Luận án về giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại doanh nghiệp xăng dầu miền Bắc

Chuyên khảo kinh tế phân tích Luận án giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng

Trường đại học

Học viện Tài chính

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

229
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP

1.1. Khái niệm, đặc trưng và phân loại vốn kinh doanh

1.2. Khái niệm vốn kinh doanh

1.3. Đặc trưng của vốn kinh doanh

1.4. Phân loại vốn kinh doanh

1.5. Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp

1.5.1. Khái niệm, mục tiêu quản trị vốn kinh doanh

1.5.2. Nội dung quản trị vốn kinh doanh

1.5.3. Các chỉ tiêu phản ánh tình hình quản trị VKD của doanh nghiệp

1.5.4. Các nhân tố ảnh hưởng quản trị vốn kinh doanh

1.5.4.1. Nhóm nhân tố chủ quan
1.5.4.2. Nhóm nhân tố khách quan

1.5.5. Tác động của quản trị vốn kinh doanh đến khả năng sinh lời

1.6. Kinh nghiệm quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp ở một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho các doanh nghiệp Việt Nam

1.6.1. Kinh nghiệm quản trị VKD của doanh nghiệp ở một số nước

1.6.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho các doanh nghiệp Việt Nam

1.7. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XĂNG, DẦU MIỀN BẮC

2.1. Tổng quan về các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

2.1.1. Tổng quan về thị trường kinh doanh xăng, dầu Việt Nam

2.1.2. Tổng quan về các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

2.1.3. Khái quát kết quả kinh doanh của các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

2.2. Thực trạng quản trị VKD tại các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc giai đoạn 2013-2017

2.2.1. Thực trạng về phân cấp, phân quyền quản lý và thiết lập các trung tâm trách nhiệm trong doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

2.2.2. Thực trạng VKD và nguồn vốn kinh doanh

2.2.3. Thực trạng quản trị VKD tại các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

2.2.4. Đánh giá tác động của quản trị VKD tới khả năng sinh lời của các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc bằng phương pháp định lượng

2.2.4.1. Cơ sở lựa chọn mô hình nghiên cứu
2.2.4.2. Dữ liệu nghiên cứu
2.2.4.3. Phương pháp nghiên cứu
2.2.4.4. Giả thuyết về mối tương quan giữa hiệu quả kinh doanh và các nhân tố ảnh hưởng
2.2.4.5. Các biến trong mô hình
2.2.4.6. Mô hình hồi quy ước lượng bình phương
2.2.4.7. Mô hình ảnh hưởng cố định (FEM)
2.2.4.8. Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM)
2.2.4.9. Đánh giá chung về thực trạng quản trị VKD tại các DN kinh doanh xăng, dầu miền Bắc
2.2.4.10. Kết quả đạt được
2.2.4.11. Nguyên nhân hạn chế

2.3. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP KINH DOANH XĂNG, DẦU MIỀN BẮC

3.1. Mục tiêu, định hướng phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc những năm tới

3.1.1. Bối cảnh kinh tế - xã hội trong nước và quốc tế

3.1.2. Mục tiêu, định hướng phát triển của các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc đến 2025 và tầm nhìn 2035

3.2. Các quan điểm cần quán triệt trong việc đề xuất các giải pháp hoàn thiện

3.3. Giải pháp chủ yếu tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

3.3.1. Đổi mới cơ cấu tổ chức bộ máy kinh doanh, lập các trung tâm trách nhiệm quản lý và thực hiện phân cấp, phân quyền trong doanh nghiệp

3.3.2. Xây dựng cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng linh hoạt đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận

3.3.3. Tăng cường quản trị các thành phần vốn kinh doanh

3.3.4. Tổ chức phân tích định kỳ và thường xuyên tình hình tài chính

3.3.5. Đổi mới quy trình và phương thức bán hàng

3.3.6. Các giải pháp khác

3.4. Điều kiện để các giải pháp được thực hiện

3.4.1. Đối với Nhà nước

3.4.2. Đối với ngành kinh doanh xăng, dầu

3.4.3. Đối với các doanh nghiệp kinh doanh xăng, dầu miền Bắc

3.5. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NCKH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giới thiệu về quản trị vốn kinh doanh xăng dầu

