Luận án tiến sĩ: Đô thị Nam Định – Quá trình hình thành, thực trạng và xu hướng biến đổi (Nguyễn Quang Ngọc, Vũ Kim Chi hướng dẫn)

Phân tích phát triển đô thị Nam Định qua các thời kỳ lịch sử. Tìm hiểu quá trình hình thành, tình trạng hiện nay và xu hướng biến đổi của khu vực.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Việt Nam học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

268
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan luận án tiến sĩ đô thị Nam Định quá trình hình thành

Luận án tiến sĩ "Đô thị Nam Định: Quá trình hình thành, thực trạng và khuynh hướng biến đổi" do nghiên cứu sinh Vũ Đại An thực hiện tại Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, bảo vệ năm 2020. Công trình thuộc chuyên ngành Việt Nam học, mã số 62220113, dưới sự hướng dẫn của GS. Nguyễn Quang Ngọc và TS. Vũ Kim Chi. Luận án tiếp cận đô thị Nam Định từ góc độ liên ngành, kết hợp lịch sử học, địa lý học và xã hội học đô thị. Nghiên cứu khảo sát toàn diện quá trình hình thành và phát triển thành phố Nam Định từ thời tiền Pháp thuộc đến giai đoạn đổi mới. Tư liệu được thu thập từ lưu trữ lịch sử, thư tịch cổ, bản đồ địa chính, niên giám thống kê và điền dã thực địa. Phương pháp bản đồ sử dụng phần mềm Mapinfo giúp thể hiện sự biến đổi không gian đô thị theo thời gian. Đây là công trình học thuật có hệ thống đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về đô thị Nam Định trong bối cảnh đô thị hóa Việt Nam hiện đại.

1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thành phố Nam Định

Thành phố Nam Định nằm ở trung tâm tỉnh Nam Định, vùng đồng bằng sông Hồng, cách Hà Nội khoảng 90 km về phía nam. Vị trí địa lý thuận lợi tạo điều kiện cho sự hình thành và phát triển đô thị từ sớm. Địa hình thành phố tương đối bằng phẳng, chịu ảnh hưởng của hệ thống sông Hồng và sông Đào. Điều kiện tự nhiên này đã định hình cấu trúc không gian đô thị, hệ thống giao thông thủy bộ và sự phân bố dân cư qua các thời kỳ lịch sử. Từ năm 1997 đến nay, diện tích thành phố ổn định, tạo cơ sở cho việc so sánh số liệu thống kê theo chuỗi thời gian.

1.2. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng đa dạng nguồn tư liệu gồm tài liệu lưu trữ, thư tịch lịch sử, ảnh tư liệu và bản đồ qua các thời kỳ. Nguồn tư liệu điền dã thu thập trực tiếp tại thành phố Nam Định cung cấp dữ liệu sơ cấp quan trọng. Giai đoạn sau 1945 đến 1997, do nhiều lần chia tách và sáp nhập địa giới hành chính, số liệu thống kê không đồng nhất nên tác giả đối chiếu nhiều nguồn khác nhau. Phương pháp phân tích chính sách giúp đánh giá tác động của các quyết định hành chính đến sự phát triển đô thị. Niên giám thống kê từ năm 1997 là nguồn số liệu chính cho giai đoạn hiện đại.

II. Quá trình hình thành và phát triển đô thị Nam Định qua các thời kỳ

Đô thị Nam Định có lịch sử hình thành lâu đời, gắn liền với vai trò hành chính và kinh tế của vùng đồng bằng sông Hồng. Trước thời Pháp thuộc, Nam Định đã tồn tại với tư cách một trung tâm hành chính quan trọng của khu vực. Thời kỳ thực dân Pháp đánh dấu bước chuyển hóa quan trọng khi đô thị được quy hoạch và mở rộng theo mô hình thực dân. Hạ tầng công nghiệp, giao thông và kiến trúc đô thị giai đoạn này để lại dấu ấn rõ nét trong cấu trúc không gian thành phố. Sau năm 1945, đô thị Nam Định trải qua nhiều giai đoạn thay đổi địa giới hành chính phức tạp. Giai đoạn đổi mới từ năm 1986 mở ra xu hướng phát triển mới với kinh tế thị trường. Nghiên cứu của Vũ Đại An đặt đô thị Nam Định trong so sánh với các đô thị khác ở Việt Nam như Sài Gòn, Chợ Lớn, Long Xuyên để làm rõ đặc trưng riêng biệt trong mô hình hình thành đô thị vùng Bắc Bộ.

