Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYET CHUNG VE HANH ĐỘNG NOI NANG 1.1 Tổng quan các tài liệu nghiên cứu về hành động nói năng Hành động nói năng là một dé tài đã và dang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam và nước ngoài. Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành động nói năng, tuy nhiên các nghiên cứu nhìn chung mới dé cập đến những van dé sau: Thế giới: Ban đầu, động từ nói năng không được xem xét như là một đối tượng riêng biệt, do vậy đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của nó chưa thực sự được làm sáng tỏ. Khi động từ nói năng được xem xét trong một quá trình biệt loại là quá trình nói năng (verbal process); đã có nhiều kiến giải rất quan trọng về nhóm vị từ này, đặc biệt là những quan điểm liên quan đến lời dẫn ở dạng trực tiếp (quoted speech) và gián tiếp (reported speech). VỊ từ nói năng được nhìn nhận ở góc độ “nói tức là hành động”, nghĩa là nó được khảo sát với tư cách một vi từ ngôn hành.
Việt Nam: Các công trình thực sự đi sâu chuyên nghiên cứu về động từ nói năng chưa nhiều. Chưa có công trình nào nghiên cứu về kết cấu ngữ nghĩa của nhóm các từ chỉ hành động nói năng speak, say, tell, talk trong tiếng Anh và các đơn vị tương ứng trong tiếng Việt. VỊ từ nói năng được nghiên cứu khá kĩ lưỡng nhưng dưới góc độ dụng học, đặc biệt là lí thuyết hành động ngôn từ. VỊ từ nói năng còn được nghiên cứu dưới góc độ nghĩa học, nghĩa là, vi từ nói năng có 2 diễn tô là Tác thê (người nói) và tác tạo thê (điều được nói).
14 Mới đây nhất là công trình nghiên cứu của Nguyễn Vân Phổ về động từ nói năng, ông tập trung làm sáng tỏ những quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp giữa vi từ nói năng và các tham tô có thé có xung quanh nó.1 Tiếng Anh Vị từ chỉ hành động nói năng tiếng Anh khá phong phú về số lượng và cũng thu hút được đông đảo sự quan tâm nghiên cứu của các nhà ngữ học cũng như các nhà triết học. “Wierzbicka bàn nhiều về vị từ nói năng, tuy nhiên các phân tích của tác giả thiên về khía cạnh ngữ nghĩa từ vựng hơn là ngữ nghĩa cú pháp. Trong chuyên khảo “English speech act verbs, a semantic dictionary” (1987), bà đã tập hợp 234 từ liên quan đến hoạt động nói năng thành 37 nhóm va đi vào miêu tả ngữ nghĩa của chúng. Tuy nhiên, mục tiêu của tác giả là một từ điển ngữ nghĩa nên sự phân biệt hết sức tinh tế mà tác giả miêu tả được (chủ yếu) vẫn là sự phân biệt nghĩa từ vựng.
Hơn nữa, trong khi đề cập nghĩa của từng từ, tác giả không miêu tả cấu trúc nghĩa theo các tham tố và các dấu hiệu có liên quan mà sử dụng một thứ siêu ngôn ngữ (tác giả dùng khoảng hơn 150 từ chọn lọc để miêu tả toàn bộ đối tượng) (Wierzbicka 1987, Dẫn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP. Theo đó, vi từ nói năng được nhắc đến trong các mục như vi từ với đối tượng có hướng (abstract directional object), vi từ với đôi tượng tặng thê-lợi thé gián tiếp (dative-benefactive directional object), vị từ nhận thức va phát ngôn (cognition and utterance verbs), vi từ cầu khiến (manipulative verbs), vi từ thông tin (information verbs). Sở di vi từ nói năng được trinh bay 6 nhiều mục roi rac như vậy là vi tác giả không xem xét nhóm vi từ này như một đối tượng riêng biệt mà chỉ khảo sát các biểu hiện của nó trong tương quan với các vị từ khác. Tuy nhiên, nhìn chung quan điểm của tác giả vẫn có sức thuyết phục; đặc biệt là quan điểm cho rằng một vị từ có thể thuộc về “nhiều hơn một lớp”, vì các lớp từ phân biệt với nhau không chỉ về cú pháp mà còn phân biệt 15 về ngữ nghĩa.
