Luận văn thạc sĩ về tham tố trong vị từ trạng thái tiếng Việt: Phân tích cú pháp và ngữ nghĩa

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ngôn ngữ học về tham tố đứng sau vị từ trạng thái tiếng việt xét từ phương diện cú pháp và ngữ nghĩa, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

159
12
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về tham tố trong vị từ trạng thái tiếng Việt

Nghiên cứu về tham tố trong vị từ trạng thái tiếng Việt là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học, nhằm tìm hiểu cấu trúc và ngữ nghĩa của các thành phần đứng sau vị từ. Luận văn này tập trung vào việc phân tích những đặc điểm ngữ nghĩa và pháp của tham tố trong tiếng Việt, từ đó làm rõ mối quan hệ giữa cú phápngữ nghĩa. Theo quan điểm của các nhà ngữ học, việc xác định đúng các thành phần này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về ngôn ngữ mà còn có ứng dụng thực tiễn trong việc dạy và học tiếng Việt. Đặc biệt, việc nghiên cứu này còn giúp người học ngoại ngữ nhận diện và sử dụng đúng các cấu trúc chứa trạng từ trong tiếng Việt.

II. Các khái niệm cơ bản liên quan đến tham tố

Trong ngôn ngữ học, khái niệm tham tố được định nghĩa là những yếu tố bổ sung cho vị từ, giúp làm rõ nghĩa của câu. Vị từ trạng thái thường được cấu thành từ động từ và các tham tố khác như trạng từ, danh từ. Luận văn đề cập đến các khái niệm như cấu trúc cú pháp, ngữ nghĩa từ vựng, và câu trúc câu để phân tích vai trò của tham tố trong việc hình thành nghĩa của câu. Theo đó, ngữ nghĩa của tham tố không chỉ phụ thuộc vào vị trí mà còn vào chức năng của nó trong câu. Những nghiên cứu trước đây cho thấy rằng việc phân tích tham tố trong vị từ trạng thái có thể giúp người học hiểu rõ hơn về cách sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên và chính xác.

III. Phân tích cú pháp và ngữ nghĩa của tham tố

Luận văn tiến hành phân tích cú phápngữ nghĩa của các tham tố trong vị từ trạng thái tiếng Việt. Các thành phần này được phân chia thành hai loại chính: bổ ngữ trực tiếpbổ ngữ gián tiếp. Mỗi loại có chức năng và vai trò khác nhau trong việc bổ sung thông tin cho vị từ. Việc phân tích này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về cách thức hoạt động của ngôn ngữ mà còn giúp nhận diện các cấu trúc ngữ pháp phức tạp trong tiếng Việt. Nghiên cứu cho thấy rằng mối quan hệ giữa cú phápngữ nghĩa là rất chặt chẽ, và việc nắm vững kiến thức này sẽ nâng cao khả năng giao tiếp và viết của người học.

IV. Ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu về tham tố

Nghiên cứu về tham tố trong vị từ trạng thái tiếng Việt không chỉ có giá trị lý thuyết mà còn có nhiều ứng dụng thực tiễn. Đặc biệt, trong việc giảng dạy tiếng Việt cho người nước ngoài, việc hiểu rõ về tham tố sẽ giúp họ sử dụng ngôn ngữ một cách chính xác và tự nhiên hơn. Hơn nữa, nghiên cứu này cũng có thể hỗ trợ các nhà nghiên cứu trong việc phát triển giáo trình ngôn ngữ học và các tài liệu học tập. Từ đó, nâng cao hiệu quả giao tiếp trong môi trường đa ngôn ngữ và đa văn hóa.

16/12/2024

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐÈ LÝ LUẬN CƠ BẢN Chương 2: THANH PHAN DUNG SAU VỊ TỪ TRANG THAI TIENG VIET - XET TU PHUONG DIEN CAU TRÚC CÚ PHÁP. Chương 3: THÀNH PHÀN ĐỨNG SAU VỊ TỪ TRANG THAI TIENG VIỆT - XÉT TỪ PHƯƠNG DIỆN CẤU TRÚC THAM TÔ. MỘT SÓ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN. Khái niệm và phân loại vi tir 1.

