Chương I đã thực hiện một số nội dung chính sau đây: phân tích sự cần thiết của luận văn; đề xuất mục tiêu chính cùng với những mục tiêu cụ thể, các câu hỏi nghiên cứu tương ứng; mô tả đối tượng, phạm vi đối tượng; giới thiệu cách tiếp cận, phương pháp luận Bayes; dữ liệu, các đóng góp kỳ vọng về cách tiếp cận và phương pháp phân tích cũng như các tác động thực tiễn. 6 CHƯƠNG II CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN NGÂN HÀNG VÀ CÁC PHÂN TÍCH THỰC NGHIỆM 2. Lý luận về thu nhập lãi cận biên 2.1 Khái niệm NIM (Net Interest Margin) của NHTM đó là mức sinh lời ròng của tổng tài sản sinh lời (net returns to earning assets). Hay nói cách khác, “NIM là tỷ lệ thu nhập lãi ròng hay chênh lệch lãi (giữa thu nhập lãi và chi phí lãi) trên tổng tài sản sinh lời” (Golin, 2001).
“Tài sản sinh lời bao gồm những chứng khoán đầu tư và khoản mục cho vay (investment securities, loan, leases)” (Golin, 2001).2 Ý nghĩa Về phương diện kinh tế, “NIM thể hiện tỷ suất sinh lời hay hiệu quả của ngân hàng” (Golin, 2001). Hay nói cánh khác, NIM phản ánh một NHTM có khả năng đảm bảo tăng trưởng thu nhập cao hơn so với chi phí bỏ ra. Nếu phân tích chính xác động thái của NIM thông qua việc đánh giá thu nhập kỳ vọng và chi phí cần thực hiện, NHTM sẽ đưa ra những quyết định đầu tư đúng đắn. NIM cao cho thấy một ngân hàng hoạt động hiệu quả.
Đó là bởi vì ngân hàng này kiểm soát tốt chi phí và khai thác hiệu quả các tài sản sinh lời. Về phương diện xã hội, khi các NHTM có NIM lớn, nhưng các chủ thể kinh tế vay vốn đang phải gánh chịu lãi vay cao, thì hệ quả là tác động bất lợi đến tăng trưởng GDP. Các lý thuyết nền tảng 2.1 Lý thuyết Hiệu quả X Theo lý thuyết Hiệu quả X (Tên tiếng Anh: X-efficiency theory), “một ngân hàng đạt hiệu quả cao hơn nếu có ưu thế hơn về quản trị hay tiết kiệm nhiều hơn chi phí hoạt động; từ đó, thu được lợi nhuận cao hơn các ngân hàng khác” (Giordano & 7 Lopes, 2015). Nhờ vận hành năng suất cao, ngân hàng tiết kiệm một phần chi phí đáng lẽ phải bỏ ra, giảm được lãi suất cho vay để thu hút nhiều khách hàng mới, mở rộng thị phần và tăng lợi nhuận.
Bởi vậy, khi ngân hàng đạt một tỷ lệ thấp chi phí trên thu nhập, chứng tỏ ngân hàng này vận hành hiệu quả vì nó giảm đáng kể chi phí và tăng thu nhập. Lý luận trên gợi ý rằng hoạt động quản trị tốt góp phần giảm chi phí cho các NHTM và tăng trưởng NIM.1: Tóm tắt lý thuyết Hiệu quả X 2.2 Lý thuyết Lợi thế kinh tế nhờ quy mô Lợi thế kinh tế nhờ quy mô (Tên tiếng Anh: Economies of scale theory) là một lý thuyết nền tảng khác cần tham khảo. Theo lý thuyết này, mọi công ty tìm cách tăng quy mô sản lượng. Quy mô lớn của công ty cho thấy công ty đó sở hữu lợi thế lớn về chi phí sản xuất bởi vì chi phí trung bình của nó giảm nhờ một mức chi phí sản xuất cố định được phân bổ đều cho mỗi đơn vị sản phẩm.