Quản trị vốn là một yếu tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh, đặc biệt trong ngành xăng dầu. Quản trị vốn không chỉ giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động mà còn tối ưu hóa lợi nhuận. Ngành xăng dầu có đặc thù riêng, với sự biến động lớn về giá cả và nhu cầu. Do đó, việc áp dụng các giải pháp quản lý hiệu quả là cần thiết để tăng cường hiệu quả trong quản trị vốn. Theo nghiên cứu, việc quản lý vốn không hiệu quả có thể dẫn đến tình trạng thua lỗ và mất khả năng cạnh tranh. Do đó, các doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược quản lý tài chính chặt chẽ, từ đó nâng cao khả năng sinh lời và phát triển bền vững.

1.1. Tầm quan trọng của quản trị vốn trong ngành xăng dầu

Ngành xăng dầu đóng vai trò chiến lược trong nền kinh tế, ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực khác nhau. Quản lý tài chính trong ngành này không chỉ liên quan đến việc duy trì nguồn vốn mà còn phải đảm bảo tính linh hoạt trong việc ứng phó với biến động thị trường. Việc quản lý vốn hiệu quả giúp doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa chi phí. Theo một nghiên cứu gần đây, các doanh nghiệp có chiến lược quản lý vốn tốt thường có khả năng sinh lời cao hơn so với những doanh nghiệp không chú trọng đến vấn đề này.

II. Thực trạng quản trị vốn tại các doanh nghiệp xăng dầu miền Bắc

Thực trạng quản trị vốn tại các doanh nghiệp xăng dầu miền Bắc cho thấy nhiều vấn đề cần khắc phục. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa áp dụng các phương pháp quản lý tài chính hiện đại, dẫn đến việc sử dụng vốn không hiệu quả. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ vốn lưu động trên tổng vốn kinh doanh của các doanh nghiệp này còn thấp, ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản. Hơn nữa, việc phân cấp và phân quyền trong quản lý vốn chưa được thực hiện một cách đồng bộ, dẫn đến tình trạng chồng chéo và thiếu hiệu quả trong quản lý rủi ro. Các doanh nghiệp cần có cái nhìn tổng thể hơn về thị trường xăng dầu để đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý.

2.1. Đánh giá hiệu quả quản trị vốn

Đánh giá hiệu quả quản trị vốn tại các doanh nghiệp xăng dầu miền Bắc cho thấy nhiều doanh nghiệp chưa đạt được mục tiêu đề ra. Các chỉ tiêu như tỷ suất lợi nhuậnvòng quay vốn còn thấp, cho thấy việc sử dụng vốn chưa hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào nguồn vốn vay, dẫn đến áp lực tài chính lớn. Việc áp dụng các công nghệ mới trong ngành xăng dầu cũng chưa được chú trọng, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh. Do đó, cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này.

III. Giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh xăng dầu

Để tăng cường quản trị vốn tại các doanh nghiệp xăng dầu miền Bắc, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu. Đầu tiên, cần đổi mới cơ cấu tổ chức và thiết lập các trung tâm trách nhiệm trong quản lý vốn. Việc này sẽ giúp phân định rõ ràng trách nhiệm và quyền hạn trong quản lý tài chính. Thứ hai, xây dựng cơ cấu vốn hợp lý, sử dụng linh hoạt đòn bẩy tài chính để gia tăng lợi nhuận. Cuối cùng, tổ chức phân tích định kỳ tình hình tài chính để kịp thời điều chỉnh chiến lược kinh doanh. Các giải pháp này không chỉ giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững của ngành xăng dầu.

