đặt vấn đề ngoại giao và phát triển kinh tế đối ngoại lên hàng đầu, vì vậy nếu một quốc gia mà có dịch vụ thanh toán quốc tế phát triển thì sẽ có một tiền đề vững chắc để phát triển ngoại giao. Thanh toán quốc tế là một phần không thể thiếu trong quá trình mua bán giữa các cá nhân, tổ chức trong các nước khác nhau. Muốn có hoạt động kinh tế đối ngoại thì chắc chắn phải có hoạt động thanh toán quốc tế. Thanh toán quốc tế thể hiện sự kết nối giữa các quốc gia trên thế giới, khi các quốc gia thiết lập quan hệ kinh tế đối ngoại, mua bán giao thương hòa hóa thì sẽ không thể thiếu thanh toán quốc tế lúc này.
Thanh toán quốc tế thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, nếu việc tổ chức thanh toán quốc tế được tiến hành nhanh chóng, an toàn chính xác sẽ làm cho các nhà sản xuất kinh doanh sẽ yên tâm và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập Luan van khẩu của mình, nhờ đó thúc đẩy hoạt động kinh tế đối ngoại phát triển, đặc biệt là hoạt động ngoại thương. Thanh toán quốc tế còn hạn chế rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng mua bán giữa hai bên: Trong quá trình mua bán xuyên quốc gia, do khoảng cách quá xa về địa lý, hai bên mua và bán sẽ hạn chế về việc tìm hiểu khả năng tài chính, thanh toán của bên còn lại đồng thời việc mệnh giá tiền tệ luôn biến động từng ngày làm cho việc thanh toán, trả nợ của con nợ khá là bấp bênh vì vậy rủi ro trong việc thực hiện hợp đồng mua bán giữa các bên là rất lớn. Vì vậy khi tổ chức được một hoạt động thanh toán quốc tế tốt thì các nhà kinh doanh yên tâm hơn trong quá trình thực hiện hợp đồng nhờ vậy thúc đẩy ngoại giao giữa các nước. - Đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng: Khi một Ngân hàng có bộ phận thanh toán quốc tế vững mạnh, Ngân hàng đó sẽ tăng được tính cạnh tranh trên thị trường mà dày đặc các Ngân hàng như hiện nay.
Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng thu hút được nhiều khác hàng, đặc biệt khi một Ngân hàng vững mạnh về thanh toán quốc tế sẽ có nhiều khách hàng ngoài nước tiềm năng biết đến và từ đó quy mô hoạt động được mở rộng, trên cở sở đó trở thành một chỗ dựa tin cậy cho khách hàng và nâng cao uy tín của mình. Từ đó mà có thể khai thác được nguồn vốn tài trợ của Ngân hàng nước ngoài về nguồn vốn trên thị trường tài chính quốc tế để đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Hoạt động thanh toán quốc tế giúp cho Ngân hàng phát triển được nhiều mảng và lĩnh vực khác như: kinh doanh ngoại tệ, bảo lãnh,. Nếu hoạt động thanh toán quốc tế được đẩy mạnh thì sẽ đẩy mạnh được hoạt động tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu cũng như tăng cường được nguồn vốn huy động do tạm thời quản lý được nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp có quan hệ thanh toán quốc tế qua Ngân hàng.
Các phƣơng thức thanh toán quốc tế Phương thức chuyển tiền “ Phương thức chuyển tiền là phương thức trong đó khách hàng (người trả tiền) yêu cầu Ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho một người khác (người hưởng lợi) ở một địa điểm nhất định bằng phương thức chuyển tiền do khách hàng yêu cầu”. Phương thức này có thể mô tả khái quát theo sơ đồ sau: Ng ười chuy ển tiền Ng ười nhận chuyển tiền (1) (3) Ngân hàng nước ng ười Ngân hàng nước nhận chuyển tiền chuyển tiền (2) Sơ đồ 1. Phƣơng thức chuyển tiền ( tác giả sƣu tầm ) (1). Người chuyển tiền yêu cầu Ngân hàng nước mình chuyển tiền cho người nhận tiền một số tiền nhất định.
Ngân hàng người chuyển xác nhận yêu cầu và thực hiện chuyển tiền sang nước ngoài. Ngân hàng nước ngoài nhận đựơc chuyển tiền sau khi đã nhận tiền chuyển đến, thực hiện trả tiền cho người nhận. Thanh toán chuyển tiền bao gồm các loại: - Chuyển tiền bằng điện (Telegraphic Transfer – T/T). Luan van Loại chuyển tiền này được thực hiện rất nhanh chóng và chuyên nghiệp tuy nhiên phí lại khá cao so với những loại khác - Chuyển tiền bằng thư (Mail Transfer – M/T).
Chuyển tiền bằng thư tín dụng chi phí thấp hơn chuyển tiền bằng điện nhưng tốc độ lại chậm hơn. Chuyển tiền bằng thư là một phương thức thanh toán trực tiếp giữa hai bên. Phương thức này rất đơn giản, ở đây Ngân hàng chỉ là người trung gian thực hiện việc thanh toán theo uỷ nhiệm hưởng hoa hồng, không bị ràng buộc gì về tránh nhiệm. Khi sử dụng loại thanh toán này thì hai bên mua bán phải có sự tín nhiệm rất cao, việc chi trả, thanh toán phụ thuộc vào người mua.
Phương thức ghi sổ (Open account). “ Là phương thức thanh toán mà người bán mở một tài khoản (hoặc một quyển sổ) để ghi nợ người mua sau khi người bán đã hoàn thành giao hàng hoá hay dịch vụ, đến từng định kỳ (tháng, quý, nửa năm) người mua trả tiền cho người bán”. Phương thức thanh toán này không có sự tham gia của ngân hàng với chức năng là người mở tài khoản và thực hiện thanh toán. Chỉ mở tài khoản đặc biệt, không mở tài khoản song biên.
Nếu người mua mở tài khoản để ghi thì tài khoản ấy chỉ là tài khoản theo dõi, không có giá trị quyết toán giữa hai bên, chỉ có hai bên tham gia thanh toán: người bán và người mua. Trình tự tiến hành: (1). Giao hàng hoặc dịch vụ cùng với gửi chứng từ hàng hoá. Báo nợ trực tiếp.
Người mua dùng phương thức chuyển tiền để trả tiền khi đến định kỳ thanh toán. Phƣơng thức ghi sổ ( Tác giả sƣu tầm ) Phương thức này được sử dụng khi hai bên thực sự tin tưởng lẫn nhau, thường được dùng trong thanh toán nội địa. Phương thức này chỉ có lợi cho người mua. Dùng cho thanh toán tiền gửi bán hàng ở nước ngoài, hay dùng trong thanh toán phí mậu dịch như: tiền lãi cho vay và đầu tư, tiền cước phí vận tải, tiền phí bảo hiểm,.
Dùng cho phương thức hàng đổi hàng, nhiều lần thường xuyên trong một thời kỳ nhất định. Phương thức thanh toán nhờ thu (Collection of payment). “ Phương thức thanh toán nhờ thu là phương thức mà người bán hàng khi đã hoàn thành việc giao hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho bên mua xong sẽ ủy thác cho bên thứ ba là Ngân hàng thu hộ mình số tiền từ người mua qua hối phiếu do người mua kí và phát hành ”. * Quy trình thanh toán uỷ thác thu: Khi việc chi trả được tiến hành theo phương thức uỷ thác thu, thì có thể mô tả khái quát quy trình đó như sau: (1).
Căn cứ vào hợp đông mua bán ngoại thương, người xuất khẩu tiến hành gửi hàng cho người nhập. Ngay sau khi đã gửi hàng ra nước ngoài, người xuất khẩu lập bộ chứng từ, phát hành hối phiếu và gửi cho Ngân hàng phục vụ mình để nhờ Ngân hàng thu hộ tiền. Nhận đựơc bộ chứng từ hàng hoá, hối phiếu do người xuất khẩu gửi tới, Ngân hàng xuất khẩu tiến hành kiểm tra chứng từ và lập thư uỷ nhiệm, rồi gửi các chứng từ ấy cho Ngân hàng nước người nhập khẩu. Nhận được các chứng từ từ Ngân hàng xuất khẩu, Ngân hàng nhập khẩu phải kiểm tra những nội dung trên các chứng từ đó, rồi thông báo cho người nhập khẩu biết.
Sau khi đựơc thông báo về bộ chứng từ do người xuất khẩu gửi tới. Nếu nhất trí, thì người nhập khẩu phải chấp nhận trả tiền hối phiếu hoặc trả tiền ngay bộ chứng từ đó. Sau khi đã được người nhập khẩu trả tiền, Ngân hàng nhập khẩu làm thủ tục chuyển trả số tiền ấy cho người xuất khẩu thông qua Ngân hàng xuất khẩu. Khi đã nhận được tiền do Ngân hàng nhập khẩu chuyển tiền đến, Ngân hàng xuất khẩu trả số tiền đó cho người xuất khẩu.
Ng ười xu ất khẩu Ng ười nhập khẩu (1) (2) (7) (4) (5) Ngân hàng nước Ngân hàng nước nhập xu ất khẩu (3) khẩu (6) Sơ đồ 1. Phƣơng thức thanh toán nhờ thu ( tác giả sƣu tầm ) Trong thanh toán uỷ thác thu, nếu người xuất khẩu không thực hiện trọn vẹn và đầy đủ các cam kết với người nhập khẩu trong hợp đồng mua bán ngoại thương thì người nhập khẩu có quyền từ chối thanh toán (một phần hay toàn bộ) số tiền trên giấy đòi tiền của người xuất khẩu. Luan van Trong thanh toán uỷ thác thu, người xuất khẩu thông qua Ngân hàng chỉ khống chế được quyền định đoạt hàng hoá, mà chưa khống chế được việc trả tiền của người nhập khẩu. Người nhập khẩu có thể bằng cách chưa nhận bộ chứng từ hàng hoá, để kéo dài việc trả tiền cho người xuất khẩu, hoặc có thể không trả tiền khi tình hình thị trường bất lợi cho họ.
Đối với hình thức thanh toán uỷ nhiệm thu, Ngân hàng chỉ là người trung gian thu hộ tiền cho người xuất khẩu, còn không có trách nhiệm với việc trả tiền của người nhập khẩu. Hình thức này tuy về thủ tục có phần đơn giản song việc trả tiền còn chậm. Trong thanh toán ngoại thương, nhờ thu được chia làm hai loại: a. Nhờ thu phiếu trơn (nhờ thu không kèm chứng từ – Clean collection): Khi việc đòi tiền chỉ dựa trên chứng từ đòi tiền là hối phiếu do người xuất khẩu ký phát, mà không kèm theo các chứng từ hàng hoá, thì được gọi là nhờ thu phiếu trơn.
Loại này thường được dùng trong thanh toán tiền chi trả về dịch vụ, cước phí bảo hiểm, tiền phạt, tiền bồi thường,… b. Uỷ thác thu kèm chứng từ (Documentary collectttion). Khi việc đòi tiền, ngoài hối phiếu do người xuất khẩu ký phát, còn phải kèm theo các chứng từ về hàng hoá, gọi là uỷ thác thu kèm chứng từ. Tuỳ theo cách thức trả tiền của người nhập khẩu, mà uỷ thác thu kèm chứng từ có thể là chấp nhận trả tiền trao chứng từ (Documents against acceptance – D/A) hoặc trả tiền trao chứng từ (Documents against payment – D/P).
Nếu là D/A thì người nhập khẩu phải ký tên chấp nhận trả tiền trên hối phiếu do người xuất khẩu ký phát, thì mới được nhận hàng trao cho bộ chứng từ hàng hoá. Luan van Nếu là D/P thì người nhập khẩu phải trả ngay số tiền theo tờ phiếu trả tiền ngay do người xuất khẩu lập, thì mới đuợc quyền lấy bộ chứng từ hàng hoá từ Ngân hàng. Phương thức tín dụng chứng từ (Letter of credit – L/C).