Luận văn thạc sĩ về phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Việt Nam

Nghiên cứu luận văn Thạc sĩ Kinh tế chính trị về phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ tại Việt Nam. Phân tích thực trạng, thách thức và giải pháp.

Chuyên ngành

Kinh Tế Chính Trị

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

123
18
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm vai trò và phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ

Luận văn bắt đầu bằng việc làm rõ các khái niệm cơ bản về nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực khoa học công nghệ (KHCN) nói riêng. Nguồn nhân lực được định nghĩa là tổng hòa thể lực và trí lực của lực lượng lao động, bao gồm cả truyền thống và kinh nghiệm. Riêng nhân lực KHCN được hiểu là những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động KHCN, bao gồm nghiên cứu, sáng tạo, giảng dạy, quản lý… Luận văn phân loại nhân lực KHCN theo lĩnh vực hoạt động (khoa học tự nhiên, kỹ thuật, xã hội nhân văn, y tế, nông nghiệp) và theo trình độ đào tạo (cao đẳng, đại học, sau đại học).

Vai trò của nguồn nhân lực KHCN được nhấn mạnh là yếu tố quyết định tạo ra sự tiến bộ KHCN, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội. Luận văn cũng đề cập đến khái niệm "phát triển nguồn nhân lực KHCN" là quá trình nâng cao cả số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển. Các tiêu chí đánh giá sự phát triển bao gồm quy mô, cơ cấu, trình độ, năng suất và hiệu quả hoạt động của đội ngũ này. Cuối cùng, phần này phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển nguồn nhân lực KHCN, bao gồm các yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và giáo dục.

II. Kinh nghiệm quốc tế và thực trạng phát triển nguồn nhân lực KHCN ở Việt Nam

Luận văn phân tích kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới về phát triển nguồn nhân lực KHCN, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam. Đặc biệt, luận văn nhấn mạnh vào việc học hỏi kinh nghiệm về chính sách đầu tư cho giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, thu hút và trọng dụng nhân tài. Phần này cũng phân tích thực trạng phát triển nguồn nhân lực KHCN ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay, dựa trên các số liệu thống kê về quy mô, cơ cấu, trình độ chuyên môn kỹ thuật. Luận văn chỉ ra những thành tựu đạt được, đồng thời thẳng thắn thừa nhận những hạn chế như: chất lượng nhân lực còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế; thiếu hụt nhân lực KHCN kế cận, nhất là đội ngũ cán bộ khoa học trẻ có trình độ cao; cơ chế quản lý và sử dụng nhân lực còn bất cập… Các nguyên nhân của những hạn chế này cũng được phân tích, làm cơ sở cho việc đề xuất giải pháp.

III. Quan điểm mục tiêu và giải pháp phát triển nguồn nhân lực KHCN ở Việt Nam đến năm 2020

Luận văn trình bày quan điểm và mục tiêu phát triển nguồn nhân lực KHCN đến năm 2020. Quan điểm xuyên suốt là coi nguồn nhân lực KHCN là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt cho sự phát triển nhanh và bền vững. Mục tiêu đặt ra là phát triển nguồn nhân lực KHCN cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Một số giải pháp chủ yếu được đề xuất bao gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách; đổi mới căn bản hệ thống giáo dục, đào tạo; đa dạng hóa nguồn vốn và nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính; nâng cao trình độ quản lý hoạt động KHCN; đẩy mạnh hợp tác quốc tế… Luận văn nhấn mạnh vào việc đổi mới tư duy, cơ chế, chính sách để tạo môi trường thuận lợi cho việc phát triển và sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực KHCN, coi đây là yếu tố then chốt để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

16/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 10 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO CHO NGÀNH CÔNG NGHIỆP TỈNH VĨNH PHÚC 1. Khái niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao ngành công nghiệp 1. Khái niệm * Nguồn nhân lực Nguån nh©n lùc (NNL) lµ nguån lùc con ngêi, lµ nguån lùc quan träng nhÊt cña mçi quèc gia nãi chung hay mét ®Þa ph¬ng nãi riªng, bëi con ngêi võa lµ ®éng lùc võa lµ môc tiªu cña sù ph¸t triÓn kinh tÕ - x· héi. Nguồn nhân lực còn được hiểu là một yếu tố tham gia trực tiếp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, là tổng thể những con người cụ thể tham gia vào quá trình lao động, đó là năng lực lao động của xã hội, bao gồm những người có khả năng lao động, tức là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong nguồn nhân lực.

Trong lý luận về lực lượng sản xuất, con người được coi là lực lượng sản xuất hàng đầu, là yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất, quyết định quá trình sản xuất và do đó quyết định năng suất lao động và tiến bộ xã hội. Ở đây, con người được xem xét từ góc độ là lực lượng lao động cơ bản của xã hội. Trong lý thuyết về tăng trưởng kinh tế, nguồn nhân lực chính là nguồn lực chủ yếu tạo động lực cho sự phát triển. Vì vậy, việc cung ứng đầy đủ và kịp thời nguồn nhân lực theo yêu cầu của nền kinh tế là yếu tố đóng vai trò quyết định, bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế - xã hội.