2.1. Diện mạo đô thị Nam Định trước và trong thời Pháp thuộc

Trước khi người Pháp đến, Nam Định đã là một trung tâm hành chính và thương mại của xứ Sơn Nam. Sự ra đời của đô thị Nam Định gắn với vai trò kiểm soát vùng đồng bằng phía nam sông Hồng. Thời Pháp thuộc, Nam Định được quy hoạch lại với hệ thống đường phố, khu hành chính và cơ sở công nghiệp dệt. Nhà máy dệt Nam Định trở thành biểu tượng của công nghiệp hóa thực dân đồng thời định hình cơ cấu dân số và không gian đô thị. Chính sách đô thị hóa của người Pháp tại Nam Định phản ánh mô hình chung được áp dụng tại nhiều thành phố thuộc địa khác ở Đông Dương.

2.2. Đô thị Nam Định giai đoạn 1945 1986 và những biến động hành chính

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, thành phố Nam Định trải qua nhiều lần thay đổi địa giới hành chính do yêu cầu chiến tranh và xây dựng kinh tế. Việc chia tách và sáp nhập các đơn vị hành chính làm gián đoạn số liệu thống kê, gây khó khăn cho nghiên cứu so sánh. Nguồn tư liệu chính giai đoạn này đến từ các báo cáo kinh tế xã hội và lịch sử đảng bộ địa phương. Mặc dù tính khách quan của tư liệu có hạn chế do yếu tố chính trị, tác giả đã đối chiếu nhiều nguồn để đưa ra đánh giá trung thực về thực trạng phát triển đô thị trong giai đoạn này.

III. Thực trạng và khuynh hướng biến đổi đô thị Nam Định hiện nay

Từ năm 1986 đến nay, đô thị Nam Định biến đổi mạnh mẽ dưới tác động của chính sách đổi mới và đô thị hóa toàn quốc. Báo cáo Đánh giá Đô thị hóa ở Việt Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2011 xác định các xu hướng, cơ hội và thách thức chính mà các thành phố Việt Nam đang đối mặt. Nam Định không nằm ngoài xu thế này khi phải giải quyết đồng thời nhiều bài toán phát triển. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội chịu áp lực lớn từ quá trình di dân và mở rộng đô thị. Cấu trúc kinh tế chuyển dịch từ công nghiệp dệt truyền thống sang đa dạng hóa ngành nghề. Không gian đô thị mở rộng theo hướng ngoại vi trong khi khu vực trung tâm lịch sử đối mặt với áp lực cải tạo. Dân số tăng kéo theo nhu cầu nhà ở, giao thông và dịch vụ công ngày càng cao. Phân tích chính sách đô thị cho thấy còn nhiều khoảng cách giữa quy hoạch và thực tế triển khai tại Nam Định.

3.1. Biến đổi không gian và cơ cấu kinh tế đô thị Nam Định

Không gian đô thị Nam Định mở rộng rõ rệt sau năm 1997 khi địa giới hành chính ổn định. Quá trình đô thị hóa diễn ra theo hướng lan tỏa từ lõi trung tâm ra các vùng ven. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch từ công nghiệp nặng sang thương mại, dịch vụ và công nghiệp nhẹ. Khu công nghiệp và khu đô thị mới hình thành ở ngoại vi thay thế dần các làng ven thành. Việc sử dụng phần mềm Mapinfo trong phân tích bản đồ giúp lượng hóa sự biến đổi không gian theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể, cung cấp bằng chứng khoa học thuyết phục về xu hướng phát triển.

3.2. Thách thức và chính sách phát triển đô thị Nam Định bền vững

Đô thị Nam Định đối mặt với các thách thức như hạ tầng cũ kỹ, áp lực dân số và nguy cơ xuống cấp khu phố lịch sử. Chính sách nhà nước ban hành về quy hoạch đô thị có ảnh hưởng trực tiếp đến hướng phát triển thành phố. Tác giả phân tích ưu điểm và hạn chế của từng giai đoạn chính sách để đánh giá hiệu quả thực tế. Vấn đề bảo tồn di sản kiến trúc Pháp thuộc trong bối cảnh phát triển kinh tế đặt ra bài toán khó cho chính quyền địa phương. Kinh nghiệm từ các đô thị khác trong nước và khu vực có thể cung cấp bài học tham chiếu cho Nam Định.

