CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NỢ XẤU TRONG NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Một số khái niệm, phân loại và chỉ tiêu phản ánh nợ xấu trong ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về nợ xấu Nợ xấu thường được nhắc đến với các thuật ngữ “bad debt”, “non- performing loan” (NPL), thông thường nợ xấu được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể là quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ. Tuy nhiên, hiện nay đang tồn tại khá nhiều khái niệm nợ xấu khác nhau.
Có một số khai niệm như sau: Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF): “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời (nợ xấu) khi tiền thanh toán lãi và/hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có các nguyên nhân nghi ngờ việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ" (IMF’s Compilation Guide on Financial Soundnees Indicators 2004, 84). Với quan điểm này, nợ xấu được nhận dạng qua hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ đáng nghi ngờ. Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS) không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên trong các hướng dẫn về thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra: (i) ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; (ii) người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày (BCBS’s Sound Practices for Loan Accounting and Disclosure 1999, 107).
Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Như vậy, quan điểm về nợ xấu của Ủy ban Basel cũng dựa vào hai giác độ: thời gian quá hạn và khả năng trả nợ của khách hàng. 7 Từ những định nghĩa trên có thể thấy được sự tương đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ được coi là nợ xấu nó xuất hiện 1 trong 2 dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị tổ chức tín dụng (TCTD) coi là không có khả năng trả nợ.
Bản chất của một khoản nợ xấu là một khoản tiền cho vay mà chủ nợ xác định không thể thu hồi lại được và bị xóa sổ khỏi danh sách các khoản nợ phải thu của chủ nợ. Tại Việt Nam, theo điều 6 hoặc điều 7 của Quyết định 493 ngày 22/04/2005 và sửa đổi trong Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 thì nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm nợ dưới tiêu chuẩn (nhóm 3), nợ nghi ngờ (Nhóm 4) và nợ có khả năng mất vốn (Nhóm 5). Trong đó, nợ nhóm 3 là các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 hoặc các khoản nợ cơ cấu lại thời gian trả nợ lần đầu hoặc TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần gốc và lãi, nợ nhóm 4 là các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày hoặc các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày hoặc TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, nợ nhóm 5 là các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày hoặc các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn được cơ cấu lại lần hai hoặc TCTD đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Khái niệm này xuất hiện từ khi quy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng của TCTD ban hành theo Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt Nam và có sửa đổi trong quyết định 18/2007/QĐ- NHNN ngày 25/04/2007 của thống đốc NHNN.
Theo đó, điều 6 của Quyết định 493 phân loại nợ thành 5 nhóm theo phương pháp định lượng. Phương pháp này dựa vào tiêu chí số ngày quá hạn để phân loại. Theo cách phân loại này, thì khái niệm nợ xấu của Việt Nam là các khoản nợ quá hạn trên 90 ngày hoặc đã cơ cấu thời hạn trả nợ. Điều 7, Quyết định 493 cho phép các TCTD có đủ khả năng và điều kiện được thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng theo phương pháp định tính.
Theo phương pháp này, nợ cũng phân thành 5 nhóm nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ mà căn cứ vào hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của các TCTD được NHNN chấp nhận. Theo 8 cách phân loại này, thì khái niệm nợ xấu của Việt Nam là các khoản nợ được đánh giá là có khả năng tổn thất một phần hoặc khả năng không thể thu hồi vốn. Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế thì có thể thấy mặt định lượng thời gian quá hạn 91 ngày là khá tương đồng. Về mặt định tính, Việt Nam cũng có những dấu hiệu giống khái niệm của quốc tế là khả năng trả nợ của khách hàng.
Việc cho phép phân loại nợ theo phương pháp định tính hay định lượng cho thấy Việt Nam có sự thống nhất với nhiều quốc gia trên thế giới (Mỹ, Nhật, Singapore). Phân loại nợ xấu Trên thế giới có nhiều cách phân loại nợ xấu, tuy nhiên tại Việt Nam thì có thể phân loại nợ theo phương pháp định lượng và định tính như sau: 1. Phân loại theo phương pháp định lượng Theo điều 6 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt Nam và sửa đổi bổ sung theo Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN, nợ xấu được phân vào ba nhóm (từ nhóm 3 đến nhóm 5) với khả năng thu hồi giảm dần theo tiêu chí định lượng: a) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nhóm 2 theo quy định tại Điểm b Khoản này; - Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. b) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai.
c) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: - Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày; 9 - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai; - Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; - Các khoản nợ khoanh, nợ chờ xử lý. Phân loại theo phương pháp định tính Theo điều 7 quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN Việt Nam nợ xấu cũng được phân vào 3 nhóm nợ trên nhưng theo tiêu chí định tính. Theo phương pháp này, nợ xấu cũng được phân thành 3 nhóm nhưng không nhất thiết căn cứ vào số ngày quá hạn chưa thanh toán nợ, mà căn cứ trên hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ và chính sách dự phòng rủi ro của TCTD được NHNN chấp nhận. Các nhóm nợ xấu gồm: a) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn.
Các khoản nợ này được tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi. b) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là khả năng tổn thất cao. c) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Các khoản nợ được tổ chức tín dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn dụng đánh giá là không còn khả năng thu hồi, mất vốn. Như vậy cách phân loại nợ xấu của Việt Nam đã gần giống thông lệ quốc tế, khi việc phân loại không chỉ dựa vào chỉ tiêu định lượng là số ngày quá hạn mà dựa vào chất lượng khoản vay để phân loại nợ.
Tuy nhiên, việc phân loại nợ theo cách tiếp cận định tính sẽ phụ thuộc lớn vào kinh nghiệm hoạt động, đánh giá chủ quan của chính ngân hàng, và do hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ chuẩn mực điều mà các NHTM Việt Nam còn non trẻ vẫn chưa thể tương đồng với các ngân hàng trên thế giới. Những chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu của Ngân hàng thương mại 1. Tổng số nợ xấu Đây là chỉ tiêu phản ánh chung giá trị tuyệt đối của toàn bộ các khoản nợ xấu của ngân hàng. Nếu theo phân loại nợ tại Việt Nam thì chỉ tiêu này chính là tổng số dư nợ của các khoản vay hơn 90 ngày nếu theo phương pháp định lượng hoặc khoản nợ đánh giá là không có khả năng thu hồi gốc và lãi nếu theo phương pháp định tính.
Tuy nhiên, chỉ tiêu này chưa cho biết trong tổng số nợ đó, nợ không có khả năng thu hồi là bao nhiêu và nợ có khả năng thu hồi là bao nhiêu. Và như vậy, nó chưa phản ánh một cách chính xác số dư nợ cho vay không có khả năng thu hồi của ngân hàng. Tỷ lệ giá trị các khoản nợ xấu/tổng dư nợ Chỉ tiêu này phản ánh mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng. Tỷ lệ này cho biết với 100 đơn vị tiền tệ khi ngân hàng cho vay thì có bao nhiêu đơn vị tiền tệ mà ngân hàng xác định khó có khả năng thu hồi hoặc thu hồi không được đúng hạn tại thời điểm xác định.
Tỷ lệ này càng cao thì khả năng rủi ro càng cao. Theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ này an toàn khi đạt dưới 3% tổng dư nợ.