CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRUYỆN ĐỒNG THOẠI VÀ PHONG CÁCH NGÔN NGỮ NGHỆ THUẬT 1. Một số vấn đề chung về truyện đồng thoại 1. Khái niệm truyện đồng thoại Thuật ngữ truyện đồng thoại có gốc gác từ Trung Quốc xuất hiện ở nước ta vào khoảng những năm 60 của thế kỷ XX khi nền văn học đã cho ra đời những tác phẩm thuộc thể loại này. Trong quá trình sử dụng, nó đã được qui ước lại, thể hiện cách hiểu riêng của văn học Việt Nam.
Tìm hiểu thuật ngữ này trong nền văn học Trung Quốc, ta thấy có nhiều điểm khác biệt so với cách hiểu của ta hiện nay. Theo tài liệu Tinh hoa tri thức văn hóa Trung Quốc [50, tr.1156-1157], ta thấy thuật ngữ đồng thoại từ Nhật Bản du nhập vào Trung Quốc cuối thời nhà Thanh. Ban đầu, đồng thoại được hiểu là toàn bộ những tác phẩm có tính kể chuyện cho trẻ em. Nảy sinh từ trong dân gian, thể loại truyện đồng thoại thực sự thu hút trẻ em vì sức tưởng tưởng kỳ diệu và bay bổng của nó, bên cạnh truyền thuyết, thần thoại, tiểu thuyết thiếu nhi.
Về sau các nhà văn hiện đại, mà tiên phong là Diệp Thánh Đào đã kế thừa dân gian, học tập phương Tây sáng tác nên nhiều tác phẩm truyện đồng thoại dành cho thiếu nhi. Do vậy, trong nền văn học Trung Quốc, thuật ngữ truyện đồng thoại bao gồm cả đồng thoại dân gian và đồng thoại hiện đại. Căn cứ vào loại hình nhân vật, đồng thoại còn chia thành ba tiểu loại: đồng thoại siêu nhân thể (nhân vật chính là lực lượng thần kì), đồng thoại thường nhân thể (nhân vật chính là con người bình thường) và đồng thoại nghỉ nhân thể (nhân vật chính là những sự vật có sinh mệnh hoặc không có sinh mệnh được nhân cách hóa). Ở Việt Nam, thuật ngữ truyện đồng thoại có nhiều cách hiểu khác nhau, theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên (bản in 1994) định nghĩa đồng thoại theo nghĩa rộng: “Đồng thoại: truyện chép cho trẻ con xem” [73,tr. Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học (bản in 2001) lại có cách hiểu khác: “Đồng thoại: thể truyện cho trẻ em, trong đó loài vật và các vật vô tri được nhân cách hóa tạo nên một thế giới thần kì thích hợp với trẻ em” [87, tr. 11 Bên cạnh đó, một số nhà phê bình trong những bài viết của mình cũng cho ý kiến về vấn đề này. Tiêu biểu là các ý kiến sau đây: Vân Thanh trong bài viết “Tìm hiểu đặc điểm của truyện đồng thoại” đăng trên Tạp chí Văn học (4) năm 1974 đưa ra định nghĩa: “Đồng thoại là một thể loại đặc biệt của văn học, có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực và mơ tưởng.
Ở đây, các tác giả thường dùng nhân vật chính là động vật, thực vật và những vật vô tri, lồng cho chúng những tình cảm của con người. Qua thế giới không thực mà lại thực đó, tác giả lồng cho chúng những tình cảm và cuộc sống của con người. Tính chất mơ tưởng và khoa trương là những yếu tố không thể thiếu được trong đồng thoại” [78, tr. Cách hiểu của Vân Thanh đã phản ánh được những nét cơ bản của đồng thoại, làm cơ sở cho những định nghĩa khác về sau.
