Chương 1: Cơ sở lý luận và một số kinh nghiệm về nâng cao năng lực đội ngũ quản lý nhầ nước về kinh tế cấp huyện. Chương 2: Thực trạng năng lực đội ngũ quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện ở huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chương 3: Phương hướng và các giải pháp nâng cao năng lực đội ngũ quản lý nhầ nước về kinh tế của huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC ĐỘI NGŨ QUẢN LÝ VỀ KINH TẾ CẤP HUYỆN 1.
Khái quát về đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về kinh tế cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản * Quản lý Nhà nước: Trong cuốn Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa (1994, 78) cho rằng: “Nhà Nước ra đời ở một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội trên cơ sở xuất hiện chế độ tư hữu và gắn liền với nó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng, các luận chứng về tính chất giai cấp và tính lịch sử của Nhà Nước, làm sáng tỏ chức năng giai cấp cơ bản của Nhà Nước”.Mác và Ăng ghen, Tuyển tập: tập 6 (1984, 413) thì Friedrich Engels có nhấn mạnh “Nhà Nước, nói chung chỉ là sự phản ánh dưới hình thức tập trung những nhu cầu kinh tế của giai cấp thống trị trong sản xuất”. Như vậy, Nhà nước là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng chính trị pháp lý, là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị có phạm vi hoạt động cụ thể và có sức mạnh toàn năng nhất tại khu vực, lãnh thổ và quốc gia đó. Nhà Nước còn được hiểu là một bộ máy quyền lực gồm hai yếu tố là quản lý và cưỡng chế.
Mỗi bộ máy gồm nhiều bộ phận hợp thành và hoạt động theo quy tắt chung thống nhất. Để thực hiện nhiệm vụ của mình thì khái niệm QLNN ra đời với đầy đủ các vai trò và chức năng của Nhà Nước nhằm duy trì xã hội ổn định và phát triển. QLNN được hiểu như một dạng quản lý xã hội mà cơ quan Nhà nước trong bộ máy sử dụng pháp luật và các chính sách để điều chỉnh các hành vi của cá thể, tập thể trên mọi mặt của KT - XH nhằm duy trì ổn định của xã hội. Ở Việt Nam, quá trình QLNN có một số đặc điểm như sau: (1) QLNN mang tính quyền lực đặc biệt như tính mệnh lệnh đơn phương và quản lý bằng hệ thống chặt chẽ, trong đó không ai được lạm dụng chức quyền, mọi người 6 bình đẳng trước pháp luật, làm theo quy định của pháp luật và chỉ có Nhà Nước có quyền ban bố pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật theo nguyên tắc pháp chế; (2) QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh, tổ chức và bộ máy quản lý được xây dựng thành hệ thống và qua đó Nhà Nước điều chỉnh các mối quan hệ bằng pháp luật; (3) QLNN có mục tiêu và chiến lược; (4) QLNN có tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt; (5) QLNN không có sự cách biệt tuyệt đối giữa chủ thể và khách thể quản lý; (6) QLNN bảo đảm tính ổn định liên tục trong tổ chức và trong hoạt động.
* QLNN về kinh tế: Theo chủ nghĩa trọng thương, phải có sự can thiệp của Nhà Nước đối với các hoạt động kinh tế; bên cạnh đó coi sáng kiến cá nhân là quan trọng nhưng phải có sự hướng dẫn, quản lý và điều tiết của Nhà Nước. Chủ nghĩa trọng nông cho rằng “sự tự do trong kinh tế là điều kiện để phát triển. Trong tự nhiên đã có sự sắp xếp một cách hoàn hảo, con người cần phải tôn trọng nó. Học thuyết này nhấn mạnh, Nhà Nước không nên can thiệp vào quá trình kinh tế vì sự can thiệp quá sâu vào nền kinh tế có thể làm sai lệch trật tự tự nhiên.
Nhà Nước chỉ cần đặt ra các điều luật cần thiết phù hợp với các quy luật tự nhiên” (Henry William Spiegel, 1983). Adam Smith, 1976, “ủng hộ mạnh mẽ tư tưởng tự do kinh tế, đề cao vai trò tự điều tiết thông minh, hợp lý của xã hội trong cơ chế thị trường thông qua một bàn tay vô hình và không nên có sự can thiệp kinh tế của Nhà Nước”. Keynes,1936, với quan điểm cơ bản là bác bỏ cách lý giải cổ điển về quá trình tự điều tiết của nền kinh tế dựa trên cơ chế thị trường linh hoạt. Theo học thuyết kinh tế của Samuelson với quan điểm kết hợp trường phái kinh tế cổ điển và trường phái Keynes hình thành lý thuyết về nền kinh tế hỗn hợp.
Nền kinh tế hỗn hợp là nền kinh tế kết hợp của kinh tế tư nhân cùng với kinh tế Nhà Nước và nó được điều hành bởi cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà Nước. Đỗ Hoàng Toàn và Mai Văn Bưu (2008) cho rằng QLNN về kinh tế là sự quản lý của Nhà Nước đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực thông qua các cơ chế quản lý nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế. 7 Phan Huy Đường (2017) cho rằng QLNN về kinh tế là sự tác động có tổ chức, có mục đích của Nhà Nước lên các hoạt động kinh tế (đối tượng và khách thể hoạt động kinh tế) để sử dụng có hiệu quả tiềm năng, có nguồn lực, có cơ hội nhằm đạt được mục đích trước mắt và lâu dài của nền KT - XH. Tương tự như khái niệm QLNN, theo nghĩa rộng, QLNN về kinh tế được thực hiện bởi các cơ quan QLNN (cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp).
Theo nghĩa hẹp, QLNN về kinh tế được hiểu như hoạt động quản lý có tính chất Nhà Nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp. Tính chất, đặc điểm của QLNN về kinh tế vừa là một khoa học vừa là một nghệ thuật và là một nghề nghiệp, là vì có đối tượng nghiên cứu riêng và có nhiệm vụ phải thực hiện riêng. Đó là các quy luật và các vấn đề mang tính quy luật của các mối quan hệ trực tiếp và gián tiếp giữa các chủ thể tham gia các hoạt động kinh tế của xã hội. Tính khoa học của QLNN về kinh tế có nghĩa là hoạt động quản lý của Nhà Nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà Nước hay cá nhân nào mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn và được thực tiễn kiểm nghiệm, tức là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mỗi ngành, mỗi địa phương trong từng giai đoạn và từng lĩnh vực cụ thể.
* Cán bộ: Cán bộ là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một quốc gia quan niệm về cán bộ qua các thời kỳ cũng khác nhau. Sau đây là một số quan niệm và định nghĩa cán bộ có tính đặc trưng. Trong Tiếng Việt, cán bộ là: “thuật ngữ chỉ những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước (cơ quan dân cử, cơ quan hành chính), thuộc biên chế của một cơ quan, đơn vị, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Nó là thuật ngữ chỉ chung cho những người mang trọng trách công vụ và có những quyền hạn nhất định; là danh xưng thường được người dân chỉ về những người có quyền 8 hành hay đang thụ lý giải quyết một vụ việc cho người dân, như: cán bộ lãnh đạo, cán bộ cấp cao, cán bộ lãnh đạo, cán bộ nguồn.
Theo Luật cán bộ, công chức năm 2008 (Luật số 12/2008/QH12 ngày 13/11/2008) và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật công chức và Luật viên chức năm 2019 (Luật số 52/2019/QH14 ngày 25/11/2019), khái niệm cán bộ được hiểu: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [29]. Do đó, có thể hiểu cán bộ là những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ hoặc 5 năm đủ 60 tháng đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện. Cán bộ được bố trí trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp từ Trung ương đến cơ sở. * Cán bộ QLNN về kinh tế cấp huyện: Từ các khái niệm trên, có thể hiểu đội ngũ cán bộ QLNN về kinh tế là bộ phận cán bộ hoạt động trong lĩnh vực QLNN có liên quan về kinh tế.
Họ là đội ngũ lao động quản lý, làm việc trực tiếp trong các lĩnh vực quản lý kinh tế. Cán bộ QLNN về kinh tế có thể coi là những người trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo điều hành để gián tiếp tạo ra của cải vật chất cho xã hội. Do vậy, QLNN về kinh tế trước hết là một nghề có chuyên môn, nghiệp vụ; mặt khác nói đến cán bộ là nói đến con người và phải được đặt trong mối quan hệ xác định: Quan hệ đường lối, nhiệm vụ chính trị trong từng thời kỳ; quan hệ với bộ máy và cơ chế chính sách; quan hệ với thực tiễn hoạt động kinh tế của đất nước, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị. Cán bộ QLNN về kinh tế cấp huyện là tất cả những cá nhân thực hiện chức năng QLNN về kinh tế nhất định trong bộ máy chính quyền của huyện, 9 thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; quận, huyện trực thuộc thành phố trực thuộc Trung ương.
Do đó, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý: Là những người thực hiện chức năng quản lý, chỉ đạo, điều hành công việc của những cán bộ dưới quyền trong lĩnh vực QLNN về kinh tế, là người đứng trong hệ thống cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý kinh tế của nhà nước cấp huyện, bao gồm từ chức danh phó trưởng phòng, ban, đơn vị (hoặc tương đương) trở lên trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp trực thuộc chính quyền (HĐND, UBND) cấp huyện.