CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHẤT LƯỢNG CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa 1. Khái niệm và tiêu chuẩn xác định Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay có nhiều loại hình doanh nghiệp cùng tồn tại, phát triển và cạnh tranh lẫn nhau.
Có những tiêu thức khác nhau được chỉ ra để có thể phân loại các loại hình doanh nghiệp, từ đó tạo thuận lợi cho việc quản lý và hỗ trợ cho các doanh nghiệp phát triển. Dựa vào tiêu chí quy mô kinh doanh, có thể chia doanh nghiệp thành 4 loại: Doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp siêu nhỏ. Doanh nghiệp nhỏ và vừa là khái niệm tương đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Phương thức phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa thường là căn cứ các tiêu chuẩn như tổng số vốn, tổng số tài sản, số lượng nhân viên, thị phần của doanh nghiệp., hoặc kết hợp một số tiêu chuẩn đã nêu trên trên để phân loại.
Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào quy định của pháp luật về hệ thống ngành kinh tế và quy định của pháp luật chuyên ngành. Trường hợp hoạt động trong nhiều lĩnh vực, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào lĩnh vực có doanh thu cao nhất. Trường hợp không xác định được lĩnh vực có doanh thu cao nhất, doanh nghiệp nhỏ và vừa được xác định căn cứ vào lĩnh vực sử dụng nhiều lao động nhất. Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người; doanh nghiệp nhỏ có số lượng lao động từ 10 đến dưới 200 người và nguồn vốn 20 tỷ trở xuống; doanh nghiệp vừa có từ 200 đến 300 lao động nguồn vốn 20 đến 100 tỷ.
Mỗi quốc gia đều có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa. 9 Tại Hoa Kỳ, các tiêu chí để xác định DNVVN cho ngành nông nghiệp là: tiêu thụ hàng năm dưới 1 triệu đô la; sản xuất: dưới 500 nhân viên; dịch vụ bán lẻ: tiêu thụ hàng năm dưới 80.000 đô la; bán buôn: tiêu thụ hàng năm dưới 220. Tại Đài Loan, các doanh nghiệp vừa và nhỏ công nghiệp có quy mô dưới 1,4 triệu USD hoặc 40 triệu Đài tệ. Tại Nhật Bản, các tiêu chí để xác định DNVVN trong lĩnh vực sản xuất là từ 1 đến 300 lao động hoặc từ 0 đến 300 triệu yên vốn đầu tư; công nghiệp thương mại: từ 1 đến 100 lao động hoặc từ 0 đến 100 triệu yên vốn đầu tư; ngành dịch vụ: số lao động là 1 đến 100 người hoặc vốn đầu tư từ 0 đến 50 triệu yên.
Tại Việt Nam, định nghĩa về DNNVV được sử dụng bắt đầu từ khi Nghị định số 90/2001/NĐ-CP có hiệu lực. Theo Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa do Quốc hội ban hành ngày 12 tháng 6 năm 2017, DNNVV bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm không quá 300 tỷ đồng. Trong đó, doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ, thông tin cụ thể được trình bày trong Bảng 1.1: Phân loại DNNVV theo quy mô và khu vực kinh tế ở Việt Nam Doanh nghiệp Quy mô Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa siêu nhỏ Tổng Tổng Tổng Số lao Số lao Khu vực nguồn nguồn Số lao động nguồn vốn động động vốn vốn Từ trên 3 Từ trên Từ trên 20 I. Nông, lâm Từ trên 100 3 tỷ đồng 10 người tỷ đồng 10 người tỷ đồng nghiệp và người đến trở xuống trở xuống đến 20 tỷ đến 100 đến 100 tỷ thủy sản 200 người đồng người đồng Từ trên 3 Từ trên Từ trên 20 II.
Công Từ trên 100 3 tỷ đồng 10 người tỷ đồng 10 người tỷ đồng nghiệp và người đến trở xuống trở xuống đến 20 tỷ đến 100 đến 100 tỷ xây dựng 200 người đồng người đồng Từ trên 3 Từ trên Từ trên 50 III. Thương Từ trên 50 3 tỷ đồng 10 người tỷ đồng 10 người tỷ đồng mại và dịch người đến trở xuống trở xuống đến 50 tỷ đến 50 đến 100 tỷ vụ 100 người đồng người đồng (Nguồn: Nghị định 39/2018/NĐ-CP) 1. Đặc điểm và vai trò của DNNVV a. Ưu điểm của DNNVV Dựa trên nghiên cứu của PGS.
Nguyễn Viết Tý (2020), tác giả đưa ra những ưu điểm chung của DNNVV như sau: Thứ nhất, DNNVV có số vốn đầu tư ban đầu ít, vòng quay vốn nhanh và hiệu quả. Bởi vì DNNVV nhỏ có số vốn đăng ký ban đầu khá nhỏ và chu kỳ sản xuất kinh doanh ngắn nên khả năng thu hồi vốn thường nhanh; tăng tốc độ quay vòng vốn để đầu tư vào công nghệ mới, tiên tiến, hiện đại sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp SXKD có hiệu quả. 1 Thứ hai, DNNVV có bộ máy tổ chức quản lý, bộ máy sản xuất gọn nhẹ. DNNVV có quy mô nhỏ, số lượng lao động ít, công tác quản lý điều hành mang tính trực tiếp nên việc ra quyết định kinh doanh tại các doanh nghiệp này được đưa ra và thực hiện nhanh chóng, đảm bảo sự thống nhất từ lãnh đạo đến nhân viên.
