Chương 1 : Cơ sở lý luận về chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT. Chương 2 : Thực trạng công tác đào tạo nghề cho LĐNT tại trường TCN Đông Sài Gòn. Chương 3 : Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT tại trường TCN Đông Sài Gòn. Phần kết luận 4 Luan van 10.
Kế hoạch nghiên cứu Năm Năm 2015 Stt Nội dung nghiên cứu 2016 8 9 10 11 12 01-02 1. Hoàn chỉnh đề cương nghiên cứu x 2. Nghiên cứu cơ sở lý luận của đề tài x x 3. Xây dựng mẫu phiếu điều tra x x 4.
Phân tích, xử lý số liệu x x 6. Trình giáo viên hướng dẫn x 8. Hoàn tất luận văn x 5 Luan van PHẦN 2.NỘI DUNG Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1.1 Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu Dạy nghề cho lao động nông thôn là một trong những vấn đề được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, các chính sách hỗ trợ học nghề cho lao động nông thôn được Thủ tướng Chính phủ ban hành từ năm 2005 theo quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18/4/2005 và Thông tư liên tịch số 06/2006/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 19/1/2006 liên Bộ Tài chính và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội về hướng dẫn thực hiện chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn. Theo đó lao động nông thôn trong độ tuổi lao động chưa qua học nghề có nhu cầu học nghề đều được xét tuyển vào các khóa học nghề ngắn hạn do các cơ sở dạy nghề tổ chức giảng dạy theo thứ tự ưu tiên như sau: 1.
Lao động thuộc các hộ bị thu hồi đất canh tác do đô thị hóa hoặc do xây dựng các công trình công cộng, khu công nghiệp, khu chế xuất và các dự án khác về an ninh quốc phòng vì lợi ích quốc gia có nhu cầu học nghề để chuyển đổi nghề nghiệp; 2. Lao động thuộc đối tượng hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng theo quy định của pháp luật; 3. Lao động thuộc các dân tộc thiểu số; các xã đặc biệt khó khăn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; 4. Lao động nữ chưa có việc làm; 5.
Lao động thuộc các làng nghề nằm trong dự án khôi phục, phát triển làng nghề truyền thống mà dự án không có khoản chi phí riêng cho dạy nghề; 6. Lao động thuộc vùng chuyên canh có nhu cầu chuyển đổi nghề; 6 Luan van 7. Lao động nông thôn khác có nhu cầu học nghề. Mức hỗ trợ dạy nghề tính theo số lượng học viên thực tế tốt nghiệp khóa học, nhưng tối đa không quá 300.000đ/người/tháng và không quá 1,5 triệu đồng/người/khóa học nghề.
Mức hỗ trợ cụ thể cho từng khóa sẽ do từng địa phương quy định. Năm 2009, để nâng cao chất lượng lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, Thủ tướng chính phủ đã ban hành quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 phê duyệt đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Trong đó các chính sách đối với lao động nông thôn đã có sự thay đổi theo hướng với mức hỗ trợ học nghề cao hơn so với trước, các chính sách đã khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đào tạo nghề cho lao động nông thôn Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đã chuyển từ đào tạo theo năng lực sẵn có của cơ sở đào tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn và yêu cầu của thị trường lao động, gắn đào tạo nghề với chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng vùng, địa phương. Đổi mới và phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghề của mình.
Dạy nghề cho lao động nông thôn đã có sự chuyển biến sâu sắc về mặt chất lượng, hiệu quả đào tạo. Qua 5 năm thực hiện đề án, lao động nông thôn tại các tỉnh thành trong cả nước cơ bản đã được đào tạo nghề qua các hình thức khác nhau, từ các lớp dạy nghề ngắn hạn cho đến các khóa dạy nghề thường xuyên, các lớp tập huấn nghiệp vụ nuôi, trồng … được tổ chức tại các trường dạy nghề, tại trạm khuyến nông, tại các hộ dân và thậm chí học cả trên đồng ruộng. Tuy nhiên việc ứng dụng những nghề mà lao động nông thôn đã qua đào tạo để tạo việc làm thì thật sự chưa mang lại hiệu quả cao, tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo có việc làm và tự tạo việc làm là rất thấp, nhất là đối với lao động nông 7 Luan van thôn ở các quận, huyện vùng ven thành phố đang chuyển đổi nghề sang lĩnh vực phi nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Vì thế nhất thiết phải có các giải pháp đồng bộ để giải quyết triệt để vấn đề nêu trên, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, đảm bảo được vấn đề an sinh của xã hội và thực hiện có hiệu quả đề án “ Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” của Thủ tướng chính phủ.1 Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài Các công trình nghiên cứu ở một số nước trên thế giới cho thấy đào tạo nghề cho LĐNT được Chính phủ các nước coi là một trong những vấn đề có tầm quan trọng ưu tiên hàng đầu.
Mỗi nước đều có chính sách riêng về đào tạo, phát triển nguồn nhân lực nông thôn nhằm đáp ứng yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tuy nhiên các chính sách đào tạo và phát triển nguồn nhân lực nông thôn ở các nước thường có các điểm sau [23]: - Tăng cƣờng giáo dục, phát triển nguồn nhân lực nông thôn thông qua phổ cập giáo dục: Đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa với đặc trưng là sự chuyển dịch nhanh chóng cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, do đó tình trạng thiếu nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là nhân lực lành nghề và thiếu cán bộ quản lý xảy ra phổ biến (có thể kể đến các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Thái lan…). Trong khi đó, ở khu vực nông thôn, dân số và người lao động có trình độ văn hóa thấp, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao. Vì vậy, trong giai đoạn đầu của quá trình đô thị hóa, các quốc gia này đã có chính sách tăng cường giáo dục, phát triển nguồn nhân lực nông thôn, đáp ứng nhu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế, trong đó tập trung ưu tiêu lựa chọn phát triển phổ cập giáo dục tiểu học, chính nhờ những chính sách kịp thời này, tình trạng mù chữ ở nông thôn được xóa bỏ nhanh chóng.
Ngay từ những năm 1965, tỉ lệ đến trường tiểu học ở Đài Loan và Hàn quốc đã đạt gần 100%, Malaysia và Thái Lan đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và tiến tới thực hiện phổ cập trung học. 8 Luan van - Đẩy mạnh công tác đào tạo nghề cho LĐNT: Chính phủ các nước Singapore, Malaysia. đã thực hiện thành công chính sách phát triển giáo dục và triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho LĐNT, đặc biệt là đối với lao động trẻ có trình độ văn hóa trung học. Đối với học sinh tại các vùng nông thôn nghèo khó còn được theo học các lớp đào tạo trong nhiều lĩnh vực do Chính phủ hỗ trợ một phần về tài chính.
Chính phủ các nước có nền kinh tế tăng trưởng cao rất chú trọng đến việc nâng dần mức chi tiêu cho giáo dục. Học sinh tại các vùng nông thôn tốt nghiệp Cao đẳng, Đại học hay Trường nghề đều tìm được việc làm trên thị trường lao động hoặc tự mở cơ sở sản xuất, kinh doanh. - Tăng cƣờng đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của các ngành công nghiệp: Đối với LĐNT bị mất đất nông nghiệp, phải chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp, Chính phủ các nước đã tăng cường đào tạo nghề cho số lao động này. Trong những năm 1960-1970, các nước công nghiệp mới phát triển (NICs) đã có chính sách thu hút rất nhiều lao động nông thôn vào các ngành công nghiệp, đặc biệt trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa, các nước như Nhật Bản, NICs và ASEAN đã rất chú trọng phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như dệt, may mặc, sản xuất da giày.
- Chính sách thúc đẩy sản xuất hàng hóa nông nghiệp và nâng cao năng suất lao động của sản xuất nông nghiệp: Hầu hết Chính phủ các nước NICs châu Á không những chú trọng đào tạo nhân lực cho khu vực phi nông nghiệp mà còn có cả các chính sách tích cực khác nhằm thúc đẩy, hỗ trợ sản xuất nông nghiệp. Với các chính sách này, lao động ở các vùng nông thôn sẽ gắn bó hơn với ngành nông nghiệp, tự bản thân sẽ có nhu cầu nâng cao năng lực và trình độ của bản thân để góp phần đẩy mạnh năng suất lao động. 9 Luan van Vì vậy, với kinh nghiệm chung ở các nước cho thấy phát triển đào tạo nghề cho LĐNT được thực hiện song song theo hai hướng là đào tạo để chuyển dịch cơ cấu lao động, cung ứng nguồn nhân lực cho sản xuất phi nông nghiệp gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đây được xem là huớng chủ yếu và đào tạo nghề để nâng cao năng suất lao động phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.2 Các nghiên cứu trong nƣớc Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực đào tạo nghề cho LĐNT, các đề tài đã đưa ra được các giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT, tuy nhiên chỉ dừng lại đối với các nghề thuần nông như đề tài của tác giả Đỗ Thị Hồi “ Nghiên cứu đề xuất mô hình đào tạo nghề nông thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang”, tác giả Diệp Văn Sê “Giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy nghề cho người dân vùng biển Bạc Liêu, tác giả “ Nâng cao chất lượng đào tạo nghề ngắn hạn cho LĐNT tỉnh Bình Dương”. Đề tài của tác giả Diệp Văn Sê chỉ nêu được giải pháp nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho người dân vùng biển, chưa đi sâu vào các giải pháp đối với những người dân có nhu cầu chuyển đổi nghề.