Tư cách đôi (double membership), và thậm chí ba (triple membership) này là một hiện tượng có thé thấy ở nhiều ngôn ngữ trên thế giới (cross-linguistically) (Givón 1984, 64, Dân theo Nguyễn Vân Phổ, Nsữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb DH Quốc Gia TP.HCM, 2011) Các tac giả như Postal Paul, Petruck Miriam (1996), Baker Colin (1998), va đặc biệt là Filmore (1971, 2001) va Halliday (1994) bàn nhiều đến cau trúc tham tố của vị từ nói năng, tuy không tác giả nào nghiên cứu nó với tư cách một đối tượng của một chuyên khảo. Riêng Halliday đã xem xét vi từ nói năng trong một quá trình biệt loại là quá trình nói năng (verbal process); do vậy ông đã đưa ra nhiều kiến giải rất quan trọng về nhóm vị từ này, đặc biệt là những quan điểm liên quan đến lời dẫn ở dạng trực tiếp (quoted speech) và gián tiếp (reported speech). (Dan theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.HCM, 2011) Từ những năm 1960 trở di, đặc biệt từ sau công trình “How to do things with words” của Austin (1962), vi từ nói năng được nhìn nhận ở góc độ “nói tức là hành động”, nghĩa là nó được khảo sát với tư cách một vị từ ngôn hành (performative verb). Hàng loạt nhà nghiên cứu như Searl (1960, 1976), Grice (1975, 1978), Yule (1996), Wilson Deirde va Sperber Dan (2000, 2002),.
nghiên cứu các hành động ngôn từ trong mối liên quan với quá trình nói năng nói chung và vị từ nói năng nói riêng. Các tác giả như David Donal (1968), Zwicky A. lai ban nhiéu vé vai trò của người đưa ra phát ngôn, về lời dan trực tiếp và gián tiếp, về quy chiếu trong lời dẫn với nhiều quan điểm khác nhau, đôi khi những quan điểm đó là những biện giải có tính triết học và logic học nhiều hơn là ngôn ngữ học. Ngoài ra, trong các công trình nghiên cứu cấu trúc ngữ pháp hay ngữ nghĩa của nhiêu tác giả khác, chang hạn như Anderson J.
đều có ít nhiều dé cập đến vị từ nói năng nhưng không xem xét nó như là một đối tượng riêng biệt, do vậy đặc điểm ngữ pháp và 16 ngữ nghĩa của nó chưa thực sự được làm sáng tỏ.” (Dân theo Nguyễn Vân Phó, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb ĐH Quốc Gia TP.2 Tiếng Việt Vị từ nói năng hầu hết được đề cập đến trong các công trình nghiên cứu ngữ pháp. Trong công trình nghiên cứu mới nhất của Nguyễn Vân Phổ, căn cứ vào hướng tiếp cận của các tác giả từ trước đến nay, có thể chia các công trình nghiên cứu có đề cập đến vị từ nói năng thành 3 nhóm (Dẩn theo Nguyễn Vân Phổ, Ngữ pháp, ngữ nghĩa vị từ nói năng tiếng Việt, Nxb DH Quốc Gia TP.HCM, 2011): “Các tác giả: Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê (1963); Nguyễn Kim Than (1977, 1997); Hoàng Trọng Phién (1980), Hồ Lê (1992);. Trong công trình của mình khi bàn về ngữ pháp tiếng Việt nói chung hoặc động từ tiếng Việt nói riêng, các tác gia này thường coi vi từ nói năng là nhóm vi từ có bồ ngữ là một cầu trúc chủ-vị (“cụm từ tường thuật”), có thể có hoặc không có kết từ là/răng dẫn nhập, bỏ ngữ đó có thé là danh từ/danh ngữ, nhưng khả năng này không phải là tiêu biểu. Như vậy, vi từ nói năng được xem xét rất sơ lược về mặt cau trúc mà chưa phân tích nhiều về mặt ngữ nghĩa.
Chính vì vậy, các vị từ nói năng thường được xếp vào cùng nhóm với các vi từ cảm nghĩ. Các tác giả: Phạm Thị Hòa (2000); Đỗ Hữu Châu (2001, 2003);. Các tác gia này xem xét vi từ nói năng khá kĩ lưỡng nhưng dưới góc độ dụng học, đặc biệt là lí thuyết hành động ngôn từ. Chính từ góc nhìn này, Đỗ Hữu Châu đã thấy cần phải khảo sát vị từ nói năng trong quá trình nói năng, và đó cũng là cơ sỏ để tác giả đi từ vị từ nói năng đến các “biểu thức ngữ vi” của nó.
Đỗ Hữu Châu là người đầu tiên cho rang cần biệt lập vị từ nói năng với các nhóm vị từ khác dé có thé nghiên cứu thấu đáo hơn. Tuy nhiên, trong công trình của ông (Đỗ Hữu Châu 2001), vấn đề cấu trúc tham tố của vị từ vẫn chưa được đề cập. Cao Xuân Hạo (1991), Nguyễn Thị Quy (1995), Hoàng Văn Tân (2002), Tô Minh Thanh (2005,). Cac tác gia này nghiên cứu vi từ nói năng dưới góc độ nghĩa hoc.
Nghia là, vị từ nói năng có 2 diễn tố đó là Tác thé (người nói) và tác tạo thé (điều được nói). Diễn tố thứ hai này có thể là một danh ngữ với trung tâm là một 17 danh từ “chuyên dụng” như chuyện, điêu. Nhìn chung, những phác họa về vi từ nói năng ở các công trình của các tác giả trên là chính xác những chưa đủ chỉ tiết để vạch ra được những đặc trưng ngữ nghĩa và ngữ pháp của các tham tố (/cách, vai nghĩa) khác nhau tham gia vào khung vi ngữ của vi từ.” Cũng trong công trình mới nhất về động từ nói năng của Nguyễn Vân Phổ, ông quan niệm răng: Vị từ nói năng là một khái niệm khá rộng (và mơ hồ) bao gồm hàng trăm từ (Nguyễn Vân Phổ thống kê được hơn 500 đơn vị từ vựng liên quan đến quá trình nói năng), có thé tập hợp thành nhiều tiểu nhóm khác nhau, trong đó ông xem “nói” là vị từ tiêu biểu. Công trình nghiên cứu của ông tập trung làm sáng tỏ những quan hệ ngữ nghĩa và ngữ pháp giữa vị từ nói năng và các tham tố có thể có xung quanh nó.
Theo Nguyễn Vân Phổ, vi tir nói năng là toàn bộ các vị từ có liên quan đến quá trình/hoạt động nói năng của chủ thể người, được thực hiện thông qua phương tiện vật chất là lời nói hoặc ngôn ngữ nói chung (tức là ké cả dạng thức chữ viét). Vi từ nói năng gôm các tiêu loại sau: - Vi từ câu khiến: Là nhóm vi từ nói năng có thê tham gia vào kêt câu câu khiến như: bảo, dan, sai, nhờ, ra lệnh, đề nghị, yêu cầu. - Vi từ nói năng-tác động: dạy, dạy bao, sai bảo, khen, tán tinh,. - Vi từ thông tin: nói, bảo, thông báo, kê, báo cáo, thầm thì, tuyên bó,.
- Vị từ phát ngôn: lên tiếng, to tiếng, bap be, lí nhí,. - Vi từ ngôn hành: nói, chao, chúc mừng, hứa, hỏi, bảo, xin lỗi, cho phép, ra lệnh, tuyên bố,. Khái niệm động từ nói năng 1.1 Tiếng Anh Trong các tài liệu ngôn ngữ học thé giới, vị từ nói năng là một khái niệm có ít nhất 2 cách hiểu.