3.1. Đổi mới cơ cấu tổ chức

Đổi mới cơ cấu tổ chức là một trong những giải pháp quan trọng để tăng cường quản lý vốn. Việc thiết lập các trung tâm trách nhiệm sẽ giúp các doanh nghiệp có thể quản lý vốn một cách hiệu quả hơn. Các trung tâm này sẽ chịu trách nhiệm về việc sử dụng và quản lý vốn, từ đó nâng cao khả năng sinh lời. Hơn nữa, việc phân cấp và phân quyền trong quản lý sẽ giúp các doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với biến động của thị trường xăng dầu.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ QUẢN TRỊ VỐN KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc trưng và phân loại vốn kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh Vốn kinh doanh là một trong những yếu tố cơ bản không thể thiếu được của bất kỳ giai đoạn nào trong một quá trình SXKD tại bất kỳ doanh nghiệp nào. Vậy, VKD là gì? Cho đến nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về VKD.

Tại những thời điểm và những góc độ nhìn nhận khác nhau có những quan điểm khác nhau về VKD. Samuelson – một nhà kinh tế học của trường phái tân cổ điển, Ông cho rằng vốn là “hàng hóa” được sản xuất ra để phục vụ cho một quá trình sản xuất mới, là “đầu vào” cho hoạt động sản xuất của một DN. Như vậy, VKD có thể tồn tại dưới cả hình thái tiền tệ và hình thái hiện vật như máy móc, thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, hàng hóa trung gian. Theo quan điểm này mới cho thấy trạng thái biểu hiện của vốn, vốn chỉ tham gia vào quá trình sản xuất mà chưa tham gia vào quá trình kinh doanh, chưa thể hiện đầy đủ mục đích sử dụng vốn.

Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong cuốn “Kinh tế học”: Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục vào quá trình SXKD tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi ngân hàng.

Đất đai không được coi là vốn. Theo quan điểm này cho thấy nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, song chưa cho thấy mục đích sử dụng vốn. Thực tế nghiên cứu cho thấy, quá trình SXKD của DN được thực hiện liên tục qua 3 khâu: dự trữ sản xuất, sản xuất, lưu thông. Do đó VKD của DN cũng vận động không ngừng, tạo ra sự tuần hoàn và luân chuyển vốn.

Qúa trình luân chuyển được bắt đầu từ hình thái tiền tệ (T) sang hình thái hàng hóa (H) cụ thể: Khi DN mua sắm các yếu tố đầu vào là TLSX và SLĐ, qua quá trình sản xuất giá trị TLSX và SLĐ sẽ được chuyển dần vào giá trị sản phẩm và vốn trở lại hình thái (H’). Kết 14 thúc việc tiêu thụ sản phẩm, vốn trở lại hình thái tiền tệ (T’). Để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của DN, số tiền thu được do tiêu thụ sản phẩm phải đảm bảo bù đắp toàn bộ các chi phí đã bỏ ra và có lãi. Như vậy, số tiền đã ứng ra ban đầu không những được bảo toàn mà nó còn được tăng thêm do hoạt động kinh doanh mang lại.

Toàn bộ giá trị ứng ra ban đầu và các quá trình tiếp theo của SXKD được gọi là vốn. Vốn được biểu hiện cả bằng tiền lẫn cả giá trị vật tư tài sản và hàng hóa của DN, tồn tại dưới cả hình thái vật chất cụ thể và không có hình thái vật chất cụ thể. Ở nước ta, cũng có một số quan điểm về vốn được đưa ra trong thời gian gần đây. Nhóm tác giả biên soạn giáo trình Tài chính doanh nghiệp thuộc Đại học Kinh tế quốc dân cho rằng “Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”[18].

