Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách đào tạo nghề đối với lao động nông thôn tại tỉnh Xieng Khouang, Lào. Chương 2: Thực trạng chính sách đào tạo nghé đối với lao động nông thôn tại tỉnh Xieng Khouang, Lào. Chương 3: Đánh giá việc thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại tỉnh Xieng Khouang, Lao. 18 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO NGHE DOI VỚI LAO DONG NÔNG THÔN TAI TỈNH XIENG KHOUANG, LÀO 1.
Các khái niệm của đề tài 1. Chính sách Tác giả Hoàng Phê (2016, tr.113) trong cuốn từ điển tiếng Việt định nghĩa “chính sách” là sách lược và kế hoạch cụ thé nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà dé ra. Trong giáo trình khoa học chính sách, Vũ Cao Đàm (2011) định nghĩa: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhăm thực hiện một mục tiêu nào đó trong chiến lược phát triển của hệ thống xã hội. Theo đó khái niệm “hệ thong xã hội” được hiểu theo một ý nghĩa khái quát.
Đó có thé là một quốc gia, một khu vực hành chính, một doanh nghiệp, một nhà trường. Cũng có một định nghĩa khác, “chính sách là chuỗi những hoạt động mà chính quyền chọn làm hay không làm với tính toán và chủ đích rõ ràng, có tác động đến người dân” (James Anderson, 2003) Như vậy, có thé thấy một số điểm chung trong những khái niệm “chính sách” trên, là: Chính sách là sản phâm của chủ thé quyền lực hoặc chủ thé quan lý đưa ra. Đối tượng thực hiện chính sách là hệ thống chính quyền các cấp từ trung ương dến địa phương, các cơ quan quan ly nhà nước (QLNN), cơ quan chuyên môn, các tô chức chính trị - xã hội, t6 chức sản xuất kinh doanh và cộng đồng dân cư. Chính sách được ban hành căn cứ vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; Chính sách được ban hành bao giờ cũng nhắm đến một mục đích nhất định; nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó; chính sách được ban hành đều có sự tính toán và chủ đích rõ ràng; Chính sách vừa có tính khách quan, vừa có tính chủ quan và là sản phẩm tất yếu của chủ thể quản lý, thé hiện ý chí của chủ thể quản lý; Công cụ, nguồn lực đảm bảo cho việc thực 19 hiện chính sách: về cơ bản Nhà nước, bằng nhiều hình thức phân phối, huy động, điều chỉnh khác nhau nhằm mục đích tập hợp đầy đủ các nguồn lực cả về kinh tế, nhân lực,.
thực hiện các chính sách đã đề ra đạt hiệu quả cao nhất. Tổng hợp từ những khái niệm trên, trong luận văn nay, khái niệm Chính sách được phân tích dưới hình thức là tổng hợp các công cụ, cách thức, giải pháp đã được thé chế hoá mà chủ thé quản lý sử dụng dé tác động vào đối tượng (khách thể) quản lý nhằm điều chỉnh đối tượng quản lý vận động theo mục đích định sẵn của chủ thể quản lý trong giai đoạn nhất định. Đào tạo nghề Đào tạo nghề là quá trình phát triển hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho người học. Đào tạo nghề nhằm hướng vào hoạt động nghề nghiệp và hoạt động xã hội.
Mục tiêu đào tạo nghề là trạng thái phát triển kiến thức và kỹ năng dựa trên cơ sở phát triển kinh tế - xã hội. Có nhiều công trình nghiên cứu đưa ra các định nghĩa khác nhau về đào tạo nghề, dưới đây là một SỐ định nghĩa: Theo nhà nghiên cứu Tack Soo Chung thi dao tạo nghề là hoạt động đào tạo phát triển năng lực lao động (tri thức, kỹ năng và thái độ đối với nghề nghiệp) cần thiết để đảm nhận công việc đối với người lao động và những đối tượng sắp trở thành người lao động. Đào tạo nghề được thực hiện tại nơi lao động, trung tâm đào tao, các trường dạy nghề, các lớp học không chính quy nhăm nâng cao năng suất lao động, tăng cường cơ hội việc làm và cải thiện địa vị cho người lao động, nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp góp phần phát triển kinh tế xã hội (dẫn theo Phan Chính Thức, 2003). Theo tổ chức ILO (2006) đã đưa ra, đào tạo nghề nhằm cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết dé thực hiện tat cả các nhiệm vụ liên quan đến công việc, nghề nghiệp được giao.
Ở Việt Nam, khái niệm đào tạo nghề cũng được giới thiệu trong nhiều văn bản và nghiên cứu khác nhau. Chăng hạn, theo tài liệu của Bộ Lao động thương binh và Xã hội xuất bản năm 2002, khái niệm dao tạo nghé được hiểu: 20 "Đào tạo nghề là hoạt động nhăm trang bị cho người lao động những kiến thức, kĩ năng và thái độ lao động cần thiết dé người lao động sau khi hoàn thành khoá học hành được một nghề trong xã hoi". Tại Điều 5, luật Dạy nghề năm 2006: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề dé có thé tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”. Theo cuốn Kinh tế lao động của Tạ Duc Khánh (2009), dao tạo nghề được trình bày: là quá trình trang bị kiến thức nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động, dé họ có thé đảm nhận được một số công việc nhất định.