IV. Kết luận và ý nghĩa nghiên cứu đô thị Nam Định trong Việt Nam học

Luận án tiến sĩ của Vũ Đại An đóng góp quan trọng vào kho tàng nghiên cứu đô thị Việt Nam cận hiện đại. Hầu hết các công trình trước đây tập trung vào đô thị thời quân chủ hoặc các đô thị lớn miền Nam mà ít chú ý đến các thành phố vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nghiên cứu về Nam Định lấp đầy khoảng trống đó. Cách tiếp cận liên ngành kết hợp lịch sử, địa lý và xã hội học tạo ra bức tranh toàn diện về sự hình thành và biến đổi đô thị. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở dữ liệu và khung phân tích có thể áp dụng cho nghiên cứu các đô thị tương tự ở Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh đô thị hóa, hiểu rõ quá trình hình thành lịch sử của các đô thị là nền tảng để hoạch định chính sách phát triển bền vững. Công trình khẳng định vai trò của Việt Nam học như một ngành khoa học liên ngành có khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn của xã hội đương đại.

4.1. Đóng góp của luận án vào nghiên cứu lịch sử đô thị Việt Nam

Luận án cung cấp nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên về đô thị Nam Định từ góc độ Việt Nam học, bổ sung vào hệ thống nghiên cứu đô thị vùng đồng bằng Bắc Bộ còn nhiều khoảng trống. So sánh với các đô thị miền Nam như Sài Gòn và Chợ Lớn làm nổi bật đặc trưng riêng của mô hình đô thị hóa vùng Bắc. Hệ thống tư liệu đa dạng được xử lý khoa học tạo ra nguồn dữ liệu tham chiếu cho các nghiên cứu tiếp theo. Kết quả phân tích chính sách giúp hiểu rõ mối quan hệ giữa quản trị nhà nước và sự phát triển đô thị trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể của Việt Nam.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu trong quy hoạch và phát triển đô thị

Kết quả luận án có giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác quy hoạch đô thị Nam Định trong giai đoạn tiếp theo. Bản đồ phân tích không gian và cơ sở dữ liệu lịch sử là công cụ hỗ trợ ra quyết định cho chính quyền địa phương. Xu hướng biến đổi được xác định giúp dự báo các áp lực phát triển trong tương lai. Kinh nghiệm từ nghiên cứu Nam Định có thể nhân rộng cho các đô thị cấp tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng với bối cảnh tương tự. Đây là đóng góp thiết thực của khoa học cơ bản vào thực tiễn quản lý và phát triển đô thị Việt Nam bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ đô thị nam định quá trình hình thành thực trạng và khuynh hướng biến đổi

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận án bao gồm 4 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu, lịch sử vấn đề, cơ sở lí thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu. Khái lƣợc quá trình hình thành và phát triển thành phố Nam Định đến năm 1986. Thực trạng thành phố Nam Định giai đoạn 1986 – 2018.

Đặc điểm và khuynh hƣớng biến đổi của đô thị Nam Định. TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU, LỊCH SỬ VẤN ĐỀ, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan địa bàn thành phố Nam Định 1. Vị trí địa lý và sự thay đổi hành chính Thành phố Nam Định có vị trí địa lý phía đông giáp tỉnh Thái Bình và các huyện Nam Trực, Mỹ Lộc; phía tây giáp các huyện Vụ Bản, Mỹ Lộc; phía nam giáp các huyện Vụ Bản, Nam Trực; phía bắc giáp huyện Mỹ Lộc.

Thời Hùng Vƣơng, vùng đất này là bộ Lục Hải; thời Hán thuộc quận Giao Chỉ. Các sách Tân biên Nam Định tỉnh địa dư chí lược của Khiếu Năng Tĩnh và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn cho biết sang tới thời Lý, vùng đất này thuộc lộ Hải Thanh. Đến đời Trần Thái Tông đổi tên là Thiên Thanh. Năm 1262, vua Trần Thánh Tông đổi tên Thiên Thanh thành Thiên Trƣờng.

Khu vực thành phố Nam Định hiện nay với hai cung điện Trùng Quang và Trùng Hoa là thủ phủ của phủ Thiên Trƣờng, đƣợc coi là kinh đô thứ hai của vƣơng triều Trần bên cạnh kinh đô Thăng Long. Thời thuộc Minh, vùng đất này thuộc huyện Mỹ Lộc của phủ Phụng Hóa (phủ Thiên Trƣờng đổi ra). Thời vua Lê Thái Tổ thuộc Nam đạo, đến năm 1466 đặt làm Thiên Trƣờng thừa tuyên, năm 1469 gọi là Sơn Nam thừa tuyên. Thời Hồng Đức gọi là xứ Sơn Nam; thời Tây Sơn nơi đây là thủ phủ của trấn Sơn Nam hạ.

Năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) đổi tên là trấn Nam Định. Trong suốt giai đoạn thế kỷ XVIII-XIX, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, khu vực thành phố Nam Định chính là lỵ sở của trấn Sơn Nam Hạ. Năm Minh Mệnh thứ 13 (1832), huyện Mỹ Lộc đƣợc tách làm 2 là huyện Thƣợng Nguyên và huyện Mỹ Lộc thuộc phủ Thiên Trƣờng (thời Tự Đức gọi là phủ Xuân Trƣờng) tỉnh Nam Định. Thành phố Nam Định hiện nay là một phần đất của cả hai huyện Thƣợng Nguyên và Mỹ Lộc.

Thời gian này, huyện Mỹ Lộc có 7 tổng (Đệ Nhất, Nhƣ Thức, Mỹ Trọng, Kim Lũ, Cảo Môn, Đông Mặc, Ngũ Trang), địa phận thành phố Nam Định gồm các tổng Đông Mặc, Mỹ Trọng và một phần các tổng Đệ Nhất, Nhƣ Thức, Cao Đài. Huyện Thƣợng Nguyên gồm 5 tổng (Cổ Viễn, Cao Đƣờng, Đồng Phù, Hƣ Tả, Bách Tính); địa phận thành phố Nam Định gồm có tổng Đồng Phù và một phần tổng Cao Đƣờng. 12 Sách Nam Định địa dư chí mục lục của Nguyễn Ôn Ngọc cho biết vào cuối TK XIX, khu vực thành phố Nam Định luôn trong cảnh thuyền bè chật bến, buôn bán tấp nập chỉ sau Hà Nội. Lúc này thành phố Nam Định có tổng cộng 12 phố là: Vị Xuyên, Vĩnh Lại, Đô Xá, Đồng Lạc, Hai Cơ, Cửa Bắc, Vĩnh Ninh, Yên Lạc, Đông Thành, Tả Trƣờng, Định Tĩnh, Năng Tĩnh.

Sau khi chiếm đƣợc thành phố Nam Định, thực dân Pháp gấp rút xây dựng các cơ sở kinh tế công thƣơng nghiệp. Chính vì vậy, Nam Định nhanh chóng trở thành một trung tâm công nghiệp lớn của Bắc Kỳ nói riêng, toàn xứ Đông Dƣơng nói chung. Trên cơ sở đó, ngày 17/10/1921, Toàn quyền Đông Dƣơng ra Nghị định thành lập thành phố Nam Định đƣợc hƣởng quy chế thành phố cấp III. Sau Cách mạng tháng 8/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định trong Sắc lệnh số 77 ngày 21/12/1945, Nam Định là thành phố đặt dƣới quyền cấp kỳ (Bắc Bộ) và là đơn vị hành chính tƣơng đƣơng và tồn tại song song với tỉnh Nam Định.