Theo quan điểm của các nhà khoa học Học viện Tài chính,“vốn kinh doanh của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN”[ 26 ]. Theo đó, có thể hiểu vốn kinh doanh chính là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà DN đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận. Bên cạnh đó, khái niệm về vốn được đưa ra trong nghiên cứu của một số tác giả như sau:“ Vốn là biểu hiện bằng tiền của các yếu tố đầu vào (nhà xưởng, máy móc thiết bị, vật tư hàng hoá, nguồn nhân lực, tiền bạc, uy tín của doanh nghiệp trên thị trường, …) được huy động và sử dụng cho quá trình hoạt động SXKD của doanh nghiệp nhằm mục đích sinh lời”, [ 21 ]. “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ tư liệu sản xuất, được doanh nghiệp sử dụng một cách hợp lý và có kế hoạch vào hoạt động kinh doanh nhằm đạt mục tiêu lợi nhuận” [ 10 ].

Qua phân tích trên, tác giả đồng nhất quan niệm về VKD trong giáo trình Tài chính DN của Học viện tài chính: VKD của DN là toàn bộ số tiền ứng trước mà DN bỏ ra để đầu tư hình thành các tài sản cần thiết cho hoạt động SXKD của DN. Nói các khác, đó là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị các tài sản mà DN đã đầu tư và sử dụng vào hoạt động SXKD nhằm mục đích thu lợi nhuận. 15 Khái niệm trên cho thấy một sự phân định giữa tiền và vốn. Thông thường có tiền sẽ làm nên vốn, nhưng tiền chưa hẳn là vốn.

Tiền muốn trở thành VKD thì phải thỏa mãn đồng thời một số điều kiện sau: Một là: Tiền phải đại diện cho một lượng tài sản có thực; Hai là: Tiền phải được tập trung, tích tụ đến một lượng nhất định đủ để đầu tư vào một dự án kinh doanh; Ba là: Tiền phải được vận động nhằm mục đích sinh lời. Đặc trưng của vốn kinh doanh VKD có một số đặc trưng cơ bản sau đây: - Thứ nhất: Vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản nhất định. Có nghĩa là vốn đại diện cho giá trị biểu hiện bằng tiền của tài sản hữu hình và tài sản vô hình sử dụng trong hoạt động SXKD của DN như: nhà xưởng, vật kiến trúc, đất đai, máy móc trang thiết bị, quyền phát minh sáng chế, vị trí địa lý… Do đó, để quản lý tốt VKD, DN phải quản lý chặt chẽ về cả hai mặt giá trị và hiện vật. - Thứ hai: Vốn phải vận động sinh lời.

Mục đích vận động của vốn trong DN là vốn phải sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là tiền, lượng tiền thu về phải lớn hơn lượng tiền bỏ ra. Đây là nguyên tắc cơ bản của việc bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Phương thức vận động của vốn do phương thức đầu tư kinh doanh quy định.

Trong lĩnh vực sản xuất: T – H .- H’ – T’; Trong lĩnh vực thương mại: T - .- T’; Trong lĩnh vực đầu tư tài chính: T- .- T’; Thực tế một DN có thể vận dụng một hoặc đồng thời cả ba phương thức đầu tư trên, miễn sao là bảo toàn và phát triển được vốn, đạt được mức sinh lời cao nhất. Quá trình tuần hoàn chu chuyển VKD của DN nhanh hay chậm phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng ngành kinh doanh và phụ thuộc vào tổ chức SXKD của từng DN. - Thứ ba: Vốn chỉ phát huy tác dụng khi được tích tụ tập trung tới một lượng nhất định. Bởi bất kì DN nào cũng có lợi thế riêng nhưng nếu lượng vốn không đủ lớn thì không thể phát huy tối đa lợi thế đó, khó tiến hành kinh doanh hay đầu tư.