Tại Lào, theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014: Giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao dang và các chương trình dao tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức đào tạo chính qui và đào tạo thường xuyên. Từ các quan niệm, khái niệm nêu trên, thông qua cách tiếp cận của tác giả luận văn, dao tạo nghề được hiểu như sau: "Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học dưới nhiều hình thức khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, nhu cầu và loại hình đào tạo mà qua đó giúp bé sung kiến thức, trang bị kỹ năng, thái độ và nhận thức nghề nghiệp thiết yếu cho người lao động, để họ có đủ khả năng đảm nhận một sỐ công việc nhất định theo yêu cầu của xã hội. Từ đó có điều kiện tự tạo thu nhập nhằm giải quyết những vấn đề của cá nhân và xã hội". Chính sách đào tạo nghề Là tập hợp hệ thống quan điểm, chủ trương, cách thức, phương thức, công cụ và biện pháp được thể chế hóa bằng văn bản của Nhà nước để giải quyết những vấn dé xã hội đặt ra đối với đào tạo nghề trong một thời gian va 21 không gian nhất định nhăm đảm bảo thực hiện công bằng xã hội về cơ hội học nghề.
Theo Tổ chức lao động quốc tế (1993) “Chính sách đào tạo nghề quốc gia là một tầm nhìn và một kế hoạch thực tiễn, để đạt được các mục tiêu việc làm của một quốc gia. Dé thực hiện một kế hoạch như vậy, Chính phủ phải thay rõ cơ hội và thách thức của quốc gia, và phải tham khảo rộng rãi để đạt được thỏa thuận chung giữa tat cả các bên quan tâm trong nền kinh tế, bao gồm cả người chu sử dụng lao động và người lao động (NLD)”. Ở nước Lào, chính sách đào tạo nghề cho NLĐ nói chung được quy định trong Chương III Luật Việc làm năm 2015, “Chính sách đào tạo nghề là chính sách xã hội được thé chế hóa bằng luật pháp của Nhà nước, một hệ thống các quan điểm, chủ trương, phương hướng và biện pháp để giải quyết việc làm cho NLD nhằm góp phan bảo đảm an toàn, ôn định va phát triển xã hội”. Day là cách nhìn nhận khá đầy đủ và phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội ở Lào nói chung và đảo tạo nghề nói riêng.
Do đó quan điểm này sẽ được sử dụng xuyên suốt trong luận văn này. Trong khuôn khổ của luận văn này, chính sách đảo tạo nghề được thé hiện ở các khía cạnh: chính sách được thể chế hóa băng luật pháp của Nhà nước, cung cấp các giải pháp về lĩnh vực việc làm cho người lao động nông thôn, kết quả thực hiện chính sách dao tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn. Như vậy, trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành tìm hiểu việc thực hiện chính sách đào tạo nghề trên cơ sở phân tích khía cạnh như sau: - Nội dung của chính sách đào tạo nghề (xác định nhóm đối tượng thụ hưởng chính sách, xác định mục tiêu của chính sách, các giải pháp thực hiện mục tiêu chính sách) - Các nguồn lực tham gia thực hiện chính sách đào tạo nghề tại địa phương 22 - Đánh giá về hiệu quả thực hiện chính sách đào tạo nghề qua đánh giá của người tham gia đào tạo nghề tại địa phương 1. Lao động nông thôn Nhà nghiên cứu Labour định nghĩa lao động nông thôn (LDNT) là người lao động ở nông thôn làm việc trong các ngành nghề nông nghiệp hoặc phi nông nghiệp, được trả lương bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc một phần bằng tiền và một phần băng hiện vật (Labour, 2008).
Tại Việt Nam, tác giả Phan Văn Bình (2012) và Phí Thị Nguyệt (2020) nhận định LĐNT là một bộ phận của nguồn lao động xã hội, bao gồm toàn bộ những người đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân và những người có khả năng lao động nhưng chưa tham gia lao động trong nền kinh tế quốc dân thuộc khu vực nông thôn. Cụ thé hơn nguồn LDNT bao gồm những người lao động từ đủ 15 tuổi trở lên sống ở khu vực nông thôn dang làm việc trong các ngành, lĩnh vực như: Nông, lâm, ngư nghiệp, chăn nuôi, xây dựng, dịch vụ, hoặc các ngành phi nông nghiệp khác và những người trong độ tuôi có khả năng lao động nhưng hiện tại chưa tham gia vào các hoạt động kinh tế", Từ những nhận định trên, có thể nhận định LĐNT là những người nằm trong độ tuôi lao động quy định tại Luật Lao động và không phân biệt giới tính. Họ có khả năng lao động hiện đang sinh sống ở khu vực nông thôn, là một bộ phận lao động của nền kinh tế quốc dân hoặc chưa tham gia vào các hoạt động kinh tế ở các lĩnh vực nông nghiệp và phi nông nghiệp.