Nhờ vậy, có thể tiết kiệm được tối đa chi phí quản lý doanh nghiệp. Thứ ba, DNNVV thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đa dạng về loại hình sở hữu. DNNVV tồn tại và phát triển ở các loại hình khác nhau như: doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hợp tác xã. Thứ tư, DNNVV có khả năng chấp nhận rủi ro, mạo hiểm.
Xuất phát từ quy mô nhỏ, vốn đầu tư không lớn nên doanh nghiệp có thể mạnh dạn tham gia vào những ngành mới với lợi nhuận ban đầu thấp hoặc những ngành sản xuất ra những sản phẩm chỉ đáp ứng những nhu cầu cá biệt. Thứ năm, DNNVV có tính năng động và linh hoạt cao trước những thay đổi của thị trường. DNNVV có lợi thế rõ rệt là gọn nhẹ và linh hoạt nên đây là những doanh nghiệp bám sát thị trường nhất. Các doanh nghiệp này có khả năng chuyển đổi phương án sản xuất, chuyển đổi mặt bằng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng nhanh.
Mặt khác, do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế nên khi không thích ứng được với nhu cầu của thị trường, doanh nghiệp có thể dễ dàng chuyển đổi sang loại hình kinh doanh khác để phù hợp với thực tế. Hạn chế của DNNVV Thứ nhất, DNNVV gặp khó khăn về vốn. Mặc dù chính phủ đã triển khai các chính sách, chương trình hỗ trợ vốn cho các DNNVV như bảo lãnh tín dụng và hỗ trợ tín dụng, nhưng trên thực tế, chỉ có một số lượng nhỏ các doanh nghiệp được thụ hưởng chính sách hỗ trợ. Thứ hai, DNNVV vẫn còn thiếu năng lực nắm bắt và hiểu thị trường một cách tổng thể để xây dựng những kế hoạch đối phó với những kịch bản biến động của thị trường.
Điều này dẫn đến việc sản xuất bị thu hẹp, hoạt động cầm chừng, không có khả năng bán được hàng hóa đã sản xuất dẫn đến tích tụ tồn kho và phát sinh chi phí. 1 Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc hạn chế cạnh tranh của DNNVV với các doanh nghiệp khác cùng ngành có quy mô lớn hơn. Thứ ba, DNNVV có năng lực cạnh tranh hạn chế. Việc sử dụng các công nghệ lạc hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường kém.
DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác marketing kém hiệu quả. Và cuối cùng, năng lực quản lý của các DNNVV còn tương đối thấp. Theo số liệu thống kê, có tới 55,63% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ doanh nghiệp có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Bên cạnh đó, đa số các chủ doanh nghiệp, ngay cả những người có trình độ học vấn từ cao đẳng và đại học trở lên thì cũng ít người được đào tạo về kiến thức kinh tế và quản trị doanh nghiệp hay các khóa học về pháp luật trong kinh doanh.
Điều này ảnh hưởng lớn đến việc lập chiến lược phát triển, định hướng kinh doanh và quản lý, phòng tránh các rủi ro pháp lý của các doanh nghiệp. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, ở hầu hết các nước, DNNVV đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển KT-XH. Tại Việt Nam, nền kinh tế sau thời kỳ đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu đáng khích lệ, trong đó sự đóng góp đáng kể của các DNNVV. Trước hết, phải khẳng định rằng DNNVV là lực lượng đóng góp quan trọng cho tăng trưởng KT-XH.
Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam (2019), cả nước có khoảng 541.753 DNNVV đang hoạt động trong nền kinh tế, với tổng số vốn đăng ký khoảng 130 tỷ USD, chiếm khoảng 1/3 tổng số vốn đăng ký của các DN. Hàng năm, các DNNVV đóng góp khoảng 40% GDP, nộp ngân sách nhà nước 30%, đóng góp giá trị sản lượng công nghiệp 33%, giá trị hàng hóa xuất khẩu 30%. Bên cạnh đó, DNNVV cũng giải quyết công ăn việc làm cho dân cư, làm tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xóa đói giảm nghèo. Đặc điểm chung của các DNNVV là sử dụng ít vốn nhưng nhiều lao động.
Điều này phù hợp với trình độ sử dụng công nghệ của các DNNVV. Hàng năm, các DNNVV thu hút gần 60% lao động. Số lượng DNNVV ngày càng gia tăng đã giải quyết một khối lượng lớn việc 1 làm cho 1 dân cư, tăng thu nhập cho người lao động, đồng thời góp phần làm giảm tình trạng di dân vào các khu đô thị lớn và các tệ nạn xã hội. DNNVV cung cấp một khối lượng lớn sản phẩm, dịch vụ phong phú, đa dạng về chủng loại đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.