Ngày 24/1/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Lâm thời nƣớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiếp tục ký sắc lệnh số 11 về việc tổ chức chính quyền nhân dân tại các thị xã lớn. Theo nhƣ tinh thần của sắc lệnh mới thì thành phố Nam Định đƣợc gọi là thị xã Nam Định và trực thuộc sự quản lý của tỉnh Nam Định và tƣơng đƣơng với các huyện khác trong tỉnh. Tới năm 1950, sáp nhập 4 xã Lộc An, Mỹ Xá, Lộc Hoà, Lộc Hạ của huyện Mỹ Lộc vào Thị xã Nam Định Ngày 3/9/1957 Phủ Thủ tƣớng đã ban hành nghị định số 405/ TTg sáp nhập thành phố Nam Định vào tỉnh Nam Định và đặt Ủy ban hành chính thành phố Nam Định trực thuộc sự chỉ đạo của Ủy ban hành chính tỉnh Nam Định [109]. Ngày 8/8/1964, chuyển 5 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vƣợng, Mỹ Xá về huyện Mỹ Lộc quản lý.

Năm 1965, hai tỉnh Hà Nam và Nam Định sáp nhập thành tỉnh Nam Hà, thành phố Nam Định trở thành tỉnh lỵ tỉnh Nam Hà. Ngày 13/6/1967, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 76/CP về việc sáp nhập toàn bộ huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định. 13 Năm 1975, hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình sáp nhập thành tỉnh Hà Nam Ninh, thành phố Nam Định là tỉnh lỵ tỉnh Hà Nam Ninh, gồm 10 phƣờng: Cửa Bắc, Năng Tĩnh, Nguyễn Du, Phan Đình Phùng, Quang Trung, Trần Đăng Ninh, Trần Hƣng Đạo, Trần Tế Xƣơng, Trƣờng Thi, Vị Xuyên và 15 xã: Lộc An, Lộc Hạ, Lộc Hòa, Lộc Vƣợng, Mỹ Hòa, Mỹ Hƣng, Mỹ Phúc, Mỹ Tân, Mỹ Thắng, Mỹ Thành, Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Trung, Mỹ Xá. Ngày 27/4/1977, sáp nhập 9 xã: Mỹ Thịnh, Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Thành, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Phúc, Mỹ Hƣng, Mỹ Trung vào huyện Bình Lục.

Ngày 12/1/1984, sáp nhập 2 xã Mỹ Trung và Mỹ Phúc thuộc huyện Bình Lục vào thành phố Nam Định. Năm 1985, phƣờng Trƣờng Thi đƣợc chia thành hai phƣờng là Trƣờng Thi và Văn Miếu; phƣờng Năng Tĩnh thành hai phƣờng Ngô Quyền và Năng Tĩnh; phƣờng Cửa Bắc chia thành Cửa Bắc và Bà Triệu; phƣờng Vị Xuyên thành Vị Xuyên và Vị Hoàng; phƣờng Trần Tế Xƣơng thành Hạ Long và Trần Tế Xƣơng. Tháng 8/1991, tỉnh Hà Nam Ninh tách thành hai tỉnh là Nam Hà và Ninh Bình, thành phố Nam Định là tỉnh lỵ của tỉnh Nam Hà. Tháng 11/1996, tỉnh Nam Hà lại tách thành hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, thành phố Nam Định tiếp tục là tỉnh lỵ của Nam Định.

Cùng với sự chia tách giữa hai tỉnh Nam Định và Hà Nam thì đồng thời chuyển 7 xã Mỹ Thuận, Mỹ Tiến, Mỹ Hà, Mỹ Thịnh, Mỹ Thành, Mỹ Thắng, Mỹ Hƣng thuộc huyện Bình Lục về thành phố Nam Định quản lý. Ngày 2/1/1997, tiếp tục sáp nhập hai xã Nam Vân và Nam Phong của huyện Nam Ninh vào thành phố Nam Định. Thành phố Nam Định lúc này có diện tích tự nhiên 6.760 ha, dân số 263.600 ngƣời, đƣợc chia thành 25 phƣờng, xã. Ngày 26/2/1997, Chính phủ lại tách 11 xã: Mỹ Trung, Mỹ Hƣng, Mỹ Hà, Mỹ Thắng, Mỹ Thịnh, Mỹ Tiến, Mỹ Thuận, Mỹ Thành, Mỹ Tân, Lộc Hòa để tái lập huyện Mỹ Lộc.

