đến lòng tin của khách hàng đối với ngân hàng và hệ thống ngân hàng nói chung. Ngoài ra, việc mất khả năng thanh khoản có thể lan sang các ngân hàng khác thông qua hoạt động vay từ thị trường tiền tệ.
Do đó, khi một ngân hàng gặp rủi ro thanh khoản sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống ngân hàng. Phân loại rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản được chia làm hai loại đó là: Rủi ro thanh khoản nguồn vốn và rủi ro thanh khoản thị trường. * Rủi ro thanh khoản nguồn vốn Rủi ro thanh khoản nguồn vốn phát sinh khi ngân hàng không thể đáp ứng các nghĩa vụ trả nợ hoặc các nguồn tiền bất thường. Nó được hình thành dựa trên khả năng nắm giữ các nguồn tài trợ có sẵn của ngân hàng, nhằm thu hút thêm các nguồn tài trợ khác khi cần và tài trợ cho mục tiêu tăng trưởng tài sản.
Loại rủi ro này có thể 10 đo lường được, cũng kiểm soát được, cần phải có hướng giải quyết khi xảy đến nếu không hậu quả là ngân hàng đó sẽ lâm vào một cuộc khủng hoảng cực lớn. * Rủi ro thanh khoản thị trường - Rủi ro thanh khoản thi trường đề cập đến khả năng giao dịch một tài sản trong thời gian ngắn nhất có thể và với chi phí thấp nhất để đảm bảo rằng giá trị của tài sản đó được giảm đến mức tối thiểu. - Rủi ro thanh khoản thị trường có thể bị ảnh hưởng bởi các sự kiện xảy ra trong nền kinh tế toàn cầu. Đây là loại rủi ro hệ thống, vì vậy các khoản đầu tư có thể phải chịu rủi ro đáng kể do tính thanh khoản giảm hoặc giảm giá trị.
Rủi ro thanh khoản thị trường thường nằm ngoài tầm kiểm soát của thị trường. Nguyên nhân gây ra rủi ro thanh khoản - Mất cân đối giữa tài sản có và nợ: Theo bản chất hoạt động thương mại, theo cơ cấu tài sản của ngân hàng, thường tồn tại tình trạng nguồn vốn ngắn hạn nhưng lại là vốn vay trung và dài hạn, dẫn đến sự mất cân đối giữa các kì hạn. ngoài ra do tài sản vốn huy động giảm do nợ xấu nên tác động lan rộng ra toàn hệ thống ngân hàng. - Do tính nhạy cảm của tài sản chính trước những biến động của lãi suất.
Do xu hướng rút tiền khi lãi suất đầu tư tăng để đầu tư nhiều hơn vào các kênh có tỷ suất lợi nhuận cao của người gửi tiền. - Do những hạn chế trong quy trình quản lý và điều hành thanh khoản của ngân hàng của ngân hàng dẫn đến việc ra quyết định không chính xác, không kịp thời và không phù hợp trong việc tính toán dự trữ thanh khoản không đủ đáp ứng nhu cầu thanh toán. Bên cạnh đó, tính thanh khoản của các ngân hàng còn phụ thuộc trực tiếp vào chính sách tiền tệ do ngân hàng Nhà nước áp dụng, hướng dẫn điều chỉnh kịp thời. - Công tác dự báo và phân tích thị trường còn nhiều hạn chế là các ngân hàng không điều chỉnh kịp thời các khoản dự phòng vốn, không chủ động trước những biến động thị trường dẫn đến các rủi ro thanh khoản.
Tác động của rủi ro thanh khoản Khi gặp rủi ro thanh khoản ngân hàng phải chấp nhận phí tổn cao để có được nguồn cung thanh khoản do đó sẽ làm suy giảm tài sản và lợi nhuận của ngân hàng. Ngân hàng thương mại có nguy cơ sụp đổ nếu không đáp ứng được các nhu cầu về thanh khoản. Khi ngân hàng thương mại gặp rủi ro về thanh khoản không thể đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng sẽ tác động xấu tới khách hàng. Việc này có thể tác động tới hoạt động kinh doanh của khách hàng, ảnh hướng đến kế hoạch tài chính của khách hàng.
Khi xảy ra rủi ro thanh khoản, hoạt động huy động vốn của ngân hàng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động tín dụng và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Điều này ảnh hưởng đến sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. Tổng quan về Stress Test 2. Khái niệm Stress Test Kiểm tra sức chịu đựng sử dụng nhằm mô tả các kỹ thuật đánh giá mức độ tổn thương của một danh mục đầu tư do những thay đổi của các yếu tố môi trường kinh tế vĩ mô hoặc do tác động của những sự kiện có tính chất cực độ, ngoại lệ và bất thường nhưng có khả năng xảy ra.
Kiểm tra sức chịu đựng là một thuật ngữ mô tả một hệ thống kĩ thuật đo lường độ nhạy cảm của danh mục đầu tư với một loạt các cú sốc cực lớn và có thể xảy ra trong một hệ thống tài chính cá nhân. Đơn giản hơn, kiểm tra sức chịu đựng là ước tính sự thay đổi giá trị của danh mục đầu tư khi rủi ro tăng lên đáng kể. Theo Čihák (2007) định nghĩa: “Stress Test là thuật ngữ chung bao gồm nhiều kỹ thuật để đánh giá sức chịu đựng đối với những sự kiện cực độ.