Cao Đức Tiến, Dương Thị Hương trong chuyên đề Văn học có đưa ra định nghĩa như sau: “Truyện đồng thoại: là sáng tác của các nhà văn hiện đại, sử dụng nghệ thuật nhân hóa loài vật để kể chuyện về con người, đặc biệt là trẻ em, vì vậy nhân vật chủ yếu là loài vật” [75, tr. Trong khi đó, Châu Minh Hùng, Lê Nhật Ký quan niệm truyện đồng thoại là: “Thể loại văn học được các nhà văn viết riêng cho các em với bút pháp kế thừa từ đồng thoại dân gian gọi là đồng thoại hiện đại. Vẫn là truyện lấy loài vật (con vật, cỏ cây, hoa quả…) làm đối tượng miêu tả, với tư cách là văn học viết, đồng thoại hiện đại phải mới so với đồng thoại dân gian” [49, tr. Như vậy, dù có sự khác nhau đôi chút, nhìn toàn thể, các quan niệm trên có sự thống nhất ở hai điểm: (i) truyện đồng thoại là những sáng tác hiện đại trong nền văn học Việt Nam; (ii) đa phần các quan niệm hiểu truyện đồng thoại theo nghĩa hẹp: thể loại truyện kể hiện đại dành cho trẻ em, có hình thức đặc thù là nhân cách hóa loài vật.
Luận văn tán đồng hai quan điểm vừa nêu và xem chúng là những tiêu chí nhận diện ban đầu của thể loại truyện đồng thoại. Những đặc trưng cơ bản của thể loại truyện đồng thoại Là những tác phẩm thuộc dòng tự sự, truyện đồng thoại hiển nhiên mang những đặc điểm cơ bản mà tất cả các tác phẩm tự sự đều có. Tuy nhiên, nó cũng có những 12 đặc trưng làm nên sự khác biệt so với các thể loại văn học khác. Hướng mục đích giáo dục đến trẻ em Khi nhà văn cầm bút viết một truyện đồng thoại, thì mục đích đầu tiên của họ không gì khác là dành cho trẻ em những bài học giản dị trong gia đình và ngoài xã hội.
Bằng con đường đi qua cảm xúc, qua hệ thống nhân vật vừa lạ lẫm vừa thân quen, truyện đồng thoại đem lại những nhận thức lý tính một cách nhẹ nhàng trong những bài học cụ thể, sáng rõ chứ không thâm trầm, sâu xa như thông điệp trong thể loại truyện ngụ ngôn. Nhân cách hóa Hệ thống nhân vật trong truyện đồng thoại rất phong phú, trong đó có cả con người nhưng chiếm đa số là loài vật. Khi xây dựng nhân vật, các nhà văn đồng thoại hướng ngòi viết của mình vào cả con người và loài vật, đem những đặc tính khác biệt ấy vào trong một thực thể. Gán cho loài vật những đường nét tính cách, tình cảm của con người, truyện đồng thoại vẫn tìm cách bảo lưu những đặc điểm tự nhiên vốn có của chúng.
Cách làm như vậy tuân thủ nguyên tắc “vật ngã đồng nhất” trong tư duy trẻ thơ, vì vậy dễ dàng tác động đến tâm hồn và tình cảm các em. Miêu tả loài vật nhưng lại hướng vào trẻ em như một đối tượng phản ánh, truyện đồng thoại vừa vẽ nên bức tranh thế giới loài vật sinh động, hấp dẫn đồng thời lại cho các em thấy “có mình” trong đó. Vì thế, các em được sống trong câu chuyện, sau đó tự liên hệ đến mình. Truyện có thể viết về con chó, con vịt, bút chì, thước kẻ… nhưng vẫn đem đến những bài học về cuộc sống xung quanh các em.
Theo Lê Nhật Ký, “Nguyên tắc miêu tả kết hợp này có tác dụng nới rộng diện tích nghĩa của hình tượng, khiến cho nhân vật đồng thoại hiện ra vừa là nó (vật), vừa là hình tượng ẩn dụ về con người” [63, tr. Giàu chất hư cấu, tưởng tượng Tiếp xúc với văn chương đồng thoại, không ai không nhận ra sức tưởng tưởng, hư cấu kỳ diệu của nó. Có thể nói, không có hư cấu, tưởng tượng, sẽ không có thể loại văn chương này. Mọi thành tựu trong cuộc sống đều bắt đầu bằng tưởng tưởng, tưởng tượng 13 giúp con người hình dung ra cái chưa có, hoặc cái không thể có.
