Tổng quan luận án
Hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) tại các nền kinh tế đang phát triển luôn chịu áp lực cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi sự dịch chuyển từ các hoạt động ngân hàng truyền thống sang phi truyền thống. Trong tiến trình này, đa dạng hóa (ĐDH) trở thành một công cụ quản trị chiến lược được kỳ vọng giúp phân tán rủi ro phá sản, nâng cao năng lực cạnh tranh và cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh (HQHĐKD) (Froot và ctg, 1993; Baele và ctg, 2007). Tuy nhiên, nhiều bằng chứng thực nghiệm quốc tế lại chỉ ra rằng ĐDH có thể làm gia tăng sự bất ổn định của dòng tiền, tăng rủi ro doanh thu và phát sinh chi phí đại diện, dẫn đến suy giảm khả năng sinh lời (DeYoung và Roland, 2001; Acharya và ctg, 2006).
Tại thị trường tài chính Việt Nam, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai, 2015; Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành, 2015; Nguyen và Vo, 2015; Nguyễn Minh Sáng và Trần Thị Thùy Linh, 2018) chủ yếu tiếp cận theo hướng đơn lẻ: chỉ phân tích ĐDH thu nhập, chỉ đo lường hiệu quả và rủi ro bằng các tỷ số tài chính kế toán, đồng thời chỉ áp dụng các phương pháp hồi quy tác động một chiều (OLS, FEM, REM, GMM). Do đó, khoảng trống nghiên cứu thực tiễn và học thuật đòi hỏi phải có một công trình xem xét đồng thời nhiều khía cạnh ĐDH, tích hợp phương pháp đo lường bằng hàm sản xuất kỹ thuật và kiểm định cơ chế tương tác đa chiều, đồng thời giữa ĐDH, hiệu quả và rủi ro.
Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Võ Đức Thọ (2021) với đề tài "Đa dạng hóa, hiệu quả và rủi ro tại các ngân hàng thương mại Việt Nam", chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (mã số: 9340201) tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Thân Thị Thu Thủy và TS. Phạm Khánh Nam, được thực hiện nhằm giải quyết các câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu sau:
Câu hỏi nghiên cứu:
- Câu hỏi 1: Có tác động một chiều của bốn loại hình ĐDH tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập đến HQHĐKD tại các NHTM Việt Nam không? Nếu có thì tác động một chiều đồng biến hay nghịch biến, tức tích cực hay tiêu cực?
- Câu hỏi 2: Có tác động một chiều của bốn loại hình ĐDH tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập đến rủi ro tại các NHTM Việt Nam không? Nếu có thì tác động một chiều đồng biến hay nghịch biến, tức tích cực hay tiêu cực?
- Câu hỏi 3: Có tác động đồng thời của bốn loại hình ĐDH tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập; HQHĐKD và rủi ro tại các NHTM Việt Nam không? Nếu có thì tác động đồng thời đồng biến hay nghịch biến, tức tích cực hay tiêu cực?
Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá tác động một chiều ở trạng thái tĩnh, trạng thái động và đánh giá tác động đồng thời của bốn loại hình ĐDH, HQHĐKD và rủi ro tại các NHTM Việt Nam.
- Mục tiêu cụ thể 1: Phân tích tác động một chiều của bốn loại hình ĐDH (tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập) đến HQHĐKD tại các NHTM Việt Nam, trong đó HQHĐKD được đo lường bằng tỷ số tài chính và chỉ số rút ra từ hàm sản xuất kỹ thuật.
- Mục tiêu cụ thể 2: Phân tích tác động một chiều của bốn loại hình ĐDH (tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập) đến rủi ro tại các NHTM Việt Nam, trong đó rủi ro được đo lường bằng tỷ số tài chính và chỉ số rút ra từ hàm sản xuất kỹ thuật.