Thành phố Nam Định sau khi điều chỉnh địa giới hành chính còn lại 3.887,02 ha diện tích tự nhiên, dân số 232.640 ngƣời, đƣợc chia thành 15 phƣờng, 6 xã. Ngày 6/9/1997, chuyển xã Lộc Hòa của huyện Mỹ Lộc vào thành phố Nam Định. Thành phố Nam Định có 4.545,14 ha diện tích tự nhiên, dân số 240.784 14 ngƣời, gồm 15 phƣờng: Hạ Long, Trần Tế Xƣơng, Vị Xuyên, Vị Hoàng, Phan Đình Phùng, Nguyễn Du, Quang Trung, Ngô Quyền, Bà Triệu, Năng Tĩnh, Cửa Bắc, Trần Hƣng Đạo, Trƣờng Thi, Văn Miêu, Trần Đăng Ninh và 7 xã: Nam Vân, Nam Phong, Lộc Vƣợng, Lộc Hạ, Mỹ Xá, Lộc An và Lộc Hoà. Ngày 29/9/1998, Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại II.

Ngày 9/1/2004, thành lập phƣờng Lộc Vƣợng trên cơ sở xã Lộc Vƣợng; thành lập phƣờng Lộc Hạ trên cơ sở xã Lộc Hạ; thành lập phƣờng Thống Nhất trên cơ sở một phần đất của các xã Lộc Vƣợng, xã Lộc Hạ, phƣờng Quang Trung và Vị Hoàng; thành lập phƣờng Cửa Nam trên cơ sở một phần diện tích đất của xã Nam Phong và xã Nam Vân; thành lập phƣờng Trần Quang Khải trên cơ sở một phần diện tích đất của phƣờng Năng Tĩnh. Thành phố Nam Định có 20 phƣờng và 5 xã. Ngày 28/11/2011, Thủ tƣớng Chính phủ công nhận thành phố Nam Định là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Nam Định. Ngày 16/7/2019, chuyển 2 xã Lộc Hòa và Mỹ Xá thành 2 phƣờng.

Thành phố Nam Định có 22 phƣờng và 3 xã với tổng diện tích 4.641 ha nhƣ hiện nay. Bản đồ hành chính thành phố Nam Định (Nguồn: UBND thành phố Nam Định) 15 1. Đi u kiện tự nhiên, địa hình Tỉnh Nam Định n m giữa hai con sông Hồng và sông Đáy. Tính chất châu thổ của vùng hạ với những đặc điểm dốc tự nhiên trong tỉnh Nam Định khiến cho sông Hồng tại đây phải phân ra nhiều chi lƣu để có thể thoát nƣớc nhanh ra biển, trong đó quan trọng nhất là sông Nam Định (sông Đào), rồi đến sông Ninh Cơ.

Sông Đào là sông vận chuyển nƣớc thứ 3 của sông Hồng sau trạm Sơn Tây. Nhƣ thế có nghĩa là tỉnh Nam Định chịu sức ép rất lớn của nƣớc sông Hồng và thuỷ triều biển Đông. Điều này cũng cắt nghĩa tầm quan trọng của hệ thống đê sông, đê biển và các dòng sông chi chít trong nội đồng. Hệ thống sông ngòi đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình lịch sử của tỉnh Nam Định nói chung và thành phố Nam Định nói riêng.

Không chỉ đóng vai trò cung cấp phù sa mà còn cung cấp nƣớc phục vụ tƣới tiêu và giao thông đƣờng thuỷ. Hơn nữa, với vị trí gần sông giáp biển, Nam Định có nhiều điều kiện để phát huy lợi thế kiểm soát vùng cửa sông duyên hải, cửa ngõ của đất nƣớc. Khu vực thành phố Nam Định hiện nay n m sát sông Hồng (sông Thái Bình) và đƣợc bao bọc bởi hai con sông là sông Đào (sông Nam Định) và sông Vĩnh Giang. Sông Hồng và ngã ba Tuần Vƣờng có thể coi là cửa ng đƣờng thuỷ vào Nam Định, có ý nghĩa to lớn không chỉ về quốc phòng mà còn cả trên lĩnh vực kinh tế.

Bên cạnh dòng chảy chính, sông Hồng và hệ thống chi lƣu ch ng chịt đã sản sinh ra một khu vực đất đai phì nhiêu không chỉ cấu tạo nên hình hài của Nam Định nhƣ hiện nay mà còn là một trọng những yếu tố hình thành nên lịch sử, văn hiến của cả vùng hạ lƣu này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