Với văn chương nghệ thuật, tưởng tượng, hư cấu càng quan trọng. Không có nó, nhà văn không thể xây dựng tác phẩm. Điều này đặc biệt đúng với thể loại truyện đồng thoại. Về cơ bản, các tác giả đồng thoại không dựa vào dạng thức vốn có của cuộc sống để xây dựng tác phẩm, mà tập trung khái quát cao độ bản chất của hiện thực rồi lựa chọn hình thức đồ vật, loài vật để phản ánh cái bản chất ấy.
Phương pháp tái hiện cuộc sống đặc biệt này làm cho hiện thực có thêm màu sắc. Ở phương diện đối tượng tiếp nhận, với nhận thức lý tính còn non yếu, trẻ em chưa thể nhận thức cuộc sống như người trưởng thành. Vì vậy, tưởng tượng giúp cho các em thoát khỏi những giới hạn, ràng buộc của cuộc sống hằng ngày để mặc sức thả mình phiêu lưu trong thế giới tưởng tượng và ước mơ. Điều này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lý và thiên tính yêu thích tưởng tượng của trẻ em.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý là tưởng tưởng hư cấu trong truyện đồng thoại không được đi quá giới hạn của nó. Tưởng tượng thiếu căn cứ, đồng thoại sẽ trở thành mộng thoại. Ngược lại, đồng thoại thiếu tưởng tưởng thì trở thành ngốc thoại. Cả hai đều phương hại đến khả năng biểu đạt của thể loại, tư duy cũng như tâm hồn trẻ thơ.
Truyện đồng thoại với một số thể loại gần gũi 1. Truyện đồng thoại và truyện cổ tích loài vật Vốn là một thể loại dân gian, truyện cổ tích loài vật cũng lấy các con vật làm nhân vật chính, như trong truyện Trí khôn của ta đây có Hổ và Trâu. Dựa vào lối tư duy ngây thơ trong quá trình khám phá thế giới tự nhiên, các tác giả dân gian đã lý giải những đặc điểm hay tập tính ở các con vật. Về sau, người sáng tác còn lồng thêm những hiểu biết xã hội khiến cho các nhân vật hiện lên mang dáng dấp của những loại người, hạng người trong xã hội.
Điểm chung giữa truyện cổ tích loài vật và truyện đồng thoại là ở phương diện nhân vật. Tuy nhiên, so với truyện cổ tích loài vật, hệ thống nhân vật trong truyện đồng thoại phong phú và đa dạng hơn nhiều. Bên cạnh các con vật, truyện đồng thoại còn sử dụng cả đồ vật, thậm chí là các con số hay các khái niệm trừu tượng làm nhân vật. Nhân vật trong truyện đồng thoại cũng hiện lên cụ thể, sinh động hơn và ít nhiều 14 cá tính hơn.
Ngoài ra, bên cạnh một số tác phẩm tiếp tục đi vào chủ đề sự tích, còn lại chủ yếu các tác phẩm hướng tới cuộc sống của trẻ em qua hình tượng loài vật. Ngay cả với những tác phẩm có chủ đề sự tích như Bài học tốt (Võ Quảng) thì chủ đề giáo dục vẫn nổi lên như một cảm hứng chủ đạo. Qua việc lý giải vì sao mai rùa có nhiều vết rạn rứt thì truyện gửi đến bài học về lòng kiên nhẫn, qua đó có tác động giáo dục đến các em. Truyện đồng thoại và truyện ngụ ngôn Truyện ngụ ngôn là một thể loại văn học có mục đích răn đời thông qua hình thức chủ yếu là những câu chuyện kể về loài vật.
Nội dung giáo huấn và kiểu loại nhân vật là hai yếu tố đưa đến sự gần gũi giữa thể loại truyện ngụ ngôn và truyện đồng thoại.