- Mục tiêu cụ thể 3: Phân tích tác động đồng thời mối quan hệ giữa ĐDH (tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập), HQHĐKD và rủi ro tại các NHTM Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Bốn loại hình ĐDH (tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập), HQHĐKD và rủi ro ngân hàng (được đo lường bằng tỷ số tài chính và hàm sản xuất kỹ thuật).
- Phạm vi không gian: 25 NHTM trong hệ thống NHTM Việt Nam có số liệu tài chính liên tục và đáng tin cậy. Đến thời điểm 31/12/2018, tổng tài sản của 25 ngân hàng mẫu đạt 8.185 nghìn tỷ đồng, chiếm 89,91% tổng tài sản toàn hệ thống (9.544 nghìn tỷ đồng); tổng vốn điều lệ của 25 ngân hàng mẫu đạt 350.068 tỷ đồng, chiếm 84,33% tổng vốn điều lệ toàn hệ thống NHTM Việt Nam (415.123 tỷ đồng).
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 19 năm, từ năm 2000 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu trong luận án phân định rõ hai luồng quan điểm đối lập trong các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước về mối quan hệ giữa ĐDH, HQHĐKD và rủi ro:
Thứ nhất, luồng quan điểm ủng hộ lợi ích của ĐDH: Froot và ctg (1993), Froot và Stein (1998) khẳng định ĐDH là cơ chế phòng vệ rủi ro phá sản, nâng cao khả năng cạnh tranh và cải thiện trực tiếp HQHĐKD. Baele và ctg (2007) cho rằng ĐDH giúp ngân hàng xử lý thông tin bất cân xứng, củng cố vị thế hoạt động. Boyd và Graham (1988), Rose (1989), Templeton và Severiens (1992) chứng minh việc dịch chuyển sang các sản phẩm dịch vụ phi truyền thống giúp giảm thiểu biến động dòng tiền và cắt giảm rủi ro phi hệ thống. Kwan (1998), Cornett và ctg (2002) chỉ ra sự tương quan yếu giữa chứng khoán và tín dụng giúp gia tăng ROA. Meslier và ctg (2013) ghi nhận việc dịch chuyển từ hoạt động truyền thống sang ngoài lãi giúp tăng lợi nhuận sau khi điều chỉnh rủi ro.
Thứ hai, luồng quan điểm cảnh báo tác động tiêu cực của ĐDH: DeYoung và Roland (2001) phát hiện tại các ngân hàng Mỹ, hoạt động dịch vụ phi ngân hàng tạo ra biến động dòng tiền và rủi ro doanh thu cao hơn, dẫn đến sụt giảm khả năng sinh lời. Acharya và ctg (2006) tại thị trường Ý chứng minh ĐDH tín dụng không đem lại hiệu quả phân tán rủi ro mà làm suy yếu chất lượng quản lý danh mục nợ và phát sinh chi phí đại diện (Cerasi và Daltung, 2000). Stiroh (2004), Stiroh và Rumble (2006), DeYoung và Rice (2004) ghi nhận chi phí bất ổn lấn át lợi ích đa dạng hóa. Laeven và Levine (2007) chỉ ra các định chế tài chính bị sụt giảm giá trị thị trường khi đầu tư dàn trải. Berger và ctg (2010) nghiên cứu hệ thống ngân hàng Trung Quốc kết luận ĐDH tiền gửi, tín dụng, tài sản và địa lý đều làm giảm doanh thu, lợi nhuận và đẩy cao chi phí hoạt động.
