Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE CONG TAC ĐÀO TẠO NGHE CHO ĐÔNG BAO DÂN TỘC THIẾU SO 1,1. Cơ sỡ lý luận về công tác đào tạo nghề cho đồng bào dân tộc thiểu số. Khái niệm đào tạo nghề Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho người lao động những kiến thức, kĩ năng và ý thức lao động bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu. cơ với nhau đó là day nghề và học nghé (Phan Văn Bình, 2012).
Nhu vậy, khái niệm này đã không chi dig lại ở trang bị những kiến thức kĩ năng cơ bán ma còn dé cập đến thái độ lao động cơ bản. Điều này thể hiện tính nhân văn, tỉnh thần xã hội chủ nghĩa, đề cao người lao động ngay trong quan niệm về lao động chứ không chỉ coi lao động là một nguồn nhân lực". Nó cũng thé hiện sự day đũ hơn vẻ van dé tinh than và kỷ luật lao. động - một yêu cầu vô cùng quan trọng trong hoạt động sản xuất với công nghệ và kỹ thuật tiên tiến hiện nay (Phan Văn Bình, 2012).
Đào tạo nghề được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con ngườ 20 cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Được phân chia làm nhiễu hình thức đảo tạo dé phù hợp với từng đối tượng lao động. Pao tạo nghề được thực biện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành. nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng.
đấp ủng tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. Được phân chia làm nhiều hình thức đào tạo để phù hợp với từng đổi tượng lao động (Phan Văn Bình, 2012). Khái niệm đồng bào dân tộc thiểu số “Thiểu số là một trong những vấn để phức tạp được đặt ra từ rất lâu trong đời sống xã hội. Khái niệm nhóm người thiểu số được dùng để hi cá nhóm người có những sự khác biệt về một phương diện nào đó với cộng đồng người chung trong xã hội.
Họ có thể khác biệt với nhóm người đa số về phương điện ngôn ngữ và văn hoá. Khác biệt về nhận thức và tôn giáo, về hoàn cảnh kinh tế, điều kiện sống và thu nhập vo à di kém theo đó là sự khác biệt về phương thức ứng xử của cộng đồng đối với chính họ. Nói đến nhóm người thiểu số cũng có nghĩa là đã khẳng định về sự tồn tại trên một khía cạnh khác của nhóm những người đa số được thừa nhận và thường được ứng xử khác biệt hơn. Do vậy, trong thục lịch sử, nhóm người được coi là thiêu số bao giờ cũng phải chịu những quy chế về pháp lý hay đạo đức riêng biệt, không được tham gia diy dit vào những hoạt động của đời sống công cộng.
Họ bị đối xử như là những “người riêng biệt" và trong. trường hợp đó, để tồn tại được bên những người đa số, họ cũng buộc phải tự coi minh là những "người riêng biệt”, “Trên thực. , người thiểu số là những người làm cho người ta lận thấy sự khác biệt so với cộng dong, nghĩa là họ mang những nét mà có thé khi nhìn vào cũng như giao tiếp với họ, người ta có thể nhận thấy ngay sự phân. biệt so với những thành viên khác trong cộng đồng Nhà xã hội học Mỹ Louis Wirth năm 1945 đã đưa ra một định nghĩa khá thông dụng về nhóm người thiểu s như sau: *Có thể gọi là thiêu số mọi nhóm người, do một số nét đặc thù về ngoại hình hay văn hoá, bị đối xử khác biệt và không bằng những thành viên khác của xã hội mà họ sinh sống và do 46 tự cot mình là đối tượng của một sự phân biệt tập thể”.
“Trong các cộng đồng làng xã ngày xưa, nhóm những người ngụ cư, tức là những người từ các cộng đồng khác đến sinh sống trong làng cũng có thé được nhận diện như những người thiểu số. Họ bị phân biệt đối xử và trên thực. ld khong dễ được nhận để hội nhập vào công đồng chung. Người ta cũng nói nhiễu tới những nhóm thiểu số khác trong xã hội, chẳng hạn như.
nhóm những người bị tật, nhóm bị nhiễm các căn bệnh hiểm nghèo bị cộng đồng xa lánh v.v Ngày nay, tình hình cũng không khác đi bao nhiêu. Ở nhiễu nước trên thể giới, khái niệm thiểusố cũng hoàn toàn cổ thé được áp dụng để nhận định vệ rường hợp của những người nhập cư từ những nước khác đến khi họ bị đối xử một cách phân biệt. Những người này là thiểu số vì họ đã có những quan niệm, thái độ, hành vi, giá trị, phong tục tập quán, lối sống xa lạ khiến họ về cơ bản khác hẳn với những người bản địa, va, nhiên l vay mà bị coi là thấp kém hơn so với những người thuộc nén văn hoá của đa số. Đặc điểm người dan tộc thiểu số ~ Người dân tộc thiểu số (DTTS ) có truyền thông đoàn kết; c‹ văn hóa cực kỳ đặc sắc và hắp dẫn; nhận thức và năng lực tự vươn lên thoát nghẻo.
của người dân tộc thiểu số còn hạn chế, một số có tính tự ti mặc cảm, một số khác còn trông chở, ÿ lại vào Nhà nước; tập quán sản xuất mang tính tự cung tự cắp, phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện tự nhiên; đông con. ~ Người DTS chủ yếu sống ở vùng nông thôn, lao động có tính thời vụ, có thời kỳ căng thẳng, có thời kỳ nhàn rỗi. Điều này do lao động người. dan tộc thiểu số sống chủ yếu tham gia sản xuất trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp và do tính chất riêng của ngành nông nghiệp nên chúng tôi đưa ra một số đặc điểm ảnh hưởng đến nhu cẩu trong từng thời kỳ; đời sống sản xuất và thu nhập của lao động nông nghiệp.
