CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 1. Tổng quan các nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu ở Trung Quốc Số lượng thành ngữ trong tiếng Trung có rất nhiều, chỉ Từ điển Thành ngữ Tiếng Trung đã có hơn 4076 từ. Có không ít thành ngữ đề cập đến sự xuất hiện của nhiều hiện tượng vật lý có thé quan sát được trong khí quyền và trên mặt đất trong các điều kiện thời tiết nhất định, chăng hạn như hiện tượng lượng mưa, hiện tượng ngưng tụ trên mặt đất, hiện tượng vật cản đường nhìn và sét.
Hoạt động khí tượng liên quan mật thiết đến hoạt động sản xuất và cuộc sống của con người, thời tiết chuyên mùa xuân, hạ, thu, đông, khí hậu thay đồi, con người đã quen với những điều kiện thời tiết tự nhiên này, canh tác nông nghiệp không thể tách rời thời tiết. Ở Trung Quốc có một câu nói cũ là “Xem trời mà ăn”, có nghĩa là ngày xưa cuộc sống của con người phụ thuộc vảo thời tiết, khi thời tiết tốt mùa màng bội thu thì nông dân mới có cơm ăn no, nếu gặp hạn hán, mưa lũ thì năm đó người ta thường tiết kiệm ăn uống. Các hoạt động thời tiết ảnh hưởng đến cuộc sống con người và cũng ảnh hưởng đến cách nhìn của con người về thế giới. Các từ liên quan đến thời tiết để thể hiện cảm xúc của con người.
Loại thành ngữ liên quan đến thời tiết dan dần hình thành trong quá trình sản xuất của con người thường được dùng để miêu tả các hiện tượng không phải từ thời tiết, chăng hạn như cảm xúc, diễn biến, chiến tranh. Quá trình nhận thức nay tuy phức tạp nhưng có tính quy luật riêng. Về góc độ đối chiếu ngôn ngữ Dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học nhận thức, hầu hết các bài báo đều so sánh các từ thời tiết giữa hai ngôn ngữ và phân tích nguyên nhân văn hóa của chúng từ góc độ an du. Trong đó, hiện tượng thoi tiết "gió" được quan tâm hon nhiều so với các hiện tượng thời tiết khác.
Không chỉ là một hiện tượng tự nhiên, 10 mà còn được sử dụng dé đại diện cho đời song xã hội, tinh cảm tinh thần của con người.Điều này có thể được nhìn thấy từ các bài báo liên quan: La Khiết (2009) đã so sánh "gió" tiếng Anh và tiếng Trung từ góc độ ngôn ngữ học nhận thức. Tác giả sử dụng phép ân dụ dé chỉ ra tính phổ biến và sự khác biệt của hiện tượng này. Lý Tung và Phùng Ki (2006) đã so sánh ẩn dụ của "gió", và thảo luận điểm chung và khác về văn hóa. Thường Than (2015), sử dung lý thuyết khái niệm ân dụ dé phân tích nhận thức ân dụ về "gió" trong tiếng Trung và tiếng Anh, và chủ yếu phân loại miền đích ấn dụ của nó.
Từ góc độ khái niệm ân dụ, Đồng Từ Hà (2014) đã phân tích so sánh các cách diễn đạt ngôn ngữ của "gió trong tiếng Anh và tiếng Trung, đồng thời so sánh những điểm giống và khác nhau của chúng. Hoàng Hưng Vận và Tạ Thế Kiên (2013) đã tiến hành phân tích so sánh về phép ân dụ khái niệm "gió" trong tiếng Anh và tiếng Trung. Hà Lộ (2014) đã nghiên cứu từ nguyên và nghĩa gốc của "gió", đồng thời phân tích sự giống và khác nhau của "gió" trong tiếng Anh và tiếng Trung và đưa ra lý do là từ quan điểm nhận thức, cuối cùng thảo luận về tác dụng của phép ân dụ về “hàm ý ngữ nghĩa, ngữ pháp và thực dụng của gió”. Ngoài ra còn có sự so sánh một số từ khí tượng khác như "mây", "sâm sét", "mưa", v.
