chương 1, nội dung của chương 2 cung cấp cơ sở lý thuyết về đa dạng hóa, hiệu quả hoạt động kinh doanh và rủi ro. Bên cạnh đó, chương này trình bày lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong nước và ngoài nước về tác động của ĐDH đến HQHĐKD và ngược lại; tác động của ĐDH đến rủi ro và ngược lại; tác động của HQHĐKD đến rủi ro và ngược lại. Từ đó, luận án đưa ra các khe hở nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm chứng. Đa dạng hóa tại ngân hàng thương mại Khái niệm Theo Oxford (2005), đa dạng hóa (diversification) được định nghĩa là không đồng nhất, khác biệt, ĐDH là hoạt động mở rộng hệ thống các kỹ năng, các sản phẩm dịch vụ, các nguồn lực.
nhằm tạo ra hiệu quả hoặc giảm thiểu rủi ro. Thuật ngữ này được ứng dụng trong doanh nghiệp (bao gồm các công ty hoạt động sản xuất kinh doanh và tổ chức hoạt động tài chính tiền tệ như các NHTM), nó đã đề cập tới nhiều khía cạnh ĐDH khác nhau của doanh nghiệp/ngân hàng. Ngoài ra, theo lịch sử thời gian, khái niệm ĐDH được các học giả định nghĩa theo từng khía cạnh khác nhau, cụ thể: Theo Kenny (2009) nhận định, việc trả lời cho câu hỏi thế nào là ĐDH là không dễ dàng đối với cả các nhà nghiên cứu và nhà quản lý. Theo Hall và John (1994); Lang và Stulz (1994); Lubatkin và ctg, (1993) và Robins và Wiersema (2003) nhận định tính phức tạp của ĐDH, cho rằng ĐDH là thang đo đa hướng và được cấu thành bởi rất nhiều thang đo thành phần.
Theo Ansoff (1957), ĐDH liên quan đến thay đổi các đặc tính của các dòng sản phẩm, từ đó làm thay đổi cấu trúc thị trường của doanh nghiệp/ngân hàng. Với lý luận này, ĐDH tiếp cận ở 2 khía cạnh tổng quát là ĐDH sản phẩm và ĐDH thị trường mới trong mối liên hệ mật thiết với nhau. Với định nghĩa này, Ansoft với tác phẩm “Chiến lược ĐDH” có thể được xem là tác giả đặt nền móng đầu tiên nghiên cứu về ĐDH trong hoạt động của doanh nghiệp/ngân hàng. Nghiên cứu của Ansoft cho rằng 14 ĐDH là loại hình chiến lược của doanh nghiệp/ngân hàng, với tên gọi “chiến lược ĐDH”.
Chiến lược ĐDH phân thành 2 loại hình chiến lược, đó là chiến lược ĐDH theo chiều dọc (vertical diversification strategy) và chiến lược ĐDH theo chiều ngang (horizontal diversification strategy). Quan điểm của Ansoft về ĐDH chủ yếu hướng về thị trường và đánh giá doanh nghiệp/ngân hàng có được gọi là ĐDH hay không theo hướng tiếp cận này. Một vài tác giả khác sau này như Levitt (2004); Abell (1980); Chandler Jr (1990) cũng đồng thuận cách tiếp cận này. Sau đó, Gort (1962), đã đưa ra định nghĩa tiếp theo về ĐDH.
Theo tác giả, ĐDH mang ý nghĩa “tính không đồng nhất của sản phẩm đầu ra” (heterogeneity output) căn cứ vào số lượng thị trường mà các sản phẩm cung ứng. Tiếp đến, Booz và ctg (1985) định nghĩa ĐDH căn cứ vào mục đích của ĐDH, ĐDH được xem như phương tiện để tăng trưởng doanh thu hoặc giảm thiểu rủi ro tổng thể khi mở rộng lĩnh vực kinh doanh nền tảng. Hoạt động ĐDH bao gồm tất cả những loại đầu tư, ngoại trừ những đầu tư nhằm tăng tính cạnh tranh của những lĩnh vực kinh doanh hiện hữu, tức không phải hoạt động kinh doanh mới trong kinh doanh, đó là những loại đầu tư có thể tạo ra sản phẩm-dịch vụ mới, phân khúc khách hàng mới, hoặc thị trường địa lý mới. Việc đầu tư này có thể được thực hiện bằng nhiều phương pháp khác nhau như tự phát triển bên trong tổ chức, các hoạt động đầu tư trực tiếp, mua bán sáp nhập.
Như vậy ĐDH áp dụng cho doanh nghiệp/ngân hàng có những đặc điểm (i) ĐDH được xem là chiến lược quan trọng; (ii) ĐDH với mục tiêu tăng trưởng nhiều hơn mục tiêu phòng ngừa rủi ro; (iii) ĐDH theo định hướng thị trường, hướng tới môi trường bên ngoài của tổ chức, cụ thể, ĐDH được nhìn nhận ở góc độ ĐDH sản phẩm, thị trường địa lý hoặc ngành nghề kinh doanh hay lĩnh vực kinh doanh. Xét về lơ ̣i ích của ĐDH, theo Boot và Schmeits (2000), những rủi ro và tổ n ha ̣i tiềm tàng của kiê ̣t quê ̣ tài chiń h hay rủi ro phá sản đã đươ ̣c cắ t giảm bởi viê ̣c ĐDH rộng khắp các hoa ̣t đô ̣ng ở hầ u hế t các liñ h vực, môi trường khác nhau. Nghiên cứu ̣ chuyể n của Boyd và Graham (1988); Rose (1989) minh chứng nếu ngân hàng dich các hoa ̣t đô ̣ng của ho ̣ sang mô ̣t liñ h vực nhấ t định mà không phải là về sản phẩ m của ngân hàng thì sẽ đa ̣t đươ ̣c viê ̣c cắ t giảm rủi ro chi phí dòng tiề n và rủi ro phá sản. 15 Ngoài ra, Templeton và Severiens (1992); Baele và ctg (2007) cho rằng, ĐDH hoa ̣t đô ̣ng ngân hàng vào các hoa ̣t đô ̣ng dich ̣ vu ̣ ngân hàng giúp giảm thiểu rủi ro phi hê ̣ thố ng, giúp cân bằ ng quản tri,̣ từ đó làm cải thiê ̣n HQHĐKD ngân hàng.
́ h ổ n đinh Theo DeYoung và Roland (2001), nghiên cứu về tin ̣ thanh khoản và hoa ̣t đô ̣ng xử lý nơ ̣, từ đó đánh giá so sánh giữa các chi phí phát sinh từ sản phẩ m ngoài hoa ̣t đô ̣ng ngân hàng (chẳ ng ha ̣n như quỹ tương hỗ, dich ̣ vu ̣ xử lý dữ liê ̣u, hay ̣ vu ̣ bấ t đô ̣ng sản) với các sản phẩ m của dich dich ̣ vu ̣ truyề n thố ng của ngân hàng, thể hiện sự cân bằ ng của cả hê ̣ thố ng. Ngoài ra, HQHĐKD ngân hàng tăng hơn nếu mở rộng triển khai các sản phẩ m phi truyề n thố ng, khi đó rủi ro ngân hàng su ̣t giảm qua hoa ̣t đô ̣ng ĐDH. Đồ ng ý với quan điể m này, theo Meslier và ctg (2013), sử du ̣ng mô hiǹ h ước lươ ̣ng của chỉ số tâ ̣p trung (focus index), minh chứng lơ ̣i ić h từ sự dich ̣ chuyể n từ các hoa ̣t đô ̣ng truyề n thố ng sang các hoa ̣t đô ̣ng ngoài laĩ. Kế t quả là lơ ̣i nhuâ ̣n đươ ̣c gia tăng và rủi ro đươ ̣c điề u chin ̉ h.
Theo Kwan (1998), lơ ̣i ić h ĐDH đố i với viê ̣c cải thiê ̣n HQHĐKD ở các NHTM khi có mức tương quan rấ t yế u giữa chứng khoán và trơ ̣ cấ p ngân hàng. Điề u này đươ ̣c xác nhâ ̣n bởi Cornett và ctg (2002), những hiê ̣u chin̉ h dòng tiề n có thể làm tăng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), trong khi rủi ro không còn là yế u tố tác đô ̣ng có ý nghiã. Theo Lang và Stulz (1994), Berger và Ofek (1995), Lamont và Polk (2002) cho rằ ng HQHĐKD của ngân hàng it́ ĐDH sẽ trở nên tê ̣ hơn so với ngân hàng nhiều ĐDH. Đa da ̣ng hóa không đơn thuầ n chỉ mang la ̣i lơ ̣i ić h cho hoa ̣t đô ̣ng ngân hàng mà còn tiề m ẩ n nhiề u trở nga ̣i, ha ̣n chế , gây rủi ro đến HQHĐKD.
Khi đánh giá những cân nhắ c về lơ ̣i ích của ĐDH, nghiên cứu DeYoung và Roland (2001), nhâ ̣n định trong bố i cảnh các ngân hàng ở My,̃ viê ̣c thay đổ i những hoa ̣t đô ̣ng mang tính truyề n thố ng của ngân hàng bằ ng các hoa ̣t đô ̣ng phi ngân hàng sẽ mang la ̣i những bấ t ổ n cao hơn cho dòng tiề n và doanh thu, dẫn đế n những rủi ro lớn hơn cho lơ ̣i nhuâ ̣n ngân hàng. Đồ ng thuận với quan điể m này, Stiroh (2004) đã chứng minh đươ ̣c tác đô ̣ng tiêu cực của ĐDH đến HQHĐKD ngân hàng. Theo Acharya và ctg (2006) những bấ t hơ ̣p lý diễn ra khi có hoa ̣t đô ̣ng ĐDH ngân hàng ở các lĩnh vực khác nhau. Cu ̣ thể , cơ chế quản tri ̣ trở nên yế u hơn, chấ t lươ ̣ng quản lý danh mu ̣c nơ ̣ trở nên yế u 16 kém và vấ n đề ranh giới giữa “chi phí đa ̣i diê ̣n” và HQHĐKD xuất hiện.
Điề u này cũng đươ ̣c xác nhâ ̣n bởi Cerasi và Daltung (2000). Theo Laeven và Levine (2007), các tổ chức tài chiń h/ngân hàng sẽ bi ̣ su ̣t giảm giá tri ̣ thi ̣ trường khi những tổ chức này tiế n hành các hoa ̣t đô ̣ng cho đầ u tư dàn trải. Và lý thuyế t về “chi phí đa ̣i diê ̣n” mô ̣t lầ n nữa minh chứng, những bấ t hơ ̣p lý nô ̣i ta ̣i đã vươ ̣t qua những lơ ̣i ić h thă ̣ng dư của hoa ̣t đô ̣ng ĐDH. Trong khi đó, nghiên cứu ở bố i cảnh các ngân hàng ở Ý, Acharya và ctg (2006) cho rằ ng ĐDH nơ ̣ sẽ không mang lơ ̣i ích vố n có như bản chấ t ban đầ u đă ̣t ra cho nó, không cải thiê ̣n đươ ̣c HQHĐKD và điề u chin ̉ h đươ ̣c rủi ro.
Theo Morgan và Samolyk (2003), nghiên cứu ĐDH địa lý đố i với HQHĐKD (đo lường bằ ng tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản và tỷ suất sinh lợi trên vố n chủ sở hữu), cho rằng mức tiêu cực có ý nghiã thố ng kê của tác động ĐDH đến HQHĐKD. Nghiên cứu ở khu vực ngân hàng Trung Quố c, Berger và ctg (2010) phân tić h mố i quan hê ̣ của ĐDH đố i với HQHĐKD, ĐDH đố i với rủi ro bằ ng 4 khiá ca ̣nh ĐDH ́ du ̣ng (loan diversification), tài sản khác nhau: tiề n gửi (deposit diversification), tin (asset diversification) và địa lý (geographic diversification). Kế t quả, ĐDH có tác đô ̣ng tiêu cực đố i với HQHĐKD, làm giảm doanh thu, lơ ̣i nhuâ ̣n và đẩ y cao chi phi.́ Các loại hình và đo lường đa dạng hóa. Đa dạng hóa là thuật ngữ đã được nhắc đến rất nhiều trong thời gian gần đây khi xu hướng chuyển dịch từ các dịch vụ truyền thống sang các dịch vụ phi truyền thống ngày càng phổ biến.
ĐDH đóng vai trò củng cố hoa ̣t đô ̣ng ngân hàng, giải quyế t những ha ̣n chế của thông tin bấ t cân xứng, xử lý các thông tin thiế t yế u mô ̣t cách có hiê ̣u quả, bằ ng viê ̣c đánh giá tác đô ̣ng của các loa ̣i hiǹ h ĐDH khác nhau lên cả 2 khía ca ̣nh rủi ro hê ̣ thố ng và phi hê ̣ thố ng.