CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN -PHÁP LÝ VỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Khái niệm và vai trò của cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số.Khái niệm cán bộ, công chức là người dân tộc thiểu số Để đưa ra khái niệm và vai trò của cán bộ, công chức là người DTTS, cần làm rõ một số khái niệm cơ bản về cán bộ, công chức; cán bộ, công chức là người DTTS. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt: “Cán bộ là người làm việc trong cơ quan nhà nước; người giữ chức vụ phân biệt với người bình thường, không giữ chức vụ, trong cơ quan, tổ chức nhà nước; cán bộ tổ chức, cán bộ đại đội” [19, tr. Ở Việt Nam từ cán bộ được sử dụng một cách quen thuộc, phổ biến.
Hiểu theo nghĩa thông thường thì “cán bộ” được hiểu là người làm việc trong các cơ quan của Đảng, của Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở. Khoản 1 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2019 (sau đây viết tắt là Luật Cán bộ, công chức), định nghĩa về cán bộ: “Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[24]. Từ định nghĩa trên cho thấy, cán bộ có các dấu hiệu như sau: Là công dân Việt Nam; được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ; làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp huyện; trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. 7 Luan van Tại khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức định nghĩa về cán bộ cấp xã: “Cán bộ xã, phường, thị trấn là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội”.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức thì cán bộ cấp xã gồm các chức vụ: “Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ; Chủ tịch Hội Nông dân; Chủ tịch Hội Cựu chiến binh” [24]. Như vậy, cán bộ cấp xã có dấu hiệu như sau: Là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ, không có dấu hiệu trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước như cán bộ quy định tại khoản 1, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức. Về công chức, đây là một thuật ngữ được sử dụng từ rất sớm trong các văn bản pháp luật từ những năm 1950 của thế kỷ XX cho đến nay. Quy chế Công chức Việt Nam được quy định tại Sắc lệnh số 76/SL ngày 20-5-1950 của Chủ tịch Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nêu khái niệm về công chức: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo Quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ định”[20].
Ngày 26-02-1998, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh Cán bộ, công chức. Đây là văn bản pháp lý quy định về cán bộ, công chức của Nhà nước Việt Nam. Qúa trình triển khai thực hiện, Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập và được sửa đổi, bổ sung vào năm 2000 và năm 2003. Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 đã phân định được các đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước là viên chức, đồng thời quy định về công chức cấp xã.
Pháp lệnh chỉ nêu thuật ngữ chung về cán bộ, công 8 Luan van chức mà chưa đưa ra được khái niệm cán bộ, khái niệm công chức cụ thể. Để khắc phục những hạn chế trên khoản 2, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức quy định: “Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh tương ứng với vị trí việc làm trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[ 25]. Theo định nghĩa trên, công chức có các dấu hiệu sau: Là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức danh, chức vụ tương ứng với vị trí việc làm; công việc có tính chuyên nghiệp và thường xuyên; làm việc trong các cơ quan của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cấp huyện, trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan phục vụ theo chế độ chuyên nghiệp, công nhân công an, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Ngoài ra, được phân loại theo trình độ chuyên môn, trình độ được đào tạo.
Tuy định nghĩa không thể hiện rõ nhưng việc bổ nhiệm vào ngạch, vị trí việc làm cũng phần nào đã thể hiện nội dung này. Tại khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức định nghĩa về công chức cấp xã: “Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[24]. Theo quy định tại khoản 3 Điều 61 Luật Cán bộ, công chức thì công chức cấp xã có các chức danh: Trưởng Công an; Chỉ huy trưởng Quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường hoặc địa 9 Luan van chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường; Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý [24].
Căn cứ vào quy định của pháp luật hiện nay, để xác định một người là công chức cần xem xét các yếu tố: Có quyết định tuyển dụng, bổ nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước; có nơi làm việc là cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công an nhân dân. Hiện nay, DTTS là một khái niệm khoa học được sử dụng phổ biến trên phạm vị toàn cầu. Đây là thuật ngữ chuyên ngành dân tộc học và được các nhà nghiên cứu thường sử dụng để chỉ những dân tộc có ít dân số. Trên thực tế, khái niệm DTTS chỉ có ý nghĩa biểu thị tương quan về dân số trong một quốc gia đa dân tộc.
Theo nguyên tắc về bình đẳng giữa các dân tộc và theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thì khái niệm DTTS không mang ý nghĩa phân biệt về địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc mà nó được chi phối bởi những điều kiện lịch sử, kinh tế - chính trị - xã hội của mỗi dân tộc. Về khái niệm “Dân tộc” có thể hiểu theo hai bình diện. Theo nghĩa thông thường khái niệm dân tộc để chỉ một cộng đồng tộc người có chung ngôn ngữ, lịch sử - nguồn gốc, đời sống văn hóa và ý thức tự giác dân tộc. Theo nghĩa rộng dân tộc chỉ cộng đồng người cùng sinh sống trong một quốc gia, một nước.
Dân tộc Việt Nam là một khái niệm được hiểu theo nghĩa rộng: Là dân tộc, quốc gia, là một cộng đồng chính trị - xã hội, bao gồm 54 thành phần dân tộc, từ ít người đến nhiều người, từ thiểu số đến đa số, cùng sinh sống trong phạm vi một lãnh thổ, một quốc gia Việt Nam. Theo Đại từ điển Tiếng Việt, DTTS được định nghĩa là: “dân tộc có số dân ít, cư trú trong cộng đồng quốc gia nhiều dân tộc (có một dân tộc đa số) 10 Luan van sống ở vùng hẻo lánh, ngoại vi, vùng ít phát triển về kinh tế - xã hội”[19, tr. Theo Điều 4 Nghị định số 05/2011/NĐ-CP, ngày 14-01-2011 của Chính phủ về công tác dân tộc, quy định: “Dân tộc thiểu số là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [11]. Như vậy, khái niệm DTTS dùng để chỉ những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ lệ thấp trong tương quan về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc.
Khái niệm DTTS cũng không có ý nghĩa biểu thị tương quan so sánh về dân số giữa các quốc gia dân tộc trên phạm vi khu vực và thế giới. Một dân tộc có thể được xem là đa số ở quốc gia này, nhưng có thể được coi là thiểu số ở quốc gia khác. Như người Kinh được xem là dân tộc đa số ở Việt Nam, nhưng lại được coi là dân tộc thiểu số ở Campuchia (người Kinh chỉ là 1/33 dân tộc thiểu số của Campuchia); ngược lại người Khmer được coi là dân tộc đa số ở Campuchia, nhưng là DTTS ở Việt Nam (người Khmer chỉ là 1/54 dân tộc thiểu số của Việt Nam). Quan niệm về DTTS và dân tộc đa số, cũng như nội hàm của khái niệm này hiện nay còn nhiều vấn đề chưa thống nhất và nó cũng được vận dụng xem xét trong từng trường hợp, điều kiện cụ thể.
Mặt khác, nó còn phụ thuộc vào quan niệm và mối quan hệ so sánh về dân số của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc. Những nội dung được phân tích trên, về cơ bản là tương đối thống nhất đối với giới nghiên cứu về dân tộc học trên thế giới. Hiện nay, khái niệm cán bộ, công chức DTTS được sử dụng tương đối phổ biến ở Việt Nam. Từ khái niệm cán bộ, công chức, DTTS cho thấy: Cán bộ, công chức, DTTS là tập hợp của các khái niệm cán bộ, công chức và DTTS.