Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí thuyết của luận án Trong chương này, chúng tôi trình bày tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước của trạng ngữ. Cơ sở lí thuyết liên quan đến luận án gồm: 1/Trạng ngữ với tư cách là một nhãn hiệu thuộc bình diện kết học của câu; 2/Các bình diện nghĩa học và dụng học của trạng ngữ; 3/Vấn đề xác định trạng ngữ trong tiếng Anh. 4/Vấn đề xác định trạng ngữ trong tiếng Việt; 5/Quan điểm của luận án về trạng ngữ. 5 Chương 2: Kết học của trạng ngữ tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt Trong chương này, chúng tôi trình bày những đặc điểm về mặt kết học của trạng ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt chủ yếu ở vị trí và cấu tạo.
Chương 3: Nghĩa học của trạng ngữ tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt Trong chương này, chúng tôi nghiên cứu nghĩa biểu hiện của trạng ngữ trong cấu trúc nghĩa sự tình của câu. Cụ thể, chương này sẽ khảo sát ý nghĩa của trạng ngữ và phân loại chúng vào theo các tiêu chí về nghĩa học. Chương 4: Dụng học của trạng ngữ tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt Trong chương này, chúng tôi theo lí thuyết về phân đoạn thông tin (thông tin cũ/thông tin mới, cấu trúc đề- thuyết), lí thuyết về liên kết và mạch lạc của diễn ngôn để khảo sát đặc điểm dụng học của trạng ngữ trong tiếng Anh và tiếng Việt. 6 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Sơ lược nghiên cứu về trạng ngữ trong tiếng Anh Nghiên cứu về trạng ngữ trong tiếng Anh được bàn đến trong rất nhiều công trình nghiên cứu ngữ pháp tiếng Anh nói chung, các sách dạy tiếng Anh cho người nước ngoài và đặc biệt các chuyên khảo của các tác giả có uy tín như R. Quirk, Martin Hewings, L. Alexander, Michael Swan, Jack C.
Richards, John Lyons. Các tác giả đã quan tâm đến các vấn đề chức năng, vị trí và cấu tạo của trạng ngữ trong tiếng Anh. Chẳng hạn, cuốn A student‘s Grammar of the English Language của Sidney Greenbaum & Randolph Quirk đã cung cấp cho sinh viên nói riêng, người đọc nói chung những nội dung quan trọng của ngữ pháp tiếng Anh, trong đó có vấn đề về trạng ngữ. Nghiên cứu về vấn đề này còn kể đến công trình quen thuộc đối với nhiều người học tiếng Anh là English Grammar in Use của Raymond Murphy.
Trong công trình này, tác giả đã chỉ ra đặc điểm chung của ngữ pháp tiếng Anh trong đó có vấn đề trạng ngữ tiếng Anh. Trạng ngữ tiếng Anh mặc dù là thành phần phụ, nhưng vẫn được nhắc đến trong các công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Anh nói chung, như Practical English Usage của Michael Swan (2005), The Essential English Grammar của Alexander (1993), Current English Grammar của Chalker, S. (1992), chúng tôi nghĩ đó là do tầm quan trọng về mặt ngữ nghĩa và ngữ dụng của thành phần câu này. Theo khung ngữ pháp truyền thống, nghiên cứu trạng ngữ trong tiếng Anh được bàn đến ở các nội dung như khái niệm trạng ngữ, cách phân loại trạng ngữ và phân biệt trạng ngữ với các thành phần dễ nhầm lẫn khác, hoặc ở 7 một bình diện khác, như phân biệt trạng ngữ và bổ ngữ, phân biệt trạng ngữ và trạng từ.