Thứ ba, các nghiên cứu thực nghiệm tại Việt Nam: Võ Xuân Vinh và Trần Thị Phương Mai (2015) khảo sát 37 NHTM giai đoạn 2006-2013, nhận thấy ĐDH thu nhập làm tăng lợi nhuận nhưng cũng làm tăng rủi ro, khiến lợi nhuận điều chỉnh rủi ro sụt giảm. Hồ Thị Hồng Minh và Nguyễn Thị Cành (2015) phân tích 22 NHTM giai đoạn 2007-2013, kết luận ĐDH thu nhập đồng biến với khả năng sinh lời. Ngược lại, Nguyễn Minh Sáng và Trần Thị Thùy Linh (2018) nghiên cứu 152 NHTM tại 5 quốc gia ASEAN (giai đoạn 2005-2015) ghi nhận tỷ lệ lãi biên nghịch biến với ĐDH thu nhập, trong khi tỷ lệ nợ xấu tác động cùng chiều. Nguyen và Vo (2015) khảo sát 32 NHTM giai đoạn 2005-2012 cho thấy ĐDH cấu trúc thu nhập có tương quan nghịch biến với rủi ro phá sản.
| Nhóm tác giả & Năm |
Phạm vi & Mẫu nghiên cứu |
Phương pháp / Mô hình |
Kết quả chính về mối quan hệ |
| DeYoung & Roland (2001) |
NHTM tại Mỹ |
Hồi quy dữ liệu bảng |
ĐDH dịch vụ phi truyền thống làm tăng biến động dòng tiền, tăng rủi ro doanh thu. |
| Acharya và ctg (2006) |
Hệ thống NHTM Ý |
Hồi quy dữ liệu bảng |
ĐDH nợ không cải thiện HQHĐKD và không điều chỉnh được rủi ro do chi phí đại diện. |
| Berger và ctg (2010) |
NHTM Trung Quốc |
Mô hình tĩnh & động (GMM), SFA |
ĐDH tiền gửi, tín dụng, tài sản làm giảm lợi nhuận và tăng chi phí. |
| Võ Xuân Vinh & Trần Thị Phương Mai (2015) |
37 NHTM Việt Nam (2006–2013) |
Hồi quy dữ liệu bảng |
ĐDH thu nhập làm tăng lợi nhuận nhưng đồng thời làm gia tăng rủi ro. |
| Hồ Thị Hồng Minh & Nguyễn Thị Cành (2015) |
22 NHTM Việt Nam (2007–2013) |
Hồi quy dữ liệu bảng |
ĐDH thu nhập tác động đồng biến với khả năng sinh lời. |
| Nguyễn Minh Sáng & Trần Thị Thùy Linh (2018) |
152 NHTM thuộc 5 nước ASEAN (2005–2015) |
Hồi quy dữ liệu bảng |
Biên lãi ròng tác động nghịch biến đến ĐDH thu nhập; nợ xấu tác động cùng chiều. |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết:
- Về phạm vi ĐDH: Khắc phục sự khu biệt của các nghiên cứu trước (chỉ tập trung vào ĐDH thu nhập) bằng việc mở rộng đồng thời 4 khía cạnh cốt lõi của hoạt động ngân hàng: tiền gửi, tín dụng, tài sản và thu nhập.
- Về phương pháp đo lường: Kết hợp đồng bộ giữa các tỷ số tài chính kế toán truyền thống với phương pháp hàm sản xuất kỹ thuật (phân tích biên ngẫu nhiên - SFA) để ước lượng chỉ số kém HQHĐKD và rủi ro kém hiệu quả ổn định.
- Về mô hình phân tích: Bổ sung phương pháp ước lượng hệ phương trình cấu trúc đồng thời (SUR) bên cạnh các mô hình tĩnh (GLS, Driscoll-Kraay) và động (FDGMM), phản ánh sát thực cơ chế tương tác đa chiều diễn ra trên thực tế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khái niệm nền tảng
Luận án xây dựng khung phân tích dựa trên hệ thống các lý thuyết kinh tế học và tài chính doanh nghiệp:
- Lý thuyết tăng trưởng của Penrose (1959): Giải thích nguồn gốc tăng trưởng của ngân hàng thông qua mở rộng bên trong và bên ngoài; phân loại ĐDH thành ba động cơ: nắm bắt cơ hội kinh doanh cụ thể, giải quyết khó khăn nội tại và phục vụ mục tiêu tăng trưởng dài hạn.
