Chương 1: Giới thiệu nghiên cứu; Chương 2: Tổng quan về hoạt động huy động vốn tiền gửi tại NHTM Việt Nam; Chương 3: Thiết kế nghiên cứu. Chương 4: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Vĩnh Long. Chương 5: Giải pháp nâng cao hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam chi nhánh tỉnh Vĩnh Long.8 CẤU TRÚC DỰ KIẾN. STT Nội dung nghiên cứu Thời gian Ghi chú 1 Nghiên cứu sơ bộ, lập đề cương trình duyệt 2 Thu thập dữ liệu theo kế hoạch và mục Sẽ triển khai sau khi tiêu nghiên cứu đồng thời viết chương.
được duyệt Xử lý và phân tích dữ liệu, đồng thời viết chương 3-4 3 Đánh giá, kết luận và đưa ra các giải pháp, đồng thời viết chương 5 Đây là kế hoạch nghiên cứu dự kiến nên có thể thay đổi linh hoạt theo điều kiện thực tế. Kế hoạch nghiên cứu được chia thành các giai đoạn và thời gia cho từng giai đoạn nghiên cứu cụ thể. 5 2 CHƯƠNG 2 3 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 2.1 HOẠT ĐỘNG CHỦ YẾU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Hoạt động huy động vốn 2.1 Khái niệm Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM. Hoạt động này mang lại nguồn vốn để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động khác như cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng.
Trong bảng cân đối kế toán thì nghiệp vụ huy động vốn được phản ánh bên phần tài sản Nợ. Do vậy, huy động vốn còn gọi là nghiệp vụ tài sản Nợ. Huy động vốn là nghiệp vụ tạo nguồn vốn của NHTM, thông qua việc ngân hàng nhận ký thác và quản lý các khoản tiền từ khách hàng theo nguyên tắc có hoàn trả các gốc và lãi, đáp ứng nhu cầu vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn có được từ hoạt động huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn nên nó đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến quy mô và hiệu quả kinh doanh của NHTM.
Cụ thể có những hình thức huy động vốn như sau: - Nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại hình tiền gửi khác. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. - Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam, các TCTD nước ngoài. - Vay vốn ngắn hạn của NHNN.
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN. 6 Từ khái niệm trên, ta có thể thấy được tầm quan trọng của nguồn vốn này, buộc các NHTM phải đưa ra chính sách huy động vốn có tính cạnh tranh cao để tập trung thu hút được các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, từ đây các ngân hàng phải có nguyên tắc cơ bản trong huy động vốn để thúc đẩy nguồn vốn huy động và sử dụng vốn có hiệu quả. Hoàn trả: là nguyên tắc cơ bản, theo đó NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả đầy đủ, đúng hạn cho khách hàng khi có yêu cầu hoặc khi đáo hạn. Nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ ảnh hưởng lớn đến uy tín và làm lung lay lòng tin của khách hàng vào độ an toàn khi họ gửi tiền vào đây.
Trả lãi: NHTM không chỉ phải hoàn trả gốc mà còn chi trả cả lãi cho khách hàng dù ngân hàng kinh doanh co lợi nhuận hay thua lõ. Nguyên tắc này bảo đảm có khách hàng vừa bảo toàn được lượng tiền gửi của mình vừa nhận được một khoản lãi phát sinh từ khoản vốn nhàn rỗi đó. Bảo mật thông tin: đây là nguyên tắc quan trọng, đòi hỏi ngân hàng không được tiết lộ các thông tin liên quan đến khách hàng, thông tin tài khoản của họ. Giữ bí mật thông tin biến động tài khoản tiền gửi khách hàng trở thành một trong những tiêu chuẩn hàng đâu của các ngân hàng thế giới.
Đối với nền kinh tế: - NHTM là kênh cung ứng vốn hàng đầu của nền kinh tế, thông qua nghiệp vụ huy động vốn với chức năng là trung gian tín dụng, NHTM có thể tập hợp một khối lượng vốn nhàn rỗi, sau đó cho vay đầu tư sinh lới đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế; từ đó đẩy nhanh quá trình chu chuyển vốn, góp phần thúc đẩy phát triển và tăng trưởng kinh tế. - Với nghiệp vụ huy động vốn, ngân hàng có thể tiếp cận một số lượng lớn khách hàng, kích thích, khơi dậy tiềm năng của nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Ngoài ra, việc quản lý thu chi tiền cho khách hàng giúp kiểm soát các hoạt động kinh tế, lạm phát và ổn định lưu thông tiền tệ qua các chính sách điều hành của ngân hàng trung ương. 7 - Để huy động vốn, các NHTM phải đưa ra nhiều loại hình sản phẩm, phát hành kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, từ đó góp phần đa dạng hóa hàng hóa trên thị trường tài chính.
Đối với ngân hàng: - Hoạt động huy động vốn tạo lập nguồn vốn quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản nợ của NHTM; nguồn vốn được sử dụng chủ yếu trong hoạt động kinh doanh như cho vay, tài trợ, đầu tư, thanh toán, ủy thác… mang lại lợi nhuận, đảm bảo cho sự ổn định và phát triển của ngân hàng. - Huy động vốn là cơ sở để ngân hàng mở rộng đối tượng khách hàng giao dịch, góp phần nâng cao uy tín và thương hiệu của ngân hàng, từ đó phát triển được các hoạt động khác. - Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu gửi vào ngân hàng, mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng. Vì thế, quy mô huy động càng lớn thì khả năng cho vay càng cao.