Về khái niệm trạng ngữ trong tiếng Anh; các nhà nghiên cứu, dù có cách định nghĩa khác nhau, nhưng tựu trung lại cũng đã có những thống nhất nhất định về phạm vi khái niệm. Trong tiếng Anh, ―trạng ngữ‖ được gọi là ―adverbials‖,―adverbial modifier‖ hoặc ―adverbial adjunct‖. Tác giả Hadumod Bussmann trong cuốn thuật ngữ từ điển ngôn ngữ học có tên Routledge dictionary of language and linguistics đã định nghĩa ―trạng ngữ‖ như sau: "Collective term for several syntactic functions with various semantic realizations; an adverbial characterizes a verbal action, process, or state of affairs with respect to time, place, kind, manner, etc.‖ [8,9] (Thuật ngữ dùng chung cho một số chức năng cú pháp, hiện thực hóa những nội dung ngữ nghĩa khác nhau; trạng ngữ cho biết thời gian, nơi chốn, kiểu loại, cách thức v.v của hành động, quá trình hoặc trạng thái sự tình được nói đến trong câu). Theo tác giả cuốn ―Oxford Advanced Learner's Encyclopedia Dictionary‖ thì trạng ngữ là thành phần cung cấp (bổ sung) thêm thông tin về địa điểm, thời gian, hoàn cảnh, phương cách, nguyên nhân, mức độ….
Đồng quan điểm này, các tác giả cuốn Từ điển "Webster's New World College Dictionary" cũng cho rằng những thành phần nào dùng để diễn tả thời gian, địa điểm, cách thức, mức độ, nguyên nhân,. được gọi là trạng ngữ. Có thể thấy, mặc dù được diễn đạt khác nhau, nhưng các tác giả đã đồng nhất trong việc chỉ ra thế nào là trạng ngữ trong tiếng Anh. Từ điển "Dictionary of Language Teaching and Applied Linguistics" (nhà xuất bản Longman) định nghĩa: "Trạng ngữ là thành phần dùng để … trả lời những câu hỏi như thế nào?, ở đâu?, khi nào? Một đoạn ngữ hay một mệnh đề đảm nhiệm chức năng của một trạng từ được gọi là một trạng ngữ hay mệnh đề trạng ngữ.
Alexander, tác giả cuốn ―Longman English Grammar‖ diễn giải ―Trạng ngữ (…) cho chúng ta biết hành động sự việc xảy ra như thế nào (How?) khi 8 nào (When?), ở đâu (Where?).‖ [51, 122] Tuy nhiên, theo tác giả thì trạng ngữ còn có thể bổ nghĩa cho tính từ, trạng từ khác, cụm giới từ, câu. Tác giả này còn đưa ra cách xác định trạng ngữ và cho nhiều ví dụ rất cụ thể để người đọc phân biệt sự khác nhau giữa trạng từ (nhãn hiệu từ loại) và trạng ngữ (nhãn hiệu thành phần câu). Về phân loại trạng ngữ tiếng Anh Việc phân loại trạng ngữ tiếng Anh được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như Laen-zlinger, Cinque (1999:106), Ernst (2002:9), Frey and Pittner (1998) Trạng ngữ được các nhà ngôn ngữ học phân loại thành các loại khác nhau. McGregor trong Semiotic Grammar thì ―Sự phân loại trạng ngữ bao gồm trạng ngữ chỉ thể cách và mức độ (ví dụ: happily, clumsily, quickly, very), trạng ngữ chỉ thời gian (ví dụ: now, when, today), trạng ngữ chỉ không gian (ví dụ: here, north, up, across), trạng ngữ chỉ thái độ (ví dụ: certainly, hopefully), trạng ngữ tình thái (modal adverbials) (not, no, probably, etc.), trạng ngữ chỉ dự định (ví dụ: only, even, again), và trạng ngữ chỉ trình tự (ví dụ: firstly, finally)." Các nhà nghiên cứu nói về phân loại trạng ngữ như là trên cơ sở sự phân loại những đặc tính cú pháp, mang nhãn hiệu mà qua đó cho thấy nền tảng ngữ nghĩa của sự phân loại.
