Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tình hình nghiên cứu Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách 6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Đa dạng hóa thu nhập 2. Khái niệm đa dạng hóa thu nhập tại ngân hàng thƣơng mại Theo Markowitz (1952) thì ĐDHTN tại một đơn vị kinh doanh chính là hoạt động đa dạng hóa danh mục kinh doanh hay đầu tư, ngoài những sản phẩm dịch vụ mà mình đa cung cấp. Việc đa dạng hóa này sẽ giúp các đơn vị kinh doanh có thêm lợi nhuận hoặc giảm tính tập trung của rủi ro.
Theo Rose và Hudgins (2008) thì ĐDHTN là hoạt động mà các NHTM tiến hành gia tăng thu nhập thông qua thực hiện các HĐKD với các sản phẩm dịch vụ mới, tăng thêm ngoài các sản phẩm, dịch vụ truyền thống đang được cung cấp tại tổ chức. Vì vậy, trong HĐKD thì các NHTM sẽ có hai nguồn thu nhập chính đó là từ lãi và ngoài lãi. Trong đó thu nhập từ lãi là các khoản thu từ HĐKD truyền thồng của ngân hàng, phát sinh từ chênh lệch lãi suất tiền gửi và cho vay mà ngân hàng thỏa thuận với khách hàng. Ngoài ra, thu nhập từ lãi của ngân hàng còn đến từ việc ngân hàng đầu tư vào các chứng khoán nợ như mua trái phiếu của Chính phủ hay các tổ chức kinh doanh khác.
Đồng thời, các hoạt động thu phí bảo lãnh từ khách hàng. Đối với thu nhập ngoài lãi thì chủ yếu đến từ các nguồn thu khác của ngân hàng, như thu từ cung cấp dịch vụ thanh toán quốc tế, phí sử dụng các loại thẻ, phí giao dịch tiền, thu nhập từ các hoạt động đầu tư như góp vốn cổ phần hay thành lập các công ty con, góp vốn liên doanh. Ngoài ra thu nhập ngoài lãi còn đến từ các hoạt động thanh lý tài sản, mua bán nợ hay cho thuê tài sản (các hoạt động này thường không diễn ra thường xuyên tại NHTM). Theo Elsas và cộng sự (2010) thì ĐDHTN là hoạt động tái cơ cấu các HĐKD truyền thống của ngân hàng như tín dụng sang hình thức thu phí giao dịch.
Trong đó các hoạt động thu phí luôn có sự ổn định tạo điều kiện cho các NHTM phát triển các kênh kinh doanh như đầu tư, bảo hiểm,… nhằm gia tăng tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên thổng thu nhập của ngân hàng. 7 Tóm lại, ĐDHTN tại luận văn này được hiểu là hoạt động tái cơ cấu của các NHTM, trong đó ưu tiên việc mở rộng nguồn thu nhập của ngân hàng, ngoài nguồn lớn nhất là tín dụng và hạn chế sự ảnh hưởng của nó đến HĐKD của ngân hàng. Mục đích chính của việc ĐDHTN là làm gia tăng thu nhập của cho các NHTM từ lãi lẫn ngoài lãi. Cách thức đo lƣờng đa dạng hóa thu nhập Tại NHTM thì ĐDHTN hiện đang được đo lường thông qua hai cách đó là tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập của ngân hàng và chỉ số Herfindahl - Hirshman (HHI) 2.
Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập của ngân hàng Nghị định 93/2017/NĐ-CP và thông tư 16/2018/TT-BTC đã chỉ ra rằng thu nhập tại các NHTM bao gồm từ nguồn lãi và ngoài lãi. Trong đó thu nhập từ lãi chủ yếu đến từ lãi tiền gửi gửi vào các ngân hàng hay TCTD khác, lãi từ hoạt động cho vay, hay việc năm giữ các chứng khoán nợ, bảo lãnh hay mua bán các khoản nợ. Theo Stiroh (2004b) thì thu nhập ngoài lãi thì chủ yếu phát sinh từ các nghiệp vụ thanh toán ngoại hối, thu phí dịch vụ, đầu tư chứng khoản, góp vốn,…. Lepetit và cộng sự (2008), Lee và cộng sự (2014), Batten và Võ Xuân Vinh (2016) cho rằng các hoạt động đem lại thu nhập ngoài lãi được xem là các hoạt động nhằm thay đổi và hạn chế sự ảnh hưởng lớn của các HĐKD truyền thống của ngân hàng, đặc biệt là tín dụng.