- Lý thuyết phát triển dựa vào nguồn lực (RBV): Nhấn mạnh năng lực khai thác tối ưu các nguồn lực hữu hình và vô hình nhàn rỗi để tạo lợi thế cạnh tranh thông qua ĐDH.
- Lý thuyết tính kinh tế theo quy mô và phạm vi (Economies of Scale and Scope): Khẳng định chi phí kết hợp sản xuất hai hay nhiều dòng sản phẩm dịch vụ tài chính thấp hơn tổng chi phí sản xuất riêng lẻ từng sản phẩm.
- Lý thuyết đại diện và chi phí đại diện (Cerasi và Daltung, 2000; Jensen và Meckling, 1976): Cảnh báo hành vi mở rộng đầu tư quá mức của ban điều hành nhằm trục lợi cá nhân, dẫn đến suy giảm hiệu quả quản trị danh mục.
- Lý thuyết danh mục đầu tư (Markowitz, 1952) và Lý thuyết định giá tài sản vốn (CAPM): Phân tích sự đánh đổi giữa lợi nhuận kỳ vọng và rủi ro, phân định rủi ro hệ thống và rủi ro đặc thù.
Đo lường các biến số trong mô hình
1. Đo lường Đa dạng hóa (ĐDH): Sử dụng chỉ số mức độ tập trung Herfindahl-Hirschman Index (HHI) và chỉ số phân tán thu nhập:
- ĐDH tiền gửi, ĐDH tín dụng và ĐDH tài sản được đo lường thông qua nghịch đảo mức độ tập trung:
$$Foc = \sum_{i=1}^{n} \left(\frac{Q_i}{Q}\right)^2$$
Trong đó $Q_i$ là giá trị từng thành phần và $Q = \sum Q_i$. Giá trị $Foc$ dao động từ $1/n$ đến $1$; $Foc$ càng tiến gần 1 thì mức độ tập trung càng cao (mức độ ĐDH càng thấp) và ngược lại.
- Tiền gửi gồm 5 thành phần: tiền gửi theo nhu cầu, tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi doanh nghiệp, tiền gửi của ngân hàng khác và tiền gửi khác.
- Tín dụng gồm 5 phân khúc: tín dụng công nghiệp, tín dụng thương mại, tín dụng bất động sản, tín dụng nông nghiệp và tín dụng tiêu dùng.
- Tài sản gồm 4 nhóm: tài sản sinh lời thuần, tài sản không sinh lời, tài sản thanh khoản và tài sản cố định.
- ĐDH thu nhập được xác định theo Thomas (2002), Stiroh (2004):
$$Div = 1 - (SH_{NET}^2 + SH_{NON}^2)$$
Trong đó $SH_{NET} = \frac{NET}{NET + NON}$ (tỷ lệ thu nhập từ lãi) và $SH_{NON} = \frac{NON}{NET + NON}$ (tỷ lệ thu nhập ngoài lãi). Đồng thời tham chiếu công thức đa dạng hóa phí dịch vụ $DIV_COM$ của Brighi và Venturelli (2014).
2. Đo lường Hiệu quả hoạt động kinh doanh (HQHĐKD):
- Tỷ số tài chính: Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), biên lãi ròng (NIM).
- Hàm sản xuất kỹ thuật: Ước lượng chỉ số kém hiệu quả chi phí ($u_{it}$) bằng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) với hàm chi phí Translog (Berger và ctg, 2010; Weill, 2013):
$$\ln\left(\frac{C}{w_3 Z}\right){it} = \alpha_0 + \sum{j=1}^{4}\beta_j \ln\left(\frac{y_j}{Z}\right){it} + \frac{1}{2}\sum{j=1}^{4}\sum_{k=1}^{4}\beta_{jk} \ln\left(\frac{y_j}{Z}\right){it} \ln\left(\frac{y_k}{Z}\right){it} + \sum_{l=1}^{2}\gamma_l \ln\left(\frac{w_l}{w_3}\right){it} + \frac{1}{2}\sum{l=1}^{2}\sum_{m=1}^{2}\gamma_{lm} \ln\left(\frac{w_l}{w_3}\right){it} \ln\left(\frac{w_m}{w_3}\right){it} + \sum_{j=1}^{4}\sum_{l=1}^{2}\delta_{jl} \ln\left(\frac{y_j}{Z}\right){it} \ln\left(\frac{w_l}{w_3}\right){it} + v_{it} + u_{it}$$
Trong đó: $C$ là tổng chi phí; $Z$ là tổng tài sản; các sản lượng đầu ra $y$ gồm cho vay, tiền gửi, tài sản thanh khoản/hoán đổi; các giá đầu vào $w$ gồm giá vốn quỹ ($w_1$), giá vốn hoạt động ($w_2$) và giá lao động ($w_3$). Thành phần $u_{it} \ge 0$ đo lường mức độ kém hiệu quả chi phí (inefficiency).
3. Đo lường Rủi ro ngân hàng:
- Tỷ số tài chính: Rủi ro dự phòng tín dụng (RRTD) đo lường bằng tỷ lệ tổn thất tín dụng trích lập trên tổng tài sản:
$$RRTD = \frac{\text{Tổn thất tín dụng}}{\text{Tổng tài sản}}$$
- Hàm sản xuất kỹ thuật: Rủi ro kém hiệu quả ổn định (KHQOĐ) trích xuất từ mô hình biên ngẫu nhiên SFA trên cơ sở chuẩn hóa chỉ số $Z\text{-score}$ (Fang và ctg, 2011; Tan, 2016).
Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ cơ sở dữ liệu Bankscope và Orbis Bank Focus kết hợp báo cáo tài chính kiểm toán của 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2000 – 2018.
Quy trình kinh tế lượng định lượng được thiết kế qua ba giai đoạn:
- Mô hình trạng thái tĩnh: Áp dụng phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát cho dữ liệu bảng (Fitted for panel data by GLS) kết hợp kỹ thuật hiệu chỉnh sai số chuẩn Driscoll và Kraay (1998) nhằm xử lý triệt để hiện tượng phương sai thay đổi, tự tương quan và phụ thuộc chéo.
- Mô hình trạng thái động: Sử dụng phương pháp ước lượng sai phân bậc một của moment tổng quát hai bước hiệu chỉnh (First-Difference GMM - FDGMM) theo Arellano và Bond (1991), Anderson và Hsiao (1981), Roodman (2009) để kiểm soát tương quan chuỗi và tính nội sinh tiềm tàng của các biến trễ.
- Mô hình tác động đồng thời: Ước lượng hệ phương trình cấu trúc bằng phương pháp hồi quy hệ biểu thức dường như không tương quan (Seemingly Unrelated Regression - SUR) của Zellner (1962). Kỹ thuật này xử lý hiện tượng tương quan giữa các phần dư của từng phương trình riêng lẻ trong hệ thống, đảm bảo ước lượng thu được là tuyến tính không chệch tốt nhất (BLUE) (Greene, 2012; Baltagi, 2008).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Giới thiệu
Chương mở đầu xác lập bối cảnh thực tiễn của hệ thống NHTM Việt Nam trong quá trình hội nhập, tự do hóa tài chính và đối mặt với cạnh tranh từ các ngân hàng nước ngoài. Tác giả nêu rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu ĐDH, xác định khoảng trống học thuật về tương tác đồng thời giữa ĐDH, hiệu quả và rủi ro. Chương 1 thiết lập hệ thống 3 câu hỏi nghiên cứu, 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể, xác định đối tượng nghiên cứu, phạm vi không gian (25 NHTM chiếm 89,91% tổng tài sản hệ thống năm 2018) và phạm vi thời gian (2000–2018), đồng thời sơ họa quy trình nghiên cứu logic 5 bước.
