CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn ĐTN cho LĐNT giữ vị trí, vai trò quan trọng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Chất lượng nguồn nhân lực cho LĐNT sẽ là yếu tố quyết định nâng cao năng lực cạnh tranh và sự thành công của mỗi quốc gia như một quốc gia nông nghiệp, nông thôn như Việt Nam.
Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho LĐNT, tạo ra người lao động có kỹ năng nghề, có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của công nghệ thì đào tạo nghề được xem là một trong những đích đến quan trọng. Với ý nghĩa đó, lao động nông thôn đã được thừa nhận trong hành lang pháp lý quốc tế và trong hệ thống pháp luật quốc gia của các nước. Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đã ban hành rất nhiều văn bản điều chỉnh mối quan hệ liên quan đến đào tạo nghề như: Công ước số 168 về xúc tiến việc làm và bảo vệ việc chống lại thất nghiệp; Công ước số 122 năm 1964 về chính sách việc làm; Công ước số 142 năm 1974 về vai trò của hướng nghiệp và đào tạo nghề trong việc khai thác tài nguyên nhân lực; Công ước số 140 năm 1974 về nghỉ việc để học tập có hưởng lương; Công ước số 159 năm 1983 về tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm của những người có khuyết tật; Khuyến nghị số 83 về tổ chức dịch vụ việc làm; Khuyến nghị số 136 về những chương trình đặc biệt về việc làm và đào tạo cho thanh niên nhằm mục đích phát triển; Khuyến nghị số 169 năm 1964 về chính sách việc làm; Khuyến nghị số 189 năm 1998 về các điều kiện chung khuyến trợ tạo việc làm tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ… Đặc biệt là Công ước 142 năm 1974 về vai trò của hướng nghiệp và đào tạo nghề trong việc khai thác tài nguyên nhân lực. Công ước này là một văn kiện pháp 8 Luan van lý quan trọng quy định về trách nhiệm Nhà nước trong việc chấp thuận và triển khai các chính sách, chương trình hoàn chỉnh, có phối hợp về hướng nghiệp, ĐTN, mối liên hệ chặt chẽ giữa hướng nghiệp, ĐTN với giải quyết việc làm cho người lao động.
Ngoài ra, Công ước cũng quy định việc hoàn thiện những hệ thống ĐTN, mở rộng hệ thống hướng nghiệp và hệ thống thông tin truyền thông về việc làm. Công ước cũng nhấn mạnh vai trò của thông tin và hướng nghiệp, mối quan hệ của người sử dụng lao động và người lao động trong thực hiện chính sách ĐTN. “Trong hành lang pháp lý của các quốc gia, ĐTN cho LĐNT có thể được các quốc gia ghi nhận rõ trong Bộ luật Lao động như Philippin, Pháp, Trung Quốc, Indonexia hoặc được quy định thông qua Luật đơn hành như Nhật Bản (Luật An ninh về việc làm năm 1974); Trung Quốc (Luật xúc tiến việc làm năm 2007); Mỹ (Luật việc làm và ĐTN cho LĐNT năm 1973); Ba Lan (Luật việc làm và thất nghiệp năm 1991). Pháp luật của Indonesia quy định, ĐTN cho LĐNT là tất cả các hoạt động nhằm cung cấp cho người lao động/công nhân hoặc nhân công tiềm năng có điều kiện và định hướng để tiếp thu, nâng cao và phát triển năng lực nghề, năng suất, kỷ luật, tinh thần, thái độ lao động, đạo đức nghề đạt đến một mức độ nhất định về kỹ năng, trình độ chuyên môn phù hợp với yêu cầu, tiêu chuẩn của một vị trí công tác hay một công việc” [9,tr.
“Ngoài ra, pháp luật Indonesia cũng quy định về năng lực nghề của người học nghề. Theo đó, năng lực nghề được xác định là khả năng của mỗi cá nhân về các mặt kiến thức chuyên môn, kỹ năng, tinh thần, thái độ làm việc tương ứng với các chuẩn mực đã định. Pháp luật của Philipin cũng quy định về ĐTN cho LĐNT, trong đó ĐTN cho LĐNT nhằm giúp nhu cầu của nền kinh tế về nhân lực đã qua đào tạo và thiết lập một chương trình quốc gia về học nghề thực hành với sự tham gia của người sử dụng lao động, người lao động và các cơ quan Chính phủ và phi Chính phủ, thiết lập các tiêu chuẩn học nghề thực hành để bảo vệ người học nghề thực hành. Khái niệm ĐTN cho LĐNT được định nghĩa dưới hình thức là học nghề thực hành.
Theo đó, học nghề thực hành được hiểu là đào tạo thực hành tại chỗ, vừa 9 Luan van học vừa làm, có bổ sung sự hướng dẫn lý thuyết liên quan. Đề cập đến ĐTN cho LĐNT, pháp luật của Lào lại quy định về xây dựng và phát triển các kỹ năng lao động. Theo đó, xây dựng các kỹ năng lao động được hiểu là cung cấp đào tạo nghiệp vụ cơ bản cho người lao động chưa từng được đào tạo nhằm xây dựng năng lực làm việc cho họ. Việc xây dựng và phát triển các kỹ năng lao động được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: học tập tại trường, đào tạo tại các trung tâm phát triển kỹ năng lao động, đào tạo thực hành nghề, khảo sát thực tế, các bài học trao đổi và các hoạt động khác trong việc nâng cao các kỹ năng lao động” [32;tr.
Đối với Việt Nam, thuật ngữ ĐTN cho LĐNT được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Từ điển Tiếng Việt, “đào tạo” được hiểu là làm cho trở thành người có năng lực, có khả năng làm việc theo những tiêu chuẩn nhất định.“Khái niệm nghề cũng được Từ điển Tiếng Việt định nghĩa. Qua đó xác định rằng, nghề có thể được hiểu là chuyên làm công việc nào đó trên cơ sở phân công lao động xã hội. Khái niệm nghề cũng được quan niệm là “những chuyên môn có những đặc điểm chung, gần giống nhau được xếp thành một nhóm chuyên môn.
Nghề vốn dĩ là tập hợp của một nhóm chuyên môn có cùng loại. Với thuật ngữ chuyên môn dung để chỉ một dạng lao động đặc trưng mà con người sử dụng sức mạnh của mình nhằm tác động các đối tượng cụ thể để làm thay đổi nó theo hướng phục vụ yêu cầu, mục đích cũng như lợi ích mang lại. Nghề là khái niệm dùng để chỉ một dạng xác định hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội của một người lao động, bao gồm sự hiểu biết kiến thức, có kỹ năng cần thiết nhất định” [15;tr.24] Theo đó, ĐTN cho LĐNT là quá trình hoạt động định hướng, chỉ dẫn giúp cho người lao động nông thôn có kiến thức và năng lực, kỹ năng cần thiết nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển xã hội nhất định. ĐTN cho LĐNT cũng được hiểu là quá trình trang bị cho người lao động các kiến thức, kỹ năng cần thiết để người lao động thực hiện được một công việc đáp ứng yêu cầu chuyên môn.
10 Luan van Dưới góc độ pháp lý, ĐTN cho LĐNT được hiểu là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học. Từ đây, đào tạo nghề cho lao động nông thôn được hiểu là hoạt động dạy - học để trang bị cho người học sau tốt nghiệp đã có các kiến thức và kỹ năng căn bản cùng tác phong, thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm tìm kiếm được việc làm hoặc tự tạo việc làm để sinh kế. Xuất phát từ quan niệm đó, cần có sự quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT. Quản lý nhà nước với đặc trưng là hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan nhà nước, nhất là cơ quan hành chính nhà nước và một số tổ chức được nhà nước ủy quyền quản lý theo luật định nhằm thi hành luật để thực hiện chức năng quản lý và tổ chức, điều hành của nhà nước đối với quá trình kinh tế - xã hội.
Đối với quản lý hành chính nhà nước đó là quản lý của khối hành pháp nhà nước trong quan hệ chấp hành, điều hành trên mọi lĩnh vực theo thẩm quyền nhà nước. Quản lý nhà nước được thực hiện bởi hệ thống cơ quan hành chính nhà nước, gồm có: Chính phủ và các cơ quan chính quyền địa phương các cấp (mà không kể các tổ chức thuộc nhà nước nằm trong cơ cấu nhà nước ví như doanh nghiệp). QLNN được hiểu là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhằm điều chỉnh những hành vi của con người do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, để thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người cũng như duy trì môi trường xã hội ổn định và phát triển. ĐTN đối với LĐNT là một trong các hoạt động của ngành giáo dục - đào tạo.
Quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là một hiện tượng gắn liền với xã hội khi xuất hiện có thị trường lao động, xuất hiện ở đâu và khi nào mà ở đó lao động xã hội đã đạt đến một trình độ xã hội hóa tương đối cao. Quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước về ĐTN cho LĐNT là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trong lĩnh vực giáo dục đào tạo nghề cho LĐNT.