Các hoạt động này là sự nỗ lực của ngân hàng trong việc cung cấp thêm các dịch vụ hay sản phẩm nhằm thu được nhiều nguồn thu nhập hơn. ậ Tỷ lệ thu nhập ngoài lãi = ổ ậ Nguồn: Lepetit và cộng sự (2008) 2. Chỉ số Herfindahl - Hirshman (HHI) Asif và Akhter (2019) đã chỉ ra rằng chỉ số HHI được các doanh nghiệp nói chung và các NHTM sử dụng khi cần nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường có đa dạng hay mạng tính tập trung cao, HHI thường được các đối thủ cạnh tranh 8 đánh giá về mức độ độc quyền hay có sự độc quyền nhóm trong hoạt động mua bán, sát nhập của các doanh nghiệp. Chỉ số HHI được đo lường như sau: ậ ậ ừ HHI = ( )2 + ( )2 ổ ậ ổ ậ Nguồn: Asif và Akhter (2019) Nếu các khoản thu nhập đều dương hay lớn hơn 0 thì chỉ số HHI nằm trong sẽ thuộc miền giá trị từ 0,5 đến 1.
Nếu HHI là 0,5 thì doanh nghiệp sẽ đa dạng hóa hoàn toàn, nhưng nếu bằng 1 thì đa dạng hóa thấp. Điều này nếu mở rộng cho bối cảnh các NHTM thì nếu mức độ tập trung thu nhập càng cao thì ĐDHTN càng thấp. Ngoài ra, HHI tạo nên tính thuận tiện khi giải thích chỉ số ĐDHTN, nhưng chỉ số DIV được dùng để tính chỉ số ĐDHTN lại còn bao hàm được cả HHI (Stiroh và Rumble, 2006; Chiorazzo và cộng sự, 2008). Hệ số DIV được tính thông qua chỉ số HHI như sau: ậ ậ ừ DIV = 1 – HHI = 1 – [( )2 + ( ) 2] ổ ậ ổ ậ Nguồn: Chiorazzo và cộng sự (2008) Hệ số HHI nằm trong khoảng từ 0,5 đến 1 do đó hệ số DIV này sẽ nằm từ 0 đến 0,5.
Khi đó nếu DIV bằng 0 thì có nghĩa là các NHTM có thu nhập chỉ từ 1 nguồn nên hoạt động đa dạng hóa thấp, nhưng nếu càng tiến về gần bằng 0,5 thì đa dạng hóa lại càng cao hay nói cách khác thu nhập của các ngân hàng có càng nhiều nguồn. Vì vậy, tại luận văn này thì hệ số DIV sẽ được dùng để phản ánh cho hoạt động ĐDHTN vì nó bao hàm cả hệ số HHI. Vì hệ số này càng cao thì mức đa dạng hóa của ngân hàng càng cao, đồng thời miền biến thiên của hệ số này từ 0 đến 0,5 nên khi nó đạt được mức 0,5 sẽ làm đa dạng hóa cực đại, ngược lại nó xa 0,5 hoặc có thể âm làm cho mức đa dạng hóa càng giảm. Do đó, khác với HHI chỉ nhận giá trị dương thì DIV có nhận mức âm để đo lường được mức độ tăng hay giảm của thu nhập từ đa dạng hóa sinh ra.