Khái lệm vị từ Khi nghiên cứu về từ loại nói chung và vị từ nói riêng, các tác giả thường dựa vào những tiêu chí khác nhau để xác định nội hàm khái niệm của chúng. Nhìn chung các tác giả thường dựa vào 4 tiêu chí chủ yếu sau: ý nghĩa nội dung khái quát, hình thái, phân bố hình thức và chức năng cú pháp cơ bản. Tùy vào việc lựa chọn tiêu chí nào và bao nhiêu tiêu chí mà các tác giả đưa ra những sự biện giải khác nhau về khái niệm vị từ. Dựa vào tiêu chí ý nghĩa nội dung khái quát của từ để định nghĩa vị từ được coi là cách định nghĩa lâu đời nhất vì nó xuất hiện từ khá sớm.

Platon (khoảng năm 429-347 TCN) ~ là người đầu tiên phân biệt rạch ròi hai từ loại danh từ và động từ. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hai từ loại được Platon xác định là danh từ và động từ không phải có cùng ngoại diên như những từ loại mang nhãn hiệu này trong các hệ thống phân tích về sau làm nền tảng cho các ngữ pháp nhà trường chúng ta. Theo đó, ông xác định danh từ là từ ngữ có thể hoạt động trong câu với tư cách là chủ ngữ của một phát biểu, còn động từ là từ ngữ có thê diễn đạt hành động hay phẩm. chất được phát biểu.

Qua cách định nghĩa của ông, ta thấy rằng danh từ và động từ được thực hiện trên cơ sở logic học: nghĩa là những thành tố của mệnh đề. Và những đơn vị mà ngày nay chúng ta gọi là tính từ và động từ đều được gộp chung. vào một lớp: động từ. Đây có thê xem là một quan điểm sớm nhất về vị từ [33, tr27].

'Về sau, nhà triết học Aristotle (384-322 TCN) cũng đồng ý với cách phân chia trên của Platon (ngoài việc thêm vào một lớp riêng biệt nữa. đó là liên từ). Cũng tán đồng quan điểm dựa vào ý nghĩa để phân chia từ loại, một số tác giả thuộc trường phái tư biện ở Châu Âu khoảng nửa sau thế kỷ XIII đã phân loại các từ loại cơ bản dựa trên mức độ ôn định về thời gian, nghĩa là dựa vào đặc tính của đối tượng (động hay tĩnh, biến đổi nhanh hay chậm.) mà các từ loại phản ánh.Erfurt cho rằng vị từ dùng để thê hiện các trạng thái mau lẹ, những đối tượng thiếu ôn định, và gián đoạn [63, tr.16] "1 Nữa cuối thế kỷ 20, một số nhà ngôn ngữ học khác cũng đã dựa vào lối định nghĩa trên để xác định từ loại. Givón đã cho rằng sự phân biệt các từ loại chỉ có tính chất tương đối, các từ loại được đặt trên một thang độ về tính ồn định trên phương diện thời gian (time-stability scale) - nghĩa là đứng ở một vị trí nào đó giữa hai thái cực.

Trong đó, theo tác giả vị từ nằm về thái cực 'ổn định”, *bền vững'. Hai từ loại này (danh từ và vị từ) cũng được ông xem là có tính phổ quát, các từ loại còn lại tùy thuộc vào từng ngôn ngữ [59, tr.51-52] Như vậy theo tiêu chí ý nghĩa nội dung khái quát này thì vị từ được xác định trong mối quan hệ với thế giới bên ngoài. Tuy vậy nó cũng bộc lộ thiếu sót khi không khái quát được rất nhiều những vị từ vốn trống nghĩa hoặc mờ nghĩa từ vựng. và ngay cả khi có ý nghĩa từ vựng thì ý nghĩa hành động trạng thái của chúng không.