- ÐYUPHENÃI công việc trong sản xuất nông nghiệp mà hình thành nên tâm lý Ray thối quen làm việc một cách không liên tục, thiểu sáng tạo của lao động người DTS. - Lao động người DTS ở nước ta vẫn còn mang nặng tư tưởng và tâm lý tiểu nông, sản xuất nhỏ, ngại thay đổi nên thường bảo thủ và thiếu năng động. - Lao động người DTTS có kết cấu phức tạp không đồng nhất và có trình độ rất khác nhau. Hoạt động sản xuất n ng nghiệp được tham gia bởi nhiều người ở nhiễu độ tuổi khác nhau trong đó có cả những người ở ngoài độ tuổi lao động.
- Thu nhập của người DTTS còn thắp, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo còn cao, đặc biệt là tại vùng ven biển, vùng sâu, vũng xa, vùng có digu kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn ~ Trình độ lao động của người DTTS thấp, khả năng tổ chức sản xuất kém, đa số người DTTS sống bằng nghề nông nghiệp, làm thuê, làm mướn, thực t những người trong độ tuổi lao động thì trình độ vẫn thắp hơn so với lao động trong - Ba số người DTTS về ý thức học tập còn kém; lười biếng học tập. không có ý thức vươn lên; khả năng tiếp thủ chậm; chưa hình thành thái độ, tư. tưởng học tập đúng dan; trinh độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật còn thấp. ý thức tổ chức kỷ luật, ky cương và tinh thin hợp tác trong sản xuất chưa tốt, khả năng tư duy chủ động, sing go trong công việc chưa cao.
Khái niệm lao động nông thôn Đồng bào dân tộc thiểu số là những người sống ở khu vực nông thon, vùng sâu vùng xa là chủ yếu. Ngành nghề chính của đồng bào dân tộc thiểu số liên quan tới nông nghiệp và canh tác tại khu vực nông thôn. Chính vì vậy, họ là một lực lượng nằm trong lao động tại khu vực nông thôn. ‘Theo tác gid Nguyễn Văn Thuynh (2012) thì lao động nông thôn là những người có độ tuổi từ 15 tuổi trở lên tham gia lao động, hoạt động sản xuất ở khu vực nông thôn bao gồm cả lĩnh vực nông nghiệp và phi nông.
Trong đó bao gồm những người đủ các yếu tổ về thé chất, tâm sinh lý trong độ tuổi lao động theo quy định của Luật lao động (15 - 60 tuổi đối với. 55 tuổi đối với nữ), 10 1. Khái niệm đào tạo nghề cho lao động nông thôn Nhu đã nêu ở phần trên, đồng bào dân tộc thiểu một bộ phận trong. lao động nông thôn và tại các khu vực vùng si vũng xa thi đây là lực lượng, chính trong lao động nông thôn.
Chính vì vậy, đảo gố fghŠ cho động bào dân tộc thiểu số cũng là một hoạt động đảo tạo nghề cho lao động nông thôn. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là sự nghiệp của Dang, Nhà nước, của các cấp. các ngành và xã hội nhằm Hãng cao Chất lượng lao động nông thôn, đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH nông nghiệp, nông thôn. Nhà nước tăng cường đầu tư để phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn, có.
chính sách bảo đảm thực hiện công bằng xã hội Về cơ hội học nghề đối với mọi lao động nông thôn, khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia đảo tạo nghề cho lao động nông thôn; học nghề là quà lợi và nghĩa vụ của lao động nông thôn nhằm tạo việc làm, chu) tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống. Chuyển mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn từ dio tạo theo năng lực. có của cơ sở đảo tạo sang đào tạo theo nhu cầu học nghề của lao động nông thôn và yêu cầu của thị trường. lao động; gắn đảo tạo nghề với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, từng vùng, từng ngành, từng địa phương.
Đôi mới và phát triển đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và tạo điều kiện thuận lợi để lao động nông thôn tham gia học nghề phù hợp với trình độ học vấn, điều kiện kinh tế và nhu cầu học nghé của mình (Phan Văn Bình, 2012). Như vậy có thể nói, đào tạo nghề cho đồng bào dan tộc thiểu số là hoạt động có mục đích, có t6 chức nhằm truyền đạt những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo của một nghề nào đó cho người lao động đồng bào dân tộc thiểu số, từ đó. tạo ra năng lực cho người lao động đồ có thể thực hiện thành công nghề đã được đảo tạo. Khái niệm phát triển đào tạo nghề Phát triển đào tạo nghề là thể hiện sự thay đổi của công tác đảo tạo nghề ở giai đoạn sau so với giai đoạn trước đó và thường đạt ở mức cao hơn.
cả về lượng và về chất.