Tỷ suất sinh lời của ngân hàng thƣơng mại 2. Khái niệm tỷ suất sinh lời của ngân hàng thƣơng mại 9 Rose (2001) cho rằng các NHTM là các đơn vị kinh doanh đặc thù với vai trò là trung gian tài chính, sẽ tìm kiếm lợi nhuận dựa trên việc chênh lệch lãi huy động vốn tiết kiệm phải trả và lãi cho vay thu được, ngoài ra lợi nhuận còn được thu từ các hoạt động đầu tư hay tài chính khác của ngân hàng khi tiến hành đa dạng hóa các nguồn thu. Do đó, NHTM vẫn theo đuổi mục đích tối đa hóa lợi nhuận, tuy nhiên với vai trò quan trọng là huyết mạch của nền kinh tế thì mục đích này cần phải cân nhắc với một mức rủi ro cho phép để tránh tình trạng suy giảm cho cả hệ thống. Nhưng lợi nhuận của ngân hàng thường được thể hiện dưới dạng TSSL khi được đảm bảo an toàn vốn, thị phần tăng trưởng hay sức cạnh tranh tăng lên và có dòng vốn đầu tư.
Mặt khác, Trần Huy Hoàng (2011) cũng chỉ ra rằng lợi nhuận của ngân hàng được đánh giá dưới dạng tỷ suất cũng có thể đánh giá được việc ngân hàng sử dụng các nguồn lực của mình (tổng tài sản) hay nguồn vốn từ các chủ sở hữu (VCSH) hiệu quả như thế nào để tạo ra được lợi nhuận ròng cho tổ chức. Đồng với quan điểm này thì Nguyễn Thị Xuân Liễu (2010) cũng xem xét lợi nhuận của các NHTM dưới các tỷ số sinh lời để đánh giá toàn bộ quá trình hoạt động kinh doanh, chủ yếu là xem xét tình hiệu quả thông qua lợi nhuận được thu về các nguồn lực của vốn vay, VCSH hay các nguồn tài trợ khác ngân hàng. Vì nếu đơn thuần chỉ xét riêng lợi nhuận thì sẽ không phản ánh được tổng quát tương xứng với quy mô hay các nguồn lực, do khi doanh thu trừ đi chi phí kết quả dương là ngân hàng có lợi nhuận thì không phản ánh được hiệu quả hoạt động thật sự. Tóm lại, tại luận văn này thì lợi nhuận của ngân hàng hay lợi nhuận ròng được hiểu là chênh lệch giữa tổng thu nhập và các chi phí hoạt động bao gồm cả thuế thu nhập doanh nghiệp.
Tuy nhiên, để đánh giá rõ hơn về lợi nhuận ròng được tạo ra từ sự hiệu quả trong hoạt động kinh doanh thì lợi nhuận này sẽ được thể hiện dưới dạng tỷ suất lợi nhuận, hay là tỷ lệ lợi nhuận ròng trên tổng tài sản bình quân hay VCSH bình quân. Nó thể hiện cho việc ngân hàng tận dụng tất cả nguồn lực của mình hay nguồn tài trợ từ các chủ sở hữu để tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng một cách tương xứng với quy mô lẫn kì vọng. Các chỉ tiêu đo lƣờng tỷ suất sinh lời của các ngân hàng thƣơng mại Với các chỉ tiêu phản ánh tỷ suất lợi nhuận thì tỷ số như ROA, ROE, NIM được sử dụng là phổ biến. Các chỉ số này đo lường dựa trên tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên các nguồn hình thành lợi nhuận như tài sản, vốn chủ sở hữu bình quân,… Các chỉ tiêu này đều được phản ảnh trên các báo cáo tài chính nên rất dễ thu thập tại các thời điểm hay thời kì cụ thể, tùy vào mục đích đánh giá.
Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) NIM ký hiệu của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, là tỷ số rất cần thiết để chúng ta tìm hiểu cách đo lường và các yếu tố ảnh hưởng bởi hai quyết định bên trong và bên ngoài như thế nào (Golin, 2001). Nguồn: Golin (2001) Thu nhập lãi thuần là khoản chênh lệch giữa doanh thu lãi và chi phí lãi. Trong đó, thu nhập lãi là tổng thu nhập lãi từ các khoản vay, đầu tư tài chính trong kỳ tính toán. Chi phí lãi chủ yếu phát sinh từ các khoản huy động vốn và vay nợ ngắn hoặc dài hạn.