Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN Chương 2: THANH PHAN DUNG SAU VỊ TỪ TRANG THAI TIENG VIET - XET TU PHUONG DIEN CAU TRÚC CÚ PHÁP. Chương 3: THÀNH PHÀN ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRANG THAI TIENG VIỆT - XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC THAM TÔ. MỘT SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN. Khái niệm và phân loại vi tir 1.
Khái lệm vị từ Khi nghiên cứu về từ loại nói chung và vị từ nói riêng, các tác giả thường dựa vào những tiêu chí khác nhau để xác định nội hàm khái niệm của chúng. Nhìn chung các tác giả thường dựa vào 4 tiêu chí chủ yếu sau: ý nghĩa nội dung khái quát, hình thái, phân bố hình thức và chức năng cú pháp cơ bản. Tùy vào việc lựa chọn tiêu chí nào và bao nhiêu tiêu chí mà các tác giả đưa ra những sự biện giải khác nhau về khái niệm vị từ. Dựa vào tiêu chí ý nghĩa nội dung khái quát của từ để định nghĩa vị từ được coi là cách định nghĩa lâu đời nhất vì nó xuất hiện từ khá sớm.
Platon (khoảng năm 429-347 TCN) ~ là người đầu tiên phân biệt rạch ròi hai từ loại danh từ và động từ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hai từ loại được Platon xác định là danh từ và động từ không phải có cùng ngoại diên như những từ loại mang nhãn hiệu này trong các hệ thống phân tích về sau làm nền tảng cho các ngữ pháp nhà trường chúng ta. Theo đó, ông xác định danh từ là từ ngữ có thể hoạt động trong câu với tư cách là chủ ngữ của một phát biểu, còn động từ là từ ngữ có thê diễn đạt hành động hay phẩm. chất được phát biểu.
Qua cách định nghĩa của ông, ta thấy rằng danh từ và động từ được thực hiện trên cơ sở logic học: nghĩa là những thành tố của mệnh đề. Và những đơn vị mà ngày nay chúng ta gọi là tính từ và động từ đều được gộp chung. vào một lớp: động từ. Đây có thê xem là một quan điểm sớm nhất về vị từ [33, tr27].
'Về sau, nhà triết học Aristotle (384-322 TCN) cũng đồng ý với cách phân chia trên của Platon (ngoài việc thêm vào một lớp riêng biệt nữa. đó là liên từ). Cũng tán đồng quan điểm dựa vào ý nghĩa để phân chia từ loại, một số tác giả thuộc trường phái tư biện ở Châu Âu khoảng nửa sau thế kỷ XIII đã phân loại các từ loại cơ bản dựa trên mức độ ôn định về thời gian, nghĩa là dựa vào đặc tính của đối tượng (động hay tĩnh, biến đổi nhanh hay chậm.) mà các từ loại phản ánh.Erfurt cho rằng vị từ dùng để thê hiện các trạng thái mau lẹ, những đối tượng thiếu ôn định, và gián đoạn [63, tr.16] "1 Nữa cuối thế kỷ 20, một số nhà ngôn ngữ học khác cũng đã dựa vào lối định nghĩa trên để xác định từ loại. Givón đã cho rằng sự phân biệt các từ loại chỉ có tính chất tương đối, các từ loại được đặt trên một thang độ về tính ồn định trên phương diện thời gian (time-stability scale) - nghĩa là đứng ở một vị trí nào đó giữa hai thái cực.
Trong đó, theo tác giả vị từ nằm về thái cực 'ổn định”, *bền vững'. Hai từ loại này (danh từ và vị từ) cũng được ông xem là có tính phổ quát, các từ loại còn lại tùy thuộc vào từng ngôn ngữ [59, tr.51-52] Như vậy theo tiêu chí ý nghĩa nội dung khái quát này thì vị từ được xác định trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Tuy vậy nó cũng bộc lộ thiếu sót khi không khái quát được rất nhiều những vị từ vốn trống nghĩa hoặc mờ nghĩa từ vựng. và ngay cả khi có ý nghĩa từ vựng thì ý nghĩa hành động trạng thái của chúng không.
Chính vì những mặt hạn chế đó mà quan điểm này đã bị nhiều người phê phán. Một trong những lời phê phán thông thường nhất đối với cách định nghĩa truyền thống là chúng luân quân. Người ta đã chỉ ra rằng nếu lớp danh từ được định nghĩa một cách theo “ý niệm” là lớp đơn vị từ vựng chỉ người, nơi chốn và sự vật, thì định nghĩa đó không thể áp dụng mà không đi vòng quanh để xác định cương vị của các từ éng Anh nhu truth, beauty, eleciric. Sự luân quân nằm ở chỗ là lý do duy nhất khiến ta nói truth, beauty, electric.
la “su vat”, đó là do những từ chỉ chúng trong tiếng Anh là danh từ. Trong thực tế, hầu như ngôn ngữ nảo cũng có hàng loạt từ được xếp vào các từ loại khác nhau nhưng cùng mang một kiêu ý nghĩa, và ngược lại hàng loạt từ nếu xét về mặt ý nghĩa chúng cần phải đưa vào từ loại khác so với cách xếp loại đã áp đặt cho chúng. Nhìn chung, cách phân loại và định nghĩa vị từ dựa vào ý nghĩa nội dung khái quát (dù đã mở rộng như Givón) cũng vẫn không bao chứa được hết các từ loại, nó chỉ dùng để xác định các từ loại 'từ vựng" như danh từ, vị từ, trạng từ. Hơn nữa lối phân loại này buộc phải chấp nhận sự tồn tại của những vùng giao thoa lớn giữa các từ loại (hiện tượng trung gian), không triệt đề cho vấn đề phân chia từ loại.