Ví dụ, Thần Vĩ Tế (2013) dựa trên các phép ấn dụ, phân tích sự khác nhau của "gió và mưa" trong tiếng Anh và tiếng Trung. Hạ Sính Đình(2010) đưa ra các khái niệm an dụ của "lôi" trong tiếng Anh và tiếng Trung được so sánh và phân tích, phan ánh các nên tảng văn hóa và lịch sử khác nhau. Ly Mĩ và Lý Minh Hiến (2015) từ góc độ ngôn ngữ học nhận thức đã phân tích phép an dụ của "đám mây" trong tiếng Anh và tiếng Trung. Trương Rong (2011) đã so sánh các ân dụ của "đám mây" trong tiếng Anh và tiếng Trung từ các thành ngữ.
Từ tình hình nghiên cứu trên, mà cụ thê hơn là việc nghiên cứu từ ngữ khí tượn từ nhiều khía cạnh khác nhau, từ góc độ ngôn ngữ học truyền thống đến phân tích cau tạo từ và ngữ nghĩa của từ khí tượng, từ quan điểm nhận thức đến 11 phân tích sự mở rộng và tiến hóa của từ khí tượng. Các bài báo phân tích các từ khí tượng khác nhau dựa trên lý thuyết ân dụ nhận thức chủ yếu được viết dưới góc độ so sánh ngôn ngữ, hầu hết là nghiên cứu các từ khí tượng đơn lẻ, và chỉ có một số bài báo được mô tả một cách có hệ thống, tất cả đều tập trung vào phân tích nguyên nhân của ân dụ từ góc độ văn hóa dân tộc và vị trí địa lý, chưa có nghiên cứu cụ thé về quá trình nhận thức và cơ chế nhận thức, hầu hết là các bài báo trên tạp chí, chỉ có một số luận án tiến sĩ được viết bằng tiếng nước ngoài. Ngoài ra, việc phân tích cơ chế nhận thức của phép hoán vị từ khí tượng là chưa đủ, chỉ có một bài báo nói về phép ghép từ khí tượng. So sánh an dụ giữa các thành ngữ tiếng Việt và tiếng Trung chỉ ra các loại ấn du.
Ngoài ra, các học giả thực hiện nghiên cứu về từ khí tượng dựa trên phương pháp định tính, thiếu nghiên cứu định lượng, chưa kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng khiến người dân khó có hiéu biết khách quan về từ khí tượng. Có rat ít nghiên cứu về bản thé học, và nghiên cứu về các từ thời tiết thành ngữ chỉ giới hạn trong cấu trúc thành ngữ và cấu tạo từ.Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Thế kỷXX học giả Dương Quảng Hàm trong sách “Việt Nam văn học sử yếu ” (1943) đã tách khái niệm thành ngữ ra khỏi tục ngữ. Cuốn sách của học giả Dương Quảng Hàm được xem là “dau mốc” quan trọng trong nghiên cứu thành ngữ. Từ đây, thành ngữ bắt đầu được xem xét như một đối tượng riêng rẽ, độc lập trên các bình diện cấu tạo, ý nghĩa và cú pháp.
Vào những năm 70 của thế kỷ XX, thành ngữ đã trở thành một đối tượng nghiên cứu khoa học thực sự, va cũng từ giai đoạn nay, việc nghiên cứu thành ngữ đã đạt được nhiều thành tựu. Tuy nhiên, đây mới chỉ dừng lại ở giai đoạn xác định thành phần của thành ngữ, nghiên cứu tính chất của thành ngữ và cách phân biệt nó với các ngôn ngữ khác như: ngữ định danh, quán ngữ, hoặc với tục ngữ. Các bài viết này chủ yếu đăng trên tạp chí ngôn ngữ. Các công trình nghiên cứu về 12 thành ngữ với cách tiếp cận đa dạng từ nhiều góc nhìn của ngữ âm học, từ vựng học và cú pháp học với các tác giả tiêu biểu như: Nguyễn Văn Tu (1968);Nguyễn Văn Mệnh (1986); Cù Đình Tú (1973); Nguyễn Thiện Giáp (1975; 2003); Hồ Lê (1976); Hoàng Văn Hành (1973, 1979); Trương Đông San (1985);.