Vì 16 vậy, DN luôn cần một lượng vốn đủ lớn để đáp ứng yêu cầu tối thiểu đặt ra trong kinh doanh, đòi hỏi DN phải lập kế hoạch để huy động đủ lượng vốn cần thiết. - Thứ tư: Vốn có giá trị về mặt thời gian, một đồng vốn bỏ ra ngày hôm nay sẽ khác với một đồng vốn bỏ ra vào ngày mai. Điều này rất có ý nghĩa khi bỏ vốn vào đầu tư và xem xét hiệu quả mà nó mang lại, chính vì vậy xem xét giá trị thời gian của đồng vốn chính là điều cần quan tâm khi huy động và sử dụng vốn của các DN. - Thứ năm: Vốn phải được gắn liền với một chủ sở hữu nhất định và được sử dụng có hiệu quả.

Vì chỉ có những đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu nhất định, việc sử dụng vốn gắn liền với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì đồng vốn đó mới được sử dụng tiết kiệm và có hiệu quả. VKD của DN được huy động từ nhiều nguồn khác nhau mỗi nguồn lại có chi phí sử dụng vốn khác nhau.Việc sử dụng VKD có hiệu quả cũng gắn liền với việc DN lựa chọn được cơ cấu vốn tối ưu có chi phí sử dụng vốn bình quân thấp nhất. - Thứ sáu: Vốn được quan niệm như một loại hàng hóa và là hàng hóa đặc biệt. Vốn là hàng hóa vì nó có giá trị và giá trị sử dụng như mọi loại hàng hóa khác.

Nhưng khác với hàng hóa thông thường quyền sở hữu với quyền sử dụng vốn có thể gắn liền cũng có thể tách rời nhau. Chính vì thế người ta chỉ mua bán quyền sử dụng vốn trên thị trường. Những người cần vốn đến thị trường huy động vốn phải trả một khoản chi phí sử dụng vốn nhất định cho người sở hữu nguồn vốn để được quyền sử dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định. Phân loại vốn kinh doanh Để thuận tiện cho công tác quản lý, sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả cao cũng như giúp DN có biện pháp huy động vốn có hiệu quả, nhà quản trị cần phải nhận biết được các loại vốn mà doanh nghiệp đang sử dụng cho hoạt động SXKD.

Trên các góc độ khác nhau thì VKD được chia làm nhiều loại khác nhau. Phân loại vốn theo kết quả của hoạt động đầu tư: Theo tiêu thức này, VKD của DN được chia thành VKD đầu tư vào tài sản lưu động, VKD đầu tư vào TSCĐ và VKD đầu tư vào tài sản tài chính của DN. 17 + VKD đầu tư vào TSLĐ là số vốn đầu tư để hình thành các TSLĐ phục vụ cho hoạt động SXKD của DN, bao gồm các loại vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của DN. + VKD đầu tư vào TSCĐ là số vốn đầu tư để hình thành các TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình như nhà xưởng, vật kiến trúc, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, truyền dẫn.

+ VKD đầu tư vào tài sản tài chính là số vốn DN đầu tư vào các tài sản tài chính như: cổ phiếu, trái phiếu DN, trái phiếu chính phủ, kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Giải pháp tăng cường quản trị vốn kinh doanh tại doanh nghiệp xăng dầu miền Bắc" của tác giả Ngô Thị Minh, dưới sự hướng dẫn của TS Đoàn Minh Phụng tại Học viện Tài chính, tập trung vào việc cải thiện quản trị vốn kinh doanh trong ngành xăng dầu tại miền Bắc Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ phân tích các vấn đề hiện tại mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm tối ưu hóa việc sử dụng vốn, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức quản lý vốn hiệu quả, cũng như các chiến lược có thể áp dụng để cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của quản trị kinh doanh, có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về tạo động lực cho người lao động tại VNPT Thanh Hóa, nơi nghiên cứu về động lực làm việc trong doanh nghiệp, hay Năng suất lao động của giao dịch viên tại quầy giao dịch ngân hàng thương mại cổ phần công thương Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu quả lao động trong ngành ngân hàng. Cả hai tài liệu này đều liên quan đến quản trị và tối ưu hóa nguồn lực, giúp bạn mở rộng kiến thức trong lĩnh vực quản trị kinh doanh.