Một quan điểm phân chia từ loại khác là dựa vào tiêu chí hình thái. Đây là lối phân loại chú ý đến các tiêu chí thuộc về cấu trúc hay đặc điểm nội tại của ngôn 12 ngữ. Theo đó, một số nhà ngôn ngữ khi định nghĩa vị từ thường chỉ nêu ra tiêu chí hình thái hoặc xem đó là tiêu chí quan trọng. Với cách hiểu này các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã thấy trong ngôn ngữ biến hình của họ những cơ sở khách quan, khoa học cho sự phân biệt các từ loại.
Sự khác biệt đó ở cả hình thức biến đổi phù hợp với các phạm trù ngữ pháp do quan hệ ngữ pháp trong câu quy định và cả ở hình thức cấu tạo từ. Theo đó vị từ (tác giả gọi là động từ) được ông quan niệm “là thành phần lời nói không có biến hình cách mà có biến hình về thời, ngôi và số, có nghĩa là một hoạt động hay bị tác động đến” [Dẫn theo Lyons, 33, tr.Croft cũng đã sử dụng phương pháp tương tự để xác định vị từ: “Nếu một thân từ từ vựng có thể thích hợp trong một cấu trúc (câu đơn giản) mà lại nhận các biển ý chỉ số, ngôi, thời thì đó là vị từ" [54, tr.T] Cách phân loại dựa trên dấu hiệu hình thái này đối với các ngôn ngữ biến hình vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót. Trước hết, hình không phải là đặc điểm phổ quát của ngôn ngữ. Ngay cả các ngôn ngữ biến hình không nhất thiết phải có sự biến hình động từ để iện các phạm trù cách, số và thời.
Một số nhà ngôn ngữ học khác lại chủ trương hoàn toàn dựa vào sự phân bố hình thức — tức dựa vào sự kết hợp các øừ chứng bao quanh từ đang xét.Fries (1952) đã lập ra một số mô hình để xác định các từ loại trong tiếng Anh (tác giả gọi là các nhóm: 1, 2, 3,. Không đi theo hướng truyền thống tìm kiếm. tiêu chí về nội dung rồi mới gán cho các đơn vị đó những thuật ngữ có tính kỹ thuật, ing C. Fries đã hiển ngôn phương pháp làm việc của mình như sau: “Chứng zôi có trước hết tìm các đặc tính hình thức nhờ đó đề nhận diện từng đơn vị và cấu trúc chức năng rôi sau đó mới đưa ra câu hỏi các cầu trúc này thể hiện những ý nghĩa gi” [57, tr.175] Trước đó nhiều năm, trong giới Việt ngữ học, Lê Văn Lý (1948) cũng dựa vào tiêu chí tương tự đề phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt.
Tác giả đưa ra khái niệm chứng tự, nghĩa là những tự ngữ có thể phối hợp với một số tự ngữ này, và không, 13 thể phối hợp với một số tự ngữ khác. Bao nhiêu những tự ngữ có thê phối hợp được với các chứng tự nào đó sẽ thuộc về cùng một tự loại với nhau” [32, tr. Trên cơ sở đó, tác giả phân chia vốn từ tiếng Việt ra thành 3 nhóm lớn (A, B, C). trên theo tác giả nếu cần thiết có thể tách ra thành sáu nhóm gần gũi với cách gọi truyền thống: danh từ, động từ, tính từ, từ chỉ ngôi, số từ và tiêu từ.
Ưu điểm của cách phân loại này ngoài chỗ thuận tiện cho thao tác nhận diện, còn ở chỗ thấy được sự gần gũi của động từ và tính từ (tác giả gọi B và B`) — 2 từ loại mà ngày nay đã được nhiều tác giả gộp lại thành vị từ. Một tác giả khác là P. Honey cũng bằng cách tương tự như Lê Văn Lý đã chia từ tiếng Việt thành 12 loại, trong đó mỗi từ loại cũng được xác định dựa trên khả năng kết hợp với các từ chứng. Chäng hạn đề xác định từ loại 2 (tương đương với vị từ), tác giả đã lập luận như sau: “Tất cá những từ tiếng Việt đứng ngay trước chứ không phải đứng sau một trong hai từ “nhiều " hoặc “lắm” và không bao giờ đứng ngay sau một trong hai từ “hơi” hoặc “rat” thi được xếp vào nhóm các từ loại 2” [61 tr.14-15] Tuy vậy, tiêu chí này có những khuyết điểm như khó khăn trong việc tìm một số khuôn , từ chứng tiêu biểu để tránh sự chồng chéo, để hạn chế ngoại lệ, những mô hình này chỉ có tác dụng miêu tả từ loại cho từng ngôn ngữ cụ thể vì mỗi ngôn ngữ đều có những quy định về trật tự sắp xếp, kết hợp từ ngữ cũng như danh sách các từ chứng khác nhau.
Tiêu chí còn lại có thể kể đến để phân chia từ loại là tiêu chí dựa vào chức năng cú pháp cơ bản của chúng. Cách định nghĩa này vừa phân biệt được động từ và tính từ trong đa số các ngôn ngữ Ấn — Âu, lại vừa cho thấy nét chung rất cơ ban không thể bỏ qua giữa động từ và tính từ trong những ngôn ngữ như tiếng Việt. Một số nhà Hán học như A. Reformatskij đã phân loại tiếng Hán dựa trên chức năng cú pháp, từ đó đã xếp chung tính từ và động từ vào một nhóm gọi là vị từ.
Cũng dựa trên chức năng cú pháp, L.Thomspon đã thấy “verb" trong tiếng Việt phải bao gồm cả một số lớn “các hình thức hầu như là thích hợp gán cho các tính từ tiếng Anh theo sau hình thức nào đó của động từ 'tobe [66, tr.