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm
Chương 2 phân tích chuyên sâu các khái niệm bản chất và phương pháp đo lường của 6 loại hình ĐDH (tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập, chủ sở hữu, địa lý), các tiêu chí đo lường HQHĐKD (tỷ số tài chính, hàm sản xuất kỹ thuật Translog SFA) và các loại hình rủi ro ngân hàng (thị trường, lãi suất, tổng thể, đặc thù, dự phòng tín dụng, kém hiệu quả ổn định). Tác giả tổng hợp hệ thống các lý thuyết kinh tế nền tảng (lý thuyết tăng trưởng, RBV, tính kinh tế theo phạm vi, lý thuyết đại diện, lý thuyết danh mục đầu tư). Đồng thời, chương 2 tổng quan chi tiết các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế và trong nước qua các bảng tổng hợp (Bảng 2.2 đến 2.6), từ đó định vị rõ các khe hở nghiên cứu làm tiền đề cho việc xây dựng mô hình.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3 xây dựng chi tiết hệ thống mô hình thực nghiệm và định nghĩa toàn bộ biến số:
- Thiết lập mô hình hồi quy một chiều giải thích HQHĐKD và rủi ro ở trạng thái tĩnh (GLS, Driscoll-Kraay) và trạng thái động (FDGMM).
- Thiết lập hệ phương trình hồi quy đồng thời ba yếu tố ĐDH, HQHĐKD và rủi ro (SUR).
- Định nghĩa chi tiết biến phụ thuộc, biến giải thích ĐDH ($Foc_{Deposit}$, $Foc_{Loan}$, $Foc_{Asset}$, $Div_{Income}$), các biến kiểm soát vi mô ngân hàng (quy mô tài sản, tỷ lệ an toàn vốn CAR, tỷ lệ chi phí trên thu nhập...) và vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát).
- Trình bày chi tiết cơ chế phân tích biên ngẫu nhiên SFA đối với dữ liệu bảng để chiết xuất chỉ số kém hiệu quả chi phí ($u_{it}$) và rủi ro kém hiệu quả ổn định.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 4 trình bày toàn bộ kết quả thực nghiệm định lượng từ mẫu 25 NHTM Việt Nam:
- Thống kê mô tả các thành phần cấu thành ĐDH tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập và ma trận hệ số tương quan giữa các biến.
- Các kiểm định chẩn đoán mô hình: kiểm định phương sai thay đổi, tự tương quan chuỗi, hiện tượng đa cộng tuyến (VIF) và tính nội sinh của biến công cụ (Sargan/Hansen test, Arellano-Bond AR(1), AR(2)).
- Kết quả ước lượng tác động một chiều ở mô hình tĩnh và mô hình động: chỉ ra chiều hướng tác động của từng loại hình ĐDH đến tỷ số sinh lời (ROA, ROE), chỉ số kém hiệu quả chi phí SFA, rủi ro dự phòng tín dụng và rủi ro kém hiệu quả ổn định.
- Kết quả ước lượng hệ phương trình SUR về tác động đồng thời: xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau, tác động qua lại đồng thời giữa các quyết định ĐDH, mức độ hiệu quả kinh doanh và trạng thái rủi ro của ngân hàng.
- Thảo luận đối chiếu kết quả với các lý thuyết nền tảng và nghiên cứu thực nghiệm của Berger và ctg (2010), Acharya và ctg (2006), Stiroh (2004).
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương cuối cùng tổng kết các phát hiện nghiên cứu chính yếu và đề xuất 6 nhóm hàm ý chính sách quản trị cho các NHTM Việt Nam: hoạch định chiến lược kinh doanh ĐDH; định hướng quản trị rủi ro; quản trị nợ xấu và dự phòng rủi ro; quản trị vận hành tối ưu chi phí kỹ thuật; điều tiết tăng trưởng tín dụng an toàn; cân bằng chiến lược giữa hiệu quả sinh lời và rủi ro. Chương 5 cũng nêu các khuyến nghị điều hành đối với Ngân hàng Nhà nước, xác định các đóng góp mới, thừa nhận những hạn chế về số liệu và gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Luận án củng cố và hoàn thiện khung phân tích thực nghiệm về ĐDH trong hệ thống ngân hàng thương mại tại các thị trường mới nổi bằng cách tiếp cận tích hợp đồng thời 4 khía cạnh hoạt động: tiền gửi, tín dụng, tài sản và thu nhập.