Thế nhưng, mỗi công ty có một mức quy mô tối ưu nên nếu vượt mức tối ưu đó, lợi ích kinh tế sẽ mất đi. Tương tự, các NHTM vận dụng lý thuyết này để tăng quy mô tới một mức tối ưu nào đó thì khi đó, chúng sẽ vận hành hiệu quả hơn nhờ tiết kiệm đáng kể chi phí. 8 Như vậy, theo luận điểm này, những ngân hàng biết cách tăng quy mô (tăng trưởng tài sản) thì sẽ đạt được mức lợi nhuận lớn hơn.3 Lý thuyết Sức mạnh thị trường tương đối Sức mạnh thị trường tương đối (Tên tiếng Anh: Relative market power) là một cơ sở lý thuyết quan trọng nữa trong phân tích NIM (Giordano & Lopes, 2015). Lý thuyết này chỉ ra rằng nếu một doanh nghiệp tạo được một (những) sản phẩm khác biệt và chiếm lĩnh một thị phần lớn thì nhờ vận hành hiệu quả sẽ có cơ hội lớn cho thu nhập vượt trội.
Tương tự những doanh nghiệp phi tài chính, các NHTM mở rộng thị phần hoặc tăng quy mô thông qua mua bán, sáp nhập và nhờ đó khai thác được sức mạnh thị trường, đề xuất được các mức lãi vay cao hơn cho khách hàng nên nâng cao biên độ (spread) cũng như kiếm được mức lợi nhuận cao hơn. Để tăng biên độ, các NHTM giảm lãi suất tiền gửi và đồng thời tăng lãi vay. Theo suy luận, một ngân hàng mở rộng đáng kể thị phần thì kiếm được mức NIM cao.2: Tóm tắt lý thuyết Sức mạnh thị trường tương đối 9 2. Các phân tích thực nghiệm Một lượng lớn công trình nghiên cứu về NIM cho thấy chủ đề này nhận được mối quan tâm lớn.
Luận văn lược khảo một số phân tích thực nghiệm nổi bật được công bố trong và ngoài nước. Công trình nghiên cứu nước ngoài: Trong số những nghiên cứu nước ngoài (Khediria & Ben-Khedhiri, 2011; Gul & Zaman, 2011; Raharjo & ctg, 2014; Bhati & Mirza, 2018; Singh & van der Wel, 2019), đáng chú ý là một nghiên cứu sớm về NIM được xuất bản vào năm 2011 (Khediria & Ben-Khedhiri, 2011). Áp dụng kỹ thuật REM khá phổ biến, Khediria & Ben-Khedhiri (2011) nghiên cứu mối tương quan của sáu nhân tố đặc thù với NIM tại 10 NHTM Tunisia thời kỳ 1996-2005 và khám phá rằng, ngoại trừ chất lượng quản lý có quan hệ nghịch chiều, các biến chi phí lãi suất ngầm, chi phí hoạt động, chi phí cơ hội của khoản dự trữ, quy mô vốn tương quan cùng chiều với NIM, còn biến rủi ro tín dụng không có ý nghĩa thống kê. Khác với Khediria & Ben-Khedhiri (2011), Gul & ctg (2011) ước lượng bốn mô hình với bốn biến phản hồi (response variable) tương ứng (ROA, NIM, ROE và ROCE) cùng với bảy biến dự báo (predictor variables) dựa trên một bộ dữ liệu bảng bao gồm 15 NHTM Pakistan trong thời kỳ 2005-2009.
Kết quả bằng việc sử dụng một kỹ thuật tần suất đơn giản Pool OLS phát hiện các biến quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và GDP tương quan ngược chiều với NIM, tỷ lệ lạm phát cho kết quả trái ngược, trong khi các biến tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản, tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản và giá trị vốn hóa thị trường không có ý nghĩa thống kê. Đặc biệt, Raharjo & ctg (2014) tập trung vào mối tương quan của 10 nhân tố đặc thù ngân hàng và môi trường vĩ mô đến NIM của 30 NHTM Indonesia trong thời kỳ 2008-2012. Kết quả mô hình FEM phát hiện các biến tăng trưởng tài sản, tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động, ROA, tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ cho vay trên tiền gửi, tỷ lệ nợ xấu, lạm phát tương quan cùng chiều với NIM, trong khi biến 10 tính thanh khoản cho kết quả trái ngược, còn hai biến sức mạnh thị trường và lãi suất không có ý nghĩa thống kê. Gần đây, Bhati & ctg (2018) phân tích NIM của 22 NHTM Pakistan giai đoạn 2006-2015.
Cho mục đích này, sử dụng kỹ thuật REM như Khediria & Ben- Khedhiri (2011), phân tích tìm thấy một mối quan hệ cùng chiều của tỷ lệ chi phí ngoài lãi trên tổng tài sản và tỷ lệ tiền gửi trên tổng tài sản với NIM, trong khi các biến tỷ lệ nợ trên tổng tài sản, rủi ro tín dụng, chi phí cơ hội và rủi ro thanh khoản cho kết quả trái ngược; hai biến vĩ mô GDP và tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê. Mới đây nhất, áp dụng hồi quy GMM cho một mô hình 11 biến giải thích và dữ liệu của 426 NHTM thuộc 15 quốc gia châu Âu thời kỳ 2013-2017, Singh & ctg (2019) tìm thấy một kết quả thú vị: i) Bốn biến bao gồm hiệu quả hoạt động, quy mô tổng tài sản, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên doanh thu hoạt động và tỷ lệ nợ xấu trên nợ chưa trích lập dự phòng tương quan cùng chiều với NIM; ii) Bảy biến còn lại lần lượt là tính thanh khoản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, rủi ro tín dụng, tỷ lệ nợ xấu trên nợ chưa trích lập dự phòng, lạm phát, chỉ số Herfindahl, tăng trưởng GDP và tỷ lệ tín dụng trong nước không có ý nghĩa. Công trình nghiên cứu trong nước: Một số phân tích đáng chú ý tại Việt Nam được lược khảo như Nguyễn Kim Thư & Đỗ Thị Thanh Huyền (2014), Triệu Trường Đăng (2016), Nguyễn Anh Tứ & Phạm Trí Nghĩa (2018), Võ Phúc Trường Thành (2019) và Nguyễn Đình An & Tô Thị Hồng Gấm (2021). Trong Nguyễn Kim Thư & Đỗ Thị Thanh Huyền (2014), một kỹ thuật FEM để đánh giá NIM tại 33 NHTM Việt Nam thời kỳ 2008-2011 mang lại kết quả sau: ngoại trừ chất lượng quản lý có quan hệ trái chiều với NIM, các biến còn lại bao gồm vị thế ngân hàng, rủi ro tín dụng, mức ngại rủi ro, chi phí lãi suất ngầm, biến tương tác giữa rủi ro tín dụng và rủi ro lãi suất, biến phân biệt giữa ngân hàng nhà nước và ngân hàng cổ phần cho kết quả trái ngược.
11 Áp dụng hồi quy GLS cho 21 NHTM Việt Nam thời kỳ 2006-2015, Triệu Trường Đăng (2016) tìm thấy quy mô vốn chủ sở hữu và tỷ trọng cho vay tương quan thuận chiều với NIM; trong khi GDP, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tài sản sinh lãi bình quân và tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập hoạt động cho kết quả trái ngược. Năm biến còn lại là chất lượng tín dụng, tăng trưởng tín dụng, chỉ số thanh khoản tài sản, chỉ số liên ngân hàng và GDP không có ý nghĩa thống kê. Trong một phân tích sử dụng FEM cho dữ liệu 27 NHTM Việt Nam thời kỳ 2005-2017, Nguyễn Anh Tứ & Phạm Trí Nghĩa (2018) khám phá mức ngại rủi ro; tỷ lệ cho vay trên tổng tiền gửi và rủi ro tín dụng tương quan cùng chiều với NIM, trong khi chi phí hoạt động, khủng hoảng kinh tế 2008-2009 và rủi ro thanh khoản cho kết quả trái ngược. Bốn biến còn lại là doanh thu dịch vụ, quy mô ngân hàng, tăng trưởng GDP và tỷ lệ lạm phát không có ý nghĩa thống kê.
Tương tự, áp dụng kỹ thuật OLS cho dữ liệu 24 NHTM Việt Nam thời kỳ 2008-2017, Võ Phúc Trường Thành (2019) tìm thấy một mối quan hệ thuận chiều giữa quy mô vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, quy mô cho vay, rủi ro tín dụng ngân hàng và tỷ lệ lạm phát với NIM, trong khi biến GDP không có ý nghĩa thống kê.