Chính vì những mặt hạn chế đó mà quan điểm này đã bị nhiều người phê phán. Một trong những lời phê phán thông thường nhất đối với cách định nghĩa truyền thống là chúng luân quân. Người ta đã chỉ ra rằng nếu lớp danh từ được định nghĩa một cách theo “ý niệm” là lớp đơn vị từ vựng chỉ người, nơi chốn và sự vật, thì định nghĩa đó không thể áp dụng mà không đi vòng quanh để xác định cương vị của các từ éng Anh nhu truth, beauty, eleciric. Sự luân quân nằm ở chỗ là lý do duy nhất khiến ta nói truth, beauty, electric.

la “su vat”, đó là do những từ chỉ chúng trong tiếng Anh là danh từ. Trong thực tế, hầu như ngôn ngữ nảo cũng có hàng loạt từ được xếp vào các từ loại khác nhau nhưng cùng mang một kiêu ý nghĩa, và ngược lại hàng loạt từ nếu xét về mặt ý nghĩa chúng cần phải đưa vào từ loại khác so với cách xếp loại đã áp đặt cho chúng. Nhìn chung, cách phân loại và định nghĩa vị từ dựa vào ý nghĩa nội dung khái quát (dù đã mở rộng như Givón) cũng vẫn không bao chứa được hết các từ loại, nó chỉ dùng để xác định các từ loại 'từ vựng" như danh từ, vị từ, trạng từ. Hơn nữa lối phân loại này buộc phải chấp nhận sự tồn tại của những vùng giao thoa lớn giữa các từ loại (hiện tượng trung gian), không triệt đề cho vấn đề phân chia từ loại.

Một quan điểm phân chia từ loại khác là dựa vào tiêu chí hình thái. Đây là lối phân loại chú ý đến các tiêu chí thuộc về cấu trúc hay đặc điểm nội tại của ngôn 12 ngữ. Theo đó, một số nhà ngôn ngữ khi định nghĩa vị từ thường chỉ nêu ra tiêu chí hình thái hoặc xem đó là tiêu chí quan trọng. Với cách hiểu này các nhà ngôn ngữ học phương Tây đã thấy trong ngôn ngữ biến hình của họ những cơ sở khách quan, khoa học cho sự phân biệt các từ loại.

Sự khác biệt đó ở cả hình thức biến đổi phù hợp với các phạm trù ngữ pháp do quan hệ ngữ pháp trong câu quy định và cả ở hình thức cấu tạo từ. Theo đó vị từ (tác giả gọi là động từ) được ông quan niệm “là thành phần lời nói không có biến hình cách mà có biến hình về thời, ngôi và số, có nghĩa là một hoạt động hay bị tác động đến” [Dẫn theo Lyons, 33, tr.Croft cũng đã sử dụng phương pháp tương tự để xác định vị từ: “Nếu một thân từ từ vựng có thể thích hợp trong một cấu trúc (câu đơn giản) mà lại nhận các biển ý chỉ số, ngôi, thời thì đó là vị từ" [54, tr.T] Cách phân loại dựa trên dấu hiệu hình thái này đối với các ngôn ngữ biến hình vẫn còn bộc lộ nhiều thiếu sót. Trước hết, hình không phải là đặc điểm phổ quát của ngôn ngữ. Ngay cả các ngôn ngữ biến hình không nhất thiết phải có sự biến hình động từ để iện các phạm trù cách, số và thời.

Một số nhà ngôn ngữ học khác lại chủ trương hoàn toàn dựa vào sự phân bố hình thức — tức dựa vào sự kết hợp các øừ chứng bao quanh từ đang xét.Fries (1952) đã lập ra một số mô hình để xác định các từ loại trong tiếng Anh (tác giả gọi là các nhóm: 1, 2, 3,. Không đi theo hướng truyền thống tìm kiếm. tiêu chí về nội dung rồi mới gán cho các đơn vị đó những thuật ngữ có tính kỹ thuật, ing C. Fries đã hiển ngôn phương pháp làm việc của mình như sau: “Chứng zôi có trước hết tìm các đặc tính hình thức nhờ đó đề nhận diện từng đơn vị và cấu trúc chức năng rôi sau đó mới đưa ra câu hỏi các cầu trúc này thể hiện những ý nghĩa gi” [57, tr.175] Trước đó nhiều năm, trong giới Việt ngữ học, Lê Văn Lý (1948) cũng dựa vào tiêu chí tương tự đề phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt.