- Vượt qua giới hạn của các nghiên cứu trước đây chỉ sử dụng tỷ số tài chính kế toán đơn lẻ, luận án đã ứng dụng thành công phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (SFA) trên dữ liệu bảng để trích xuất chỉ số kém hiệu quả chi phí và rủi ro kém hiệu quả ổn định, cung cấp bức tranh toàn diện về năng lực vận hành kỹ thuật của ngân hàng.
- Luận án chứng minh sự tồn tại của mối quan hệ tác động đồng thời giữa ĐDH, HQHĐKD và rủi ro thông qua kỹ thuật ước lượng hệ phương trình SUR, giải quyết thỏa đáng vấn đề nội sinh và tương quan chéo giữa các phương trình cấu trúc.
Đóng góp thực tiễn và các giải pháp đề xuất
- Hoạch định hoạt động kinh doanh: Các NHTM cần cân nhắc mức độ ĐDH phù hợp, tránh tình trạng ĐDH phân tán quá mức vào các lĩnh vực phi truyền thống khi chưa làm chủ năng lực quản trị công nghệ và nhân sự, nhằm ngăn chặn nguy cơ bùng phát chi phí đại diện.
- Quản trị rủi ro và nợ xấu: Xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng chặt chẽ theo chuẩn mực kế toán và quy định phân loại nợ của Ngân hàng Nhà nước; kiểm soát chặt chẽ tỷ trọng tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.
- Tối ưu hóa quản trị vận hành: Ứng dụng công nghệ ngân hàng số để cắt giảm chi phí hoạt động đầu vào ($w_1, w_2, w_3$), thu hẹp độ lệch kém hiệu quả kỹ thuật so với biên sản xuất tối ưu.
- Chính sách điều hành vĩ mô: Ngân hàng Nhà nước có thêm căn cứ thực nghiệm để hoàn thiện các quy định an toàn vốn (CAR), giám sát mức độ tập trung tín dụng và sử dụng công cụ ĐDH như một kênh điều tiết ổn định hệ thống.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Mẫu nghiên cứu giới hạn ở 25 NHTM do yêu cầu nghiêm ngặt về tính đầy đủ và liên tục của chuỗi dữ liệu trong suốt giai đoạn 2000–2018, dẫn đến việc phải loại bỏ một số ngân hàng thiếu dữ liệu.
- Trong quá trình ước lượng hàm sản xuất kỹ thuật SFA, do nhiều ngân hàng thương mại không công bố công khai số lượng nhân sự đầy đủ qua các năm, tác giả phải sử dụng chỉ tiêu tổng tài sản để chuẩn hóa đại diện cho biến giá lao động ($w_3$).
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ các tổ chức tín dụng cổ phần, ngân hàng liên doanh và ngân hàng 100% vốn nước ngoài khi hệ thống công bố thông tin tài chính minh bạch và đồng bộ hơn.
- Cập nhật chuỗi dữ liệu sau năm 2018 nhằm đánh giá thêm tác động của các cú sốc vĩ mô bất thường (thiên tai, dịch bệnh toàn cầu, biến động địa chính trị) đến mối quan hệ giữa ĐDH, hiệu quả và rủi ro ngân hàng.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên sâu có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tham khảo quy trình phân tích kinh tế lượng dữ liệu bảng đa tầng (từ mô hình tĩnh GLS/Driscoll-Kraay, mô hình động FDGMM đến hệ phương trình cấu trúc đồng thời SUR) và kỹ thuật ước lượng hàm chi phí Translog bằng phương pháp biên ngẫu nhiên (SFA).