Đối với khách hàng: - Nghiệp vụ huy động vốn giúp khách hàng cất giữ an toàn và phát sinh đươc lãi cho khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của mình. - Với những hình thức huy động vốn phong phú, các sản phẩm đa dạng mà NHTM cung cấp, khách hàng sẽ dễ dàng lựa chọn một hình thức phù hợp với yêu cầu (lãi suất, cách tình lãi, phương thức thanh toán…) của mình. - Đối với việc nắm giữa các giấy tờ có giá do ngân hàng phát hành như: trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, sổ tiết kiệm…ngoài việc được hưởng lãi, khách hàng có thể mua bán chuyển nhượng các chứng từ đó trên thị trường, tạo nên tính thanh khoản cao cho người sở hữu. Hơn nữa, huy động vốn tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng tiếp cận được với các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đảm bảo được sự an toàn, thuận tiện và nhanh chóng cho họ trong quá trình giao dịch với ngân hàng.
Đặc biệt là dịch vụ thanh toán qua ngân hàng và dịch vụ tín dụng khi khách hàng cần vốn cho sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng. Ngân hàng huy động từ nhiều nguồn vốn khác nhau: dân cư, công ty kinh doanh, các công ty tài chính, cơ quan chính quyền, Kho bạc Nhà nước, các TCTD nước ngoài, người nước ngoài,…Trong đó, các NHTM thường chú trọng nhiều đến ba nguồn vốn chủ yếu: tiền gửi của các tổ chức kinh tế (TCKT), các định chế tài chính (ĐCTC) hoạt động tại Việt Nam và tiền gửi dân cư (DC). - Các TCKT và ĐCTC thường giao dịch với ngân hàng thông qua việc mở tài khoản TGTT để được cung cấp các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ ngân quỹ và tiền gửi có kỳ hạn. - Ngược lại, khách hàng thuộc tầng lớp dân cư, hoạt động giao dịch chủ yếu với ngân hàng thông qua tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và tiền gửi không kỳ hạn.4 Các hình thức huy động.
Trong xu thế thị trường tài chính ngày càng phát triển các chủ thể trong nền kinh tế sẽ có cơ hội tiếp cận và lựa chọn nhiều hình thức đầu tư hợp lý, đảm bảo an toàn và phát sinh lãi trên phần vốn của mình. Để thu hút khách hàng, buộc các ngân hàng phải triển khai và phát triển nhiều hình thức khác nhau, ngày càng đa dạng và phong phú. Tại Điều 98 luật tổ chức tín dụng 2010: Hoạt động ngân hàng của ngân hàng thương mại: - Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các loại tiền gửi khác. - Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu để huy động vốn trong nước và nước ngoài.
Tại điều 5 chương 2 nghị định 146/2005/NĐ-CP ngày 23/11/2005 quy định vốn hoạt động của tổ chức tín dụng, trong đó vốn huy động bao gồm: -Vốn huy động tiền gửi của các tổ chức và cá nhân; -Vay các tổ chức tìn dụng trong và ngoài nước; -Vay ngân hàng nhà nước; - Phát hành giấy tờ có giá 9 Từ những quy định trên, tổng quát, ta có thể chia nguồn vốn huy động thành ba loại: vốn huy động, vốn vay và vốn khác. Vốn huy động: Đối với vốn huy động, ngân hàng đưa ra các điều kiện về lãi suất, giải thưởng, khuyến mãi, dịch vụ và đi kèm các tiện ích khác để thu hút người gửi tự động mang tiền tới gửi, vì thế mà ngân hàng không thể biết trước được nguồn vốn mình huy động về được là bao nhiều, nên vốn huy động còn gọi là vốn bị động. Như vậy, vốn huy động là vốn thuộc sở hữu của các chủ thể trong nền kinh tế được ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng trong một khoản thời gian nhất định, sau đó sẽ hoàn trả đẩy đủ cả gốc và lãi cho chủ sở hữu khi đến hạn hay theo yêu cầu của khách hàng. Căn cứ theo mục đích huy động thì bao gồm các hình thức sau: - Tiền gửi thanh toán.
- Tiền gửi có kỳ hạn. - Tiền gửi tiết kiệm. - Phát hành giấy tờ có giá. Vốn vay: Ngoài việc huy động tiền gửi của các đơn vị, cá nhân để tạo nguồn vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh của mình, các ngân hàng thương mại còn có thể vay nợ lẫn nhau trong phạm vi quốc gia, quốc tế hoặc của ngân hàng trung ương khi thật sự cần thiết và cấp bách.
Trong trường hợp thiếu vốn, ngân hàng phải đi vay trên thị trường nhằm đảm bảo thanh khoản. Ở đây, ngân hàng có thể dự đoán số vốn mình cần vay là bao nhiêu, chủ động tìm người cho vay, thỏa mãn các điều kiện vay, vì thế vốn vay còn gọi là vốn chủ động.