Tác giả đưa ra khái niệm chứng tự, nghĩa là những tự ngữ có thể phối hợp với một số tự ngữ này, và không, 13 thể phối hợp với một số tự ngữ khác. Bao nhiêu những tự ngữ có thê phối hợp được với các chứng tự nào đó sẽ thuộc về cùng một tự loại với nhau” [32, tr. Trên cơ sở đó, tác giả phân chia vốn từ tiếng Việt ra thành 3 nhóm lớn (A, B, C). trên theo tác giả nếu cần thiết có thể tách ra thành sáu nhóm gần gũi với cách gọi truyền thống: danh từ, động từ, tính từ, từ chỉ ngôi, số từ và tiêu từ.

Ưu điểm của cách phân loại này ngoài chỗ thuận tiện cho thao tác nhận diện, còn ở chỗ thấy được sự gần gũi của động từ và tính từ (tác giả gọi B và B`) — 2 từ loại mà ngày nay đã được nhiều tác giả gộp lại thành vị từ. Một tác giả khác là P. Honey cũng bằng cách tương tự như Lê Văn Lý đã chia từ tiếng Việt thành 12 loại, trong đó mỗi từ loại cũng được xác định dựa trên khả năng kết hợp với các từ chứng. Chäng hạn đề xác định từ loại 2 (tương đương với vị từ), tác giả đã lập luận như sau: “Tất cá những từ tiếng Việt đứng ngay trước chứ không phải đứng sau một trong hai từ “nhiều " hoặc “lắm” và không bao giờ đứng ngay sau một trong hai từ “hơi” hoặc “rat” thi được xếp vào nhóm các từ loại 2” [61 tr.14-15] Tuy vậy, tiêu chí này có những khuyết điểm như khó khăn trong việc tìm một số khuôn , từ chứng tiêu biểu để tránh sự chồng chéo, để hạn chế ngoại lệ, những mô hình này chỉ có tác dụng miêu tả từ loại cho từng ngôn ngữ cụ thể vì mỗi ngôn ngữ đều có những quy định về trật tự sắp xếp, kết hợp từ ngữ cũng như danh sách các từ chứng khác nhau.

Tiêu chí còn lại có thể kể đến để phân chia từ loại là tiêu chí dựa vào chức năng cú pháp cơ bản của chúng. Cách định nghĩa này vừa phân biệt được động từ và tính từ trong đa số các ngôn ngữ Ấn — Âu, lại vừa cho thấy nét chung rất cơ ban không thể bỏ qua giữa động từ và tính từ trong những ngôn ngữ như tiếng Việt. Một số nhà Hán học như A. Reformatskij đã phân loại tiếng Hán dựa trên chức năng cú pháp, từ đó đã xếp chung tính từ và động từ vào một nhóm gọi là vị từ.

Cũng dựa trên chức năng cú pháp, L.Thomspon đã thấy “verb" trong tiếng Việt phải bao gồm cả một số lớn “các hình thức hầu như là thích hợp gán cho các tính từ tiếng Anh theo sau hình thức nào đó của động từ 'tobe [66, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Nhung, với tiêu đề "Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học về tham tố đứng sau vị từ trạng thái tiếng Việt xét từ phương diện cú pháp và ngữ nghĩa", nghiên cứu sâu về vị trí tham tố trong cấu trúc ngữ pháp và ngữ nghĩa của tiếng Việt. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn tổng quan về cú pháp và ngữ nghĩa liên quan đến vị từ trạng thái mà còn giúp độc giả hiểu rõ hơn về cách thức mà các tham tố này ảnh hưởng đến nghĩa của câu. Đây là một tài liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến ngôn ngữ học, đặc biệt là trong việc phân tích và hiểu rõ hơn về ngữ pháp tiếng Việt.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các khía cạnh liên quan đến ngôn ngữ học, bạn có thể tham khảo thêm bài viết Luận văn thạc sĩ ngôn ngữ học đặc điểm ngôn ngữ trong tiêu đề các tác phẩm văn học của Lỗ Tấn Ba Kim Lão Xá và cách dịch sang tiếng Việt, nơi phân tích đặc điểm ngôn ngữ trong các tác phẩm văn học, hoặc bài viết Đặc điểm ngữ pháp ngữ nghĩa của câu tồn tại tiếng Việt, cung cấp cái nhìn sâu sắc về ngữ pháp và ngữ nghĩa trong tiếng Việt. Cả hai bài viết này đều liên quan đến lĩnh vực ngôn ngữ học và sẽ giúp bạn có thêm nhiều thông tin bổ ích.