Lấy ngẫu nhiên từ những sự phân loại khác nhau và sắp xếp ngẫu nhiên từ trạng ngữ mang tính cú pháp cao đến cú pháp thấp, có trạng ngữ hành vi lời nói hướng người nói (frankly) và trạng ngữ đánh giá hướng người nói (fortunately), bằng chứng (evidently), trạng ngữ tri thức (probably), trạng ngữ phạm vi (linguistically), trạng ngữ hướng chủ thể và hướng khách thể (deliberately), trạng ngữ cách vị trí (here), trạng ngữ xác định số lượng (frequently), trạng ngữ chỉ cách thức (slowly), trạng ngữ chỉ mức độ (very).‖ Các tác giả cuốn Longman grammar of spoken and written English cho rằng trạng ngữ có 3 chức năng chính là bổ sung thông tin về tình huống cho sự tình được nêu trong câu, biểu đạt phương thức của người nói/ người viết 9 trong câu, hoặc nối kết câu hoặc bộ phận câu với các thành phần câu khác trong văn bản. Với ba chức năng chính đó, theo các tác giả, trạng ngữ có 3 loại lớn là trạng ngữ tình huống (circumstance adverbials), trạng ngữ phương thức (stance adverbials) và trạng ngữ liên hệ (linking adverbials). Trong cuốn "Longman English Grammar", tác giả L. Alexander cho rằng trạng ngữ có 9 loại sau:1/ Adverbial clauses of time (Trạng ngữ thời gian); 2/ Adverbial clauses of place (Trạng ngữ nơi chốn); Adverbial clauses of manner (Trạng ngữ cách thức); A dverbial clauses of reason (Trạng ngữ nguyên nhân); Adverbial clauses of condition (Trạng ngữ điều kiện); Adverbial clauses of concession (Trạng ngữ chỉ sự nhượng bộ); Adverbial clauses of purpose (Trạng ngữ mục đích); Adverbial clauses of result (Trạng ngữ kết quả); [51, 265] Đồng quan điểm với nhau về mệnh đề trạng ngữ, các tác giả Bùi Ý - Vũ Thanh Phương (trong cuốn "Ngữ Pháp tiếng Anh") và Lê Dũng (trong cuốn "Ngữ pháp tiếng Anh nâng cao") cho rằng ―Mệnh đề trạng ngữ (Adverb clause) có giá trị như một trạng ngữ‖ và chức năng của mệnh đề trạng ngữ là bổ nghĩa cho động từ hay cho cả câu để nói rõ thêm cách thức, thời gian, nơi chốn.
của hành động hay sự việc. Xuất phát từ chức năng của trạng ngữ trong câu, các tác giả này cũng đã chia mệnh đề trạng ngữ thành 9 loại sau [50, 190-197]: Mệnh đề trạng ngữ thời gian (Adverb clauses of time), Mệnh đề trạng ngữ nơi chốn (Adverb clauses of place), Mệnh đề trạng ngữ cách thức (Adverb clauses of manner), Mệnh đề trạng ngữ nguyên nhân (Adverb clauses of cause), Mệnh đề trạng ngữ mục đích (Adverb clauses of purpose), Mệnh đề trạng ngữ kết quả (Adverb clauses of result), Mệnh đề trạng ngữ so sánh (Adverb clauses of comparison), Mệnh đề trạng ngữ chỉ sự nhượng bộ (Adverb clauses of concession), Mệnh đề trạng ngữ điều kiện (Adverb clauses of condition). 10 Như vậy ba tác giả trên đều có đồng quan điểm phân chia mệnh đề trạng ngữ ra làm 9 loại. Tuy nhiên, theo quan điểm của mình, Marcella Frank, tác giả cuốn "Modern English - A Practical Reference Guide" lại chia trạng ngữ thành 11 loại sau [110, 234-275] : Clauses of time (mệnh đề thời gian), Clauses of place (mệnh đề nơi chốn) Clauses of Contrast (mệnh đề tương phản), Clauses of Cause (mệnh đề nguyên nhân), Clauses of Result (mệnh đề kết quả), Clauses of Purpose (mệnh đề mục đích), Clauses of Condition (mệnh đề điều kiện), Clauses of Exception (mệnh đề ngoại lệ), Clauses of Manner (mệnh đề phương thức), Clauses of Comparison (mệnh đề so sánh), Proportion or Extent (mệnh đề tỉ lệ hoặc tầm mở rộng).
Về vị trí của trạng ngữ trong câu. Vị trí của trạng ngữ trong câu cũng là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Phần lớn các ý kiến cho rằng trạng ngữ có thể đứng trước, đứng giữa và đứng sau thành phần nòng cốt và ở vị trí khác nhau trạng ngữ có những giá trị khác nhau. Như vậy, nhìn vào những công trình nghiên cứu về trạng ngữ có thể nhận thấy trạng ngữ là thành phần câu còn có nhiều tranh luận.
Những tranh luận này gