chương 1 của luận án, tác giả đã trình bày cụ thể định hướng nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu với những nền tảng và công cụ cần thiết chuẩn bị. Với các phần tiếp theo sau của luận án, tác giả sẽ bám sát định hướng đề ra một cách phù hợp nhất để qua đó từng bước đạt đến các mục tiêu nghiên cứu đề ra cho luận án. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý luận về đa dạng hoá danh mục cho vay của ngân hàng 2.1 Danh mục cho vay 2.1 Danh mục cho vay Nghiên cứu về danh mục cho vay đã được thực hiện rất nhiều tại các nước trên thế giới, theo đó thì các khái niệm về danh mục cho vay cũng đã được rất nhiều học giả, tổ chức đưa ra. Sau đây nghiên cứu sẽ tổng hợp lại một số nhận định tiêu biểu để từ đó rút ra định nghĩa để làm cơ sở cho nghiên cứu.
Trước tiên bắt đầu với khái niệm mang tính tổng quát hơn về danh mục đầu tư. Theo từ điển tài chính thì một danh mục đầu tư là một nhóm các tài sản như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hóa, tiền và tài sản tương đương tiền, có thể bao gồm các tài sản có khả năng giao dịch, như bất động sản, tác phẩm nghệ thuật và đầu tư tư nhân. Danh mục đầu tư được tổ chức trực tiếp bởi nhà đầu tư hoặc được quản lý bởi các chuyên gia tài chính. Nhà đầu tư nên xây dựng danh mục đầu tư phù hợp với khả năng chịu rủi ro và mục tiêu đầu tư của mình.
Các nhà đầu tư cũng có thể có nhiều danh mục đầu tư cho nhiều mục đích khác nhau. Khái niệm danh mục đầu tư cũng được biết đến rộng rãi thông qua công trình nghiên cứu của Markowitz (1952) liên quan đến lý thuyết danh mục đầu tư và đường cong hiệu quả. Tác giả đã sửa dụng các công cụ toán học để mô tả quá trình xây dựng danh mục đầu tư qua đó các nhà đầu tư sẽ có thêm phương án để lựa chọn danh mục đầu tư của mình. Theo Markowitz (1952), danh mục đầu tư là “tập hợp/rổ các chứng khoán, mà trong đó trọng số được xác định bằng tỷ trọng đầu tư vào từng chứng khoán trong danh mục so với tổng giá trị của toàn bộ danh mục đầu tư.
Trong khi đó thì danh mục cho vay là tài sản chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu tài sản ở hầu hết các ngân hàng, tương đối kém thanh khoản và có rủi ro tín dụng cao nhất (Koch và MacDonald 2000). Còn theo mô tả của Morsman (2003) thì danh mục cho vay thường là tài sản lớn nhất và tạo ra nguồn doanh thu chủ yếu của ngân hàng. Đồng thời, nó là một trong những nguồn rủi ro lớn nhất đối với sự an toàn và hoạt động lành mạnh của ngân hàng. Theo từ điển tài chính thì: “Danh mục cho vay là các khoản vay đã được thực hiện và đang chờ được chi trả.
Danh mục cho vay là tài sản chủ yếu của các ngân hàng, quỹ tín dụng và các tổ chức cho vay khác. Giá trị của danh mục cho vay không chỉ phụ thuộc vào lãi suất cho vay mà còn phụ thuộc vào giá trị và khả năng chi trả các khoản vay đó. 9 Thông qua các nhận định được tổng hợp từ nhiều nguồn tài liệu, khái niệm về danh mục cho vay của ngân hàng được tóm gọn như sau: “Danh mục cho vay là tập hợp bao gồm tất cả các khoản cho vay của ngân hàng được xây dựng cho mục đích quản lý của ngân hàng và được cơ cấu theo những tỷ lệ nhất định với nhiều tiêu thức khác nhau. Cùng với đó, danh mục cho vay còn là tài sản chiếm tỷ trọng lớn nhất trong bảng cân đối tài sản của các ngân hàng, giá trị của một danh mục cho vay không chỉ được đo lường bằng lợi nhuận thu được mà còn thể hiện ở chất lượng của các khoản vay hay nói cách khác là rủi ro mà từng khoản vay trong danh mục cho vay mang lại.
Trong bối cảnh mà nền tảng quản trị ngân hàng chưa phát triển, danh mục cho vay có thể hình thành ngẫu nhiên trong quá trình ngân hàng giải ngân vốn vay. Tuy nhiên đi cùng với sự hoàn thiện trong công tác quản lý và định hướng tín dụng của mỗi ngân hàng, cấu trúc danh mục cho vay thường được lên kế hoạch và được kiểm soát xuyên suốt trong quá trình hoạt động của ngân hàng. Qua nghiệp vụ hoạch định và cơ cấu danh mục cho vay, các nhà quản trị của ngân hàng chủ động xác định tỷ trọng kế hoạch dư nợ cho vay từng ngành nghề, từng khu vực địa lý, theo từng đối tượng khách hàng hay từng hình thức bảo đảm bằng tài sản trong tổng thể danh mục cho vay của ngân hàng. Một danh mục cho vay thể hiện rất rõ định hướng kinh doanh, khẩu vị rủi ro và cả tiềm lực hiện có của mỗi ngân hàng.
Danh mục cho vay cần được kiểm soát liên tục và từ đó có các công cụ điều chỉnh hợp lý theo diễn biến thực tế thị trường nhằm đạt mục tiêu đã hoạch định mà cổ đông của ngân hàng thống nhất thông qua.2 Phân loại danh mục cho vay Tùy vào mục đích quản lý và nghiên cứu mà người ta có thể phân chia danh mục cho vay theo những tiêu chí khác nhau như theo tài sản bảo đảm tiền vay, theo khu vực địa lý hay theo đồng tiền cho vay,… Phù hợp với thực tế áp dụng tại hệ thống ngân hàng Việt Nam, sau đây luận án sẽ trình bày một số khía cạnh tiêu biểu nhất liên quan đến phân chia danh mục cho vay theo thời hạn, theo đối tượng khách hàng và đặc biệt là theo ngành nghề kinh tế. ▪ Danh mục cho vay theo thời hạn Với bản chất của hoạt động cho vay, sau khi được chấp thuận cho vay, người được cho vay phải sử dụng vốn theo đúng với mục đích vay được thể hiện trong hồ sơ vay vốn và phải hoàn trả lại cho ngân hàng gốc và lãi vay sau một thời hạn nhất định. Như vậy có thể thấy với mạng lưới người đi vay rất đa dạng của ngân hàng thì từ đó mục đích vay vốn cũng sẽ rất phong phú. Gắn liền với những mục đích vay vốn này, ngân hàng sẽ cấp các khoản vay với 10 thời hạn cho vay phù hợp để đảm bảo đáp ứng đúng nhu cầu của khách hàng và cũng tạo cơ sở cho đồng vốn an toàn quay trở về hệ thống ngân hàng của mình, tránh tối đa việc sử dụng không đúng mục đích từ người đi vay.
Nhu cầu vay vốn có thể là các nhu cầu mang tính ngắn hạn như bổ sung vốn lưu động thiếu hụt phục vụ quá trình sản xuất kinh doanh, nhu cầu tiêu dùng ngắn hạn hay những nhu cầu vốn mang tính dài hạn hơn như để mua sắm máy móc thiết bị, xây dựng nhà xưởng, thực hiện dự án đầu tư bất động sản, giao thông hạ tầng,. Do đó với mỗi đặc tính của nhu cầu vay vốn khác nhau thì thời hạn cũng sẽ dài ngắn khác nhau và nhìn chung căn cứ theo thời hạn cho vay của từng món vay, danh mục cho vay tại các ngân hàng thường được phân làm ba nhóm là ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Theo thực tiễn hoạt động tại Việt Nam, NHNN đã có quy định về việc phân chia các thời hạn vay căn cứ thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 quy định về việc cho vay của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Và theo đó thì các TCTD xem xét quyết định cho khách hàng vay theo thời hạn như sau: - Cho vay ngắn hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm.
- Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 năm và tối đa 05 năm. - Cho vay dài hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 năm. ▪ Danh mục cho vay theo đối tượng khách hàng Với phạm vi hoạt động bao quát gần như toàn bộ nền kinh tế nên từ đó việc ngân hàng tiếp cận với rất nhiều các đối tượng vay vốn khác nhau cũng là điều dễ lý giải. Mỗi nhóm đối tượng khách hàng vay vốn hiển nhiên sẽ có những đặc điểm riêng về năng lực pháp lý, cơ cấu tổ chức, quản trị điều hành, thẩm quyền ra quyết định,.
đòi hỏi ngân hàng cũng phải am hiểu để từ đó xây dựng các chính sách tín dụng, phát triển các sản phẩm để một mặt đáp ứng nhu cầu của từng nhóm đối tượng và mặt khác có điều kiệm giám sát tốt khoản vay. Trong hoạt động thực tế thì nhiều ngân hàng cũng phân chia các phòng ban, các bộ phận kinh doanh của mình như phòng khách hàng cá nhân, phòng khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ, phòng khách hàng doanh lớn, phòng khách hàng định chế tài chính,. để tập trung phục vụ cho từng phân khúc đối tượng chuyên biệt. Từ đây có thể thấy chỉ tiêu theo đối tượng khách hàng vay vốn có thể được các ngân hàng dùng để xây dựng danh mục cho vay trong hệ thống ngân hàng mình.
▪ Danh mục cho vay theo ngành kinh tế 11 Danh mục cho vay được cơ cấu theo các ngành kinh tế để qua đó ngân hàng có thể phân bổ tỷ trọng dư nợ sao cho phù hợp với đặc điểm hấp thụ của từng ngành và qua đó mang lại hiệu quả cao nhất. Tỷ trọng từng ngành kinh tế trong danh mục có thể biểu thị rất rõ cho định hướng tín dụng của ngân hàng trong từng thời kỳ và xa hơn nữa nó còn phần nào nói lên sức khỏe những ngành nhất định trong chu kỳ kinh tế của chính ngành đó. Trong bối cảnh kinh tế hiện tại, kết hợp với những chỉ đạo và điều hành của Nhà nước thì những ngành nào cần tập trung mở rộng, những ngành nào cần hạn chế và rút giảm dư nợ sẽ được ban điều hành của ngân hàng kiểm soát và qua đó biểu thị thông qua tỷ trọng nhất định của từng ngành trong tổng thể dư nợ trong danh mục cho vay (Đặng Văn Dân và Huỳnh Japan 2018a). Tại Việt Nam, hệ thống ngành kinh tế được Chính phủ quy định theo quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007.
Theo đó nền kinh tế có 21 ngành cấp 1, 88 ngành cấp 2, 242 ngành cấp 3, 437 ngành cấp 4 và 642 ngành cấp 5.