Nhiều khuynh hướng nghiên cứu thành ngữ đã xuất hiện. Những tác giả có thiên hướng nghiên cứu thành ngữ ở phương diện nguồn gốc, sự phát triển gắn với các bình diện văn hóa là: Bùi Khắc Việt (1978); Đỗ Hữu Châu (1999), Nguyễn Đức Dân (1986); Nguyễn Văn Khang (2005); .Các tác giả như Trương Đông San (1985), Hoàng Văn Hành (1979) thì đi sâu vào nghiên cứu một tiểu loại nhỏ của thành ngữ tiếng Việt là thành ngữ so sánh. Tác giả Nguyễn Văn Hăng(1999) với công trình “ Thành ngữ bốn yếu tố trong tiếng Việt hiện đại” đã góp một tiếng nói quan trọng vào việc nghiên cứu thành ngữ đối chiếu. Các tác giả như Phan Xuân Thành, Trịnh Câm Lan,.
thì đi vào nghiên cứu về cấu trúc ngữ nghĩa và giá trị biểu trưng của thành ngữ. Van dé thời tiết trong thành ngữ đã được Nguyễn Hồ Phương Chi bàn đến trong bài viết ““Thời tiết trong thành ngữ, tục ngữ tiếng Anh” đăng trên tạp chí “Ngôn ngữ và đời sống” năm 2011. Bài viết trình bày một số thành ngữ, tục ngữ có yếu tố thời tiết thông dụng mà người học tiếng Anh thường gặp và so sánh với một số thành ngữ, tục ngữ tương tự trong tiếng Việt. Vũ Thị Sinh (2016), nghiên cứu về thành ngữ có chứa các từ chỉ thời tiết trong tiếng Anh và tiếng Việt, từ góc độ văn hóa của chương ba của bài viết đã chỉ ra những đặc điểm về con người, văn hóa và khí hậu ở Anh và Việt Nam, đồng thời phân tích so sánh cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ thời tiết trong tiếng Anh và tiếng Việt dưới góc độ văn hóa.
Trong những năm gần đây, số lượng các bài báo nghiên cứu về thành ngữ trong các tạp chí chuyên ngành, luận án thạc sĩ và luận án tiến sĩ không phải ít. Đây là những nghiên cứu đa dạng về phong cách, nội dung phong phú và sâu sac về nên văn hoá. Tuy nhiên van có rat ít nghiên cứu về so sánh bản thê học, 13 và nghiên cứu về các từ thời tiết thành ngữ chỉ giới hạn trong cấu trúc thành ngữ và cau tao từ giữa các ngôn ngữ với nhau.Hệ thống các khái niệm 1.Khái niệm về thành ngữ trong tiếng Trung Như một viên ngọc quý trong tiếng Trung, thành ngữ là một đặc trưng lớn của văn hóa Trung Hoa. Khái niệm "thành ngữ” đã trải qua một quá trình phát triển dai và phức tạp, không thé tái tao hay đặt tên một cách đơn giản.
Trong thời kỳ Tần Hán, thành ngữ được gọi là "ngạn ngữ" hoặc "tục ngữ”, hoặc được gọi là "tao phi" hoặc "tảo ngữ”. Thời dai Đường, Đỗ Mục xem thành ngữ như một ngôn ngữ thường dân, mọi người sử dụng thường xuyên nhưng không biết chúng bắt nguồn từ đâu. "Đại học" trong Kinh lễ giải thích "ngạn ngữ" là tiếng lóng. Trong "Thuyết văn giải nghĩa" của Tôn Thất Đắc, ông cho rằng "ngạn ngữ" là lời đồn thôi.
Dương Nguyễn Tuan tiếp tục bồ sung cho "ngạn ngữ" trong "Thuyết văn giải nghĩa", cho rằng "nhâm" là đồn thối, đồn thổi lại là cổ ngữ. Những lời dạy cô xưa được truyền từ thé hệ này sang thế hệ khác được gọi là ngạn ngữ.