- Giảng viên và nhà nghiên cứu kinh tế: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy, phát triển các hướng nghiên cứu chuyên sâu về quản trị ngân hàng thương mại, lý thuyết danh mục đầu tư và kiểm soát rủi ro tài chính.
- Ban điều hành các NHTM: Ứng dụng các phát hiện thực nghiệm để tái cơ cấu danh mục huy động vốn, phân bổ tín dụng, cơ cấu lại tài sản sinh lời và chuyển dịch hợp lý tỷ trọng thu nhập ngoài lãi.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Ngân hàng Nhà nước): Tham khảo làm cơ sở khoa học cho việc ban hành chính sách giám sát an toàn vĩ mô, điều tiết tăng trưởng tín dụng và hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro hệ thống.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu nghiên cứu của luận án gồm bao nhiêu ngân hàng và có tính đại diện như thế nào đối với hệ thống NHTM Việt Nam?
Mẫu nghiên cứu gồm 25 NHTM hoạt động liên tục trong giai đoạn 2000–2018. Đến ngày 31/12/2018, 25 ngân hàng này nắm giữ 8.185 nghìn tỷ đồng tổng tài sản (chiếm 89,91% tổng tài sản toàn hệ thống) và 350.068 tỷ đồng vốn điều lệ (chiếm 84,33% tổng vốn điều lệ toàn hệ thống), đảm bảo tính đại diện cao cho toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam.
2. Bốn loại hình đa dạng hóa được phân tích trong luận án là gì và đo lường ra sao?
Bốn loại hình ĐDH gồm: ĐDH tiền gửi (5 thành phần), ĐDH tín dụng (5 phân khúc), ĐDH tài sản (4 nhóm tài sản) và ĐDH thu nhập (thu nhập từ lãi và ngoài lãi). Ba loại hình đầu được đo lường bằng chỉ số tập trung Hirschman Herfindahl Index ($Foc = \sum (Q_i/Q)^2$), loại hình ĐDH thu nhập đo lường theo chỉ số phân tán $Div = 1 - (SH_{NET}^2 + SH_{NON}^2)$ và chỉ số dịch vụ $DIV_COM$.
3. Luận án sử dụng phương pháp nào để đo lường hiệu quả và rủi ro ngoài các tỷ số tài chính?
Bên cạnh tỷ số kế toán (ROA, ROE, NIM, tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng), luận án áp dụng phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên (Stochastic Frontier Analysis - SFA) với dạng hàm chi phí Translog trên dữ liệu bảng để ước lượng chỉ số kém hiệu quả chi phí ($u_{it}$) và rủi ro kém hiệu quả ổn định (chuẩn hóa từ $Z\text{-score}$).
4. Kỹ thuật kinh tế lượng nào được sử dụng để kiểm định tác động đồng thời giữa ba yếu tố?
Luận án sử dụng phương pháp ước lượng hồi quy hệ biểu thức dường như không tương quan (Seemingly Unrelated Regression - SUR của Zellner, 1962). Kỹ thuật này cho phép các phần dư giữa các phương trình trong hệ thống tương quan với nhau, xử lý tốt tính nội sinh và đem lại ước lượng tuyến tính không chệch tốt nhất (BLUE).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Võ Đức Thọ đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và cung cấp các bằng chứng thực nghiệm vững chắc về tác động một chiều và tác động đồng thời của bốn loại hình đa dạng hóa (tiền gửi, tín dụng, tài sản, thu nhập) đến hiệu quả kinh doanh và rủi ro tại 25 NHTM Việt Nam giai đoạn 2000–2018. Việc tích hợp phương pháp phân tích biên ngẫu nhiên SFA cùng hệ phương trình cấu trúc SUR là đóng góp quan trọng về mặt phương pháp luận kinh tế lượng ứng dụng trong ngành ngân hàng. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chiến lược ngân hàng và cơ quan quản lý nhà nước trong việc điều tiết chính sách phát triển hệ thống ngân hàng an toàn và bền vững.