Do đó, bất cứ hiện tượng thiếu hoặc thừa sức lao động, đều gây ra những khó khăn cho sản xuất xã hội và ảnh hưởng trực tiếp tới tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tác giả Stivastava M/P (Ấn Độ) trong cuốn “Human resource planing: 11 Aproach needs asessment and priorities in manpower planing”; Nxb Manak New Delhi 2007, đã đưa ra định nghĩa về nguồn nhân lực dưới góc độ kinh tế: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ vốn nhân lực bao gồm thể lực, trí tuệ, kỹ năng nghề nghiệp mà mỗi cá nhân sở hữu. Vốn nhân lực được hiểu là con người dưới dạng một nguồn vốn, thậm trí là nguồn vốn quan trọng nhất đối với quá trình sản xuất, có khả năng sản sinh ra các nguồn thu nhập trong tương lai hoặc như là nguồn của cải có thể làm tăng sự phồn thịnh về kinh tế. Nguồn vốn này là tập hợp những kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ được nhờ vào quá trình lao động sản xuất.

Do vậy các chi phí về giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng,. để nâng cao khả năng sản xuất của nguồn nhân lực được xem như chi phí đầu vào của sản xuất, thông qua đầu tư vào con người” [17]. Trên cơ sở định nghĩa NNL như vậy, tác giả đã chỉ ra những lợi ích lớn của việc đầu tư vào NNL đó là: đầu tư vào NNL là loại đầu tư có tỷ lệ thu hồi vốn cao, bởi vốn nhân lực càng được sử dụng nhiều thì giá trị gia tăng càng tăng lên và càng tạo ra được nhiều thu nhập. Vốn nhân lực không mang đặc điểm có tính quy luật như các nguồn vốn khác, đó là so với khấu hao vốn đã đầu tư vào các tài sản và loại hình vật chất khác, thì đầu tư vốn nhân lực không gây áp lực về khối lượng vốn lớn cần huy động trong khoảng thời gian ngắn, do quá trình đầu tư dài và sau khi đã đầu tư thì vốn nhân lực tự duy trì và phát triển.

Hiệu ứng lan toả của đầu tư vốn vào nhân lực là rất lớn, tạo ra những đột biến không lường trước được đối với phát triển kinh tế, do đặc điểm của vốn nhân lực là mang tính sáng tạo, nó tự phát huy tiềm năng mà các nguồn vốn khác không có. Từ đó có thể thấy việc chú trọng đầu tư để chất lượng nguồn nhân lực không ngừng được gia tăng là một hướng phát triển hiệu quả và bền vững của một nền kinh tế. Trong lý luận về “vốn người” nguồn nhân lực được xem xét trước hết 12 như một yếu tố của quá trình sản xuất, một phương tiện để phát triển kinh tế xã hội và đến lượt nó, phát triển kinh tế - xã hội lại là phương tiện nhằm đạt mục đích phát triển nguồn lực con người. Đầu tư cho con người được phân tích với tính cách là sự “tư bản hoá các phúc lợi” tương tự như đầu tư vào các nguồn vật chất, có tính đến tổng hiệu quả các đầu tư này, hoặc của thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó.

Đây cũng là cách tiếp cận nguồn nhân lực đang được áp dụng ở hầu hết các quốc gia hiện nay. Theo cách tiếp cận này, Ngân hàng thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ “vốn người” (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp,.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay một hoạt động nào đó. Ở đây nguồn nhân lực được coi như một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: tiền, công nghệ, tài nguyên thiên nhiên,. Đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và được coi là cơ sở chắc chắn cho sự phát triển bền vững.

Tại Việt Nam hiện nay, thuật ngữ NNL chất lượng cao chưa thấy xuất hiện trong Từ điển bách khoa Việt Nam cũng như các từ điển tiếng Việt hay từ điển kinh tế khác, mặc dù trong thực tiễn phát triển kinh tế của đất nước, nó được dùng khá phổ biến. Tại Hội nghị Ban chấp hành Trung Ương khóa X, Đảng ta sử dụng thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao thông qua con đường phát triển, giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ chính là khâu then chốt để nước ta vượt qua khỏi nghèo nàn, kém phát triển. Đến Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh thuật ngữ này khi đưa ra định hướng chính sách tập trung phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng dụng nhân tài, các nhà Khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề và công nhân kĩ thuật có tay nghề cao, có chính sách thu hút các nhà khoa học giỏi trong và ngoài nước. Như vậy, theo quan niệm của Đảng ta, nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm đội ngũ các nhà khoa học và công nghệ, các công trình sư, kỹ sư, các công nhân kĩ thuật có tay nghề cao… 13 Theo quan điểm của Giáo sư Phạm Minh Hạc thì cho rằng: “Nguồn nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động.

Nó là tổng thể nguồn nhân lực hiện có thực tế và tiềm năng được chuẩn bị sẵn sàng để tham gia phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia hay một địa phương nào đó. Từ những vấn đề trình bày trên, có thể khái quát: NNL là tổng thể các chỉ số phát triển về thể lực và trí lực mà con người có được nhờ sự tương tác giữa nỗ lực của cá nhân và sự trợ giúp của cộng đồng xã hội; là tập hợp số lượng dân và chất lượng con người; gồm tổng hòa giữa thể lực, trí lực, đạo đức và trình độ chuyên môn mà bản thân con người và xã hội có thể huy động vào cuộc sống lao động vì sự phát triển và tiến bộ xã hội. * Nguồn nhân lực chất lượng cao Nguồn nhân lực chất lượng cao là những con người có trình độ chuyên môn cao, có vốn tri thức và tay nghề giỏi, có khả năng nhận thức và tiếp thu nhanh kiến thức mới. Đây là chìa khoá chiếm lĩnh những đỉnh cao của khoa học kỹ thuật và công nghệ trên con đường phát triển và chống nguy cơ tụt hậu.

Ngoài ra còn một quan niệm cụ thể khác, nguồn nhân lực chất lượng cao là một khái niệm để chỉ một con người, một lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kĩ thuật) ứng với một ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn kĩ thuật nhất định. Ngoài ra còn có những thuật ngữ cụ thể mang ý nghĩa gần gũi và được xã hội chấp nhận. Những quan niệm này có nội hàm hẹp hơn và để chỉ người lao động có trình độ cao, làm việc có chất lượng tốt, đạt hiệu quả lao động trong hai lĩnh vực lao động chủ yếu: trong lĩnh vực sản xuất vật chất như chuyên gia, nghệ nhân.trong lĩnh vực lao động trí óc, bên cạnh hệ thống học vị, học hàm của Nhà nước còn có các thuật ngữ như nhà chuyên môn, bác học. Bên cạnh đó, xã hội 14 còn có những thuật ngữ như nhân tài, nguyên khí quốc gia.để tôn vinh những người tài có cống hiến cho sự phồn thịnh của đất nước.

Do vậy, NNLCLC là một bộ phận đặc biệt, kết tinh những gì tinh tuý nhất của NNL. Đó là những người lao động có trình độ chuyên môn từ công nhân nghề bậc 3/7 trở lên đến trên đại học, có khả năng đáp ứng nhu cầu cao của thực tiễn. Họ được đặc trưng bởi trình độ học vấn và chuyên môn cao có khả năng nhận thức tiếp thu nhanh chóng những kiến thức mới, có năng lực sáng tạo, biết vận dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào thực tiễn. Họ có phẩm chất công dân tốt, có đạo đức nghề nghiệp và đem lại năng suất, chất lượng hiệu quả lao động cao hơn hẳn so với NNL lao động phổ thông.

Vậy NNLCLC là: những người lao động có đủ sức khỏe, có trình độ chuyên môn qua đào tạo từ công nhân nghề 3/7 trở lên đến trình độ trên đại học, có kỹ năng lao động tốt, có khả năng lao động với năng suất, chất lượng cao, nhằm phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, của đất nước. Từ những quan điểm, khái niệm về nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao như đã nêu trên ta thấy khái niệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu là: phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là quá trình làm thay đổi theo chiều hướng tăng lên cả về số lượng, chất lượng và cân đối về cơ cấu những người lao động có trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng làm việc tốt, đang làm việc trong các ngành, các thành phần kinh tế chủ yếu hoặc cân đối giữa các vùng, miền của đất nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ mang tên "Luận văn thạc sĩ kinh tế chính trị phát triển nguồn nhân lực khoa học công nghệ ở việt nam hiện nay" của tác giả Phạm Thị Bảo Thoa, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Mai Thị Thanh Xuân, trình bày một cái nhìn sâu sắc về sự phát triển nguồn nhân lực trong lĩnh vực khoa học công nghệ tại Việt Nam. Nghiên cứu này không chỉ nêu ra những thách thức mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững cho đất nước. Bài viết sẽ hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và sinh viên trong việc hiểu rõ hơn về vai trò của nguồn nhân lực trong tiến trình phát triển khoa học công nghệ.

Để mở rộng thêm kiến thức về quản lý nguồn nhân lực và các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Luận văn thạc sĩ hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại bảo hiểm xã hội tỉnh long an, nơi bàn về việc tối ưu hóa quản lý nguồn nhân lực trong ngành bảo hiểm xã hội. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ kinh tế hoàn thiện quản trị nguồn nhân lực tại ngân hàng tmcp công thương việt nam cũng là một tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến quản lý nguồn nhân lực trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ đào tạo nguồn nhân lực tại công ty cổ phần dana full sẽ cung cấp thêm thông tin về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực trong bối cảnh hiện nay.