chương 1, giới thiệu về đề tài nghiên cứu “Tác động của yếu tố vĩ mô và đặc điểm ngân hàng đến rủi ro tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại Cổ phần Việt Nam” và đưa ra sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu. Nghiên cứu đã xác định được mục tiêu, đối tượng và phương pháp để thực hiện đề tài và chương này là cơ sở đóng góp vào sự phát triển ý tưởng cho các chương tiếp theo. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VỀ YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN RỦI RO TÍN DỤNG 2. Hoạt động tín dụng tại ngân hàng 2.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng Trong nền kinh tế hàng hóa luôn có người tạm thời thừa vốn, có vốn tạm thời nhàn rỗi và có nhu cầu cho vay, song song đó, sẽ có những đối tượng kinh tế tạm thời thiếu hụt vốn, có nhu cầu đi vay.
Hiện tượng này hình thành nên mối quan hệ kinh tế mà bản chất của nó là sự dịch chuyển vốn tạm thời từ nơi thừa sang nơi thiếu với điều kiện hoàn trả vốn và lãi tiền vay là lợi nhuận thu được do việc sử dụng vốn vay trong khoảng thời gian nhất định. Tín dụng xuất hiện từ thời kì cổ đại và đã phát triển qua nhiều hình thức từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp nhằm giải quyết các vấn đề mâu thuẫn xã hội, thực hiện việc điều hòa nhu cầu vốn tạm thời của cuộc sống. Theo Bùi Diệu Anh (2009) thì tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/tổ chức tín dụng khác) chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Theo Nguyễn Văn Tiến (2010) đã đưa ra khái niệm tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác.
Theo Trần Huy Hoàng (2011) thì tín dụng là một phạm trù kinh tế tồn tại qua các hình thái xã hội khác nhau. Hiểu một cách thông thường nhất, tín dụng là vay mượn. Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. 11 Tóm lại, tín dụng ngân hàng là quan hệ luân chuyển vốn giữa các ngân hàng (bên cho vay) với các chủ thể trong nền kinh tế (bên đi vay) được thực hiện dưới dạng một cuộc thỏa thuận có hợp đồng chính thức trong đó bên đi vay sẽ nhận được một khoản tiền hoặc tài sản tương đương có giá trị và trả lại bên cho vay vào một thời điểm nhất định đồng thời có điều kiện đi kèm như đã thỏa thuận trước đó.
Khi đến hạn, bên đi vay phải có trách nhiệm hoàn trả gốc và lãi cho ngân hàng. Khái niệm và phân loại của rủi ro tín dụng 2. Khái niệm về rủi ro tín dụng Những nghiên cứu sơ khai về RRTD có nguồn gốc từ (Black và Scholes, 1973). Họ đưa ra một cơ bản mô hình cho rủi ro vỡ nợ của công ty, được gọi là mô hình cấu trúc của RRTD (Black và Scholes, 1973).
Theo (Fitch và ctg, 2000) thì RRTD là rủi ro xảy ra khi người đi vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận của hợp đồng dẫn đến không tuân thủ trong nghĩa vụ trả nợ. (Graham & Coyle, 2000) định nghĩa RRTD là tổn thất phát sinh từ việc khách hàng không sẵn sàng hoặc không có khả năng thanh toán đầy đủ và đúng hạn các khoản nợ đến hạn. Theo (Jorion, 2009), RRTD được định nghĩa là rủi ro có nguy cơ tổn thất về mặt kinh tế phát sinh khi bên đối tác không thực hiện đầy đủ đầy đủ nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết giữa các bên liên quan. RRTD là loại rủi ro dễ nhận thấy nhất liên quan đến hoạt động kinh doanh của NHTM.
Rủi ro này được đo lường bằng chi phí bỏ ra để có được dòng tiền thay thế nếu bên đối tác phá sản. Theo (Chen và Pan, 2012) RRTD là sự biến động về giá trị của các công cụ nợ và các công cụ phái sinh gây ra bởi sự thay đổi của chất lượng tín dụng cơ bản đối với khách hàng và người cho vay. Theo Ủy ban giám sát Basel (Basel Committee on Banking Supervision), RRTD là trường hợp người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng không thể tuân thủ theo các điều khoản trả nợ đã quy định tại thỏa thuận. Tại Việt Nam, theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN thì RRTD được định nghĩa là tổn thất có khả năng xảy ra đối với khoản nợ của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước 12 ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ mà họ đã cam kết.
Theo Bùi Diệu Anh (2013), rủi ro có thể xuất hiện bất ngờ không được dự báo trước và gây tổn thất lớn tới sự an toàn nhân lực, vật lực và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận hoạt động của ngân hàng. Theo Trần Huy Hoàng (2011), RRTD là rủi ro thất thoát tài sản có thể phát sinh khi một bên đối tác vay vốn không thực hiện một nghĩa vụ tài chính của mình và/hoặc nghĩa vụ đã cam kết theo hợp đồng đối với ngân hàng bao gồm cả việc không thực hiện thanh toán nợ cho dù đấy là nợ gốc hay nợ lãi khi khoản nợ đến hạn. Tóm lại, từ những cách tiếp cận khác nhau, RRTD là khả năng xảy ra tổn thất đối với ngân hàng khi khách hàng không hoàn trả hoặc không hoàn trả đầy đủ khoản vay theo hợp đồng đã được thỏa thuận trước đó giữa ngân hàng và khách hàng. Tín dụng là hoạt động quan trọng, mang lại nguồn thu chính cho ngân hàng.
RRTD chiếm tỷ trọng cao trong tổng rủi ro hoạt động của ngân hàng. Do đó, RRTD là điều mà hầu hết các ngân hàng quan tâm và quản lý chặt chẽ. Bessis (2011) nhấn mạnh rằng NHTM cần đặc biệt quan tâm đến RRTD vì chỉ cần một số lượng nhỏ các khách hàng mất khả năng thanh toán cũng có thể dẫn đến những tổn thất lớn cho NHTM. Basel cũng khẳng định rằng các NHTM quản lý RRTD với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận bằng cách duy trì RRTD thể hiện qua thông số có thể chấp nhận được.
Phân loại rủi ro tín dụng Theo Trần Huy Hoàng (2011), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro thì RRTD bao gồm rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch. Rủi ro danh mục là rủi ro tạo ra bởi các yếu tố trong quản lý danh mục tín dụng của ngân hàng, gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại xuất phát từ những yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính chất đặc thù bên trong của từng chủ thể đi vay hoặc ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Nó xuất phát từ đặc điểm vận hành hay đặc điểm sử dụng vốn của khách vay.
Còn rủi ro tập trung là khi ngân hàng phân bổ vốn cho vay quá mức với các khách hàng; cho vay quá nhiều Doanh nghiệp hoạt động trong cùng ngành, 13 lĩnh vực kinh doanh hay tại cùng một vùng địa lý nhất định, cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Rủi ro giao dịch là một dạng của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do sự yếu kém trong việc thẩm định và phê duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Nó bao gồm các loại như sau: Rủi ro lựa chọn là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá, phân tích tín dụng khi ngân hàng chọn phương án vay vốn hiệu quả để tiến hành quyết định cho vay; Rủi ro bảo đảm sinh ra từ những điều kiện đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, những loại tài sản đảm bảo, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của tài sản đảm bảo; Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến nghiệp vụ kiểm soát khoản vay và vận hành cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và công nghệ xử lý những khoản cho vay có vấn đề. Nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng ❖ Nguyên nhân từ các yếu tố vĩ mô Trong những năm gần đây, tình hình vĩ mô gặp nhiều bất lợi, đặc biệt sau đại dịch Covid-19, đã tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng.
Tại Mỹ, việc bơm tiền quá mức trong thời gian dịch đã gây ra lạm phát, buộc FED phải tăng lãi suất liên tục từ 0.75%, dẫn đến chênh lệch tỷ giá VND/USD và gây khó khăn cho các doanh nghiệp có nợ bằng USD trong việc trả nợ. Đồng thời, nhu cầu tiêu dùng suy giảm khiến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp bị thu hẹp, ảnh hưởng đến doanh thu và khả năng trả nợ ngân hàng. Bên cạnh tỷ giá và lạm phát, cuộc chiến Nga-Ukraine đã đẩy giá dầu và giá nguyên vật liệu đầu vào như thép, sắt, xăng dầu. tăng mạnh, ảnh hưởng đến tiến độ dự án và hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Điều này khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc trả nợ ngân hàng, gián tiếp tác động tiêu cực đến hoạt động tín dụng của ngân hàng. Ngoài ra, các yếu tố tiềm ẩn từ thị trường hàng hóa, thị trường xuất khẩu và các quốc gia có quan hệ thương mại với Việt Nam cũng chứa đựng rủi ro cho hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại. 14 Tình hình chính trị bất ổn của một quốc gia cũng là nguyên nhân quan trọng. Khi môi trường chính trị không ổn định, tâm lý nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ không an tâm, dẫn đến việc hạn chế đầu tư.
Điều này ảnh hưởng đến nguồn cung và cầu tín dụng của ngân hàng, gây khó khăn cho hoạt động tín dụng và làm tăng rủi ro. Bên cạnh đó, các chính sách vĩ mô không phù hợp có thể kìm hãm sự phát triển kinh tế, như trường hợp của Mỹ trong giai đoạn Covid-19 đã tung quá nhiều tiền để cứu trợ, dẫn đến lạm phát cao và sự sụp đổ của các ngân hàng lớn. Điều này cho thấy sự không phù hợp trong chính sách có thể ảnh hưởng đến sự an toàn trong hoạt động cho vay tín dụng. Quá trình hội nhập kinh tế và tự do thương mại đã mang lại nhiều cơ hội phát triển, đồng thời cũng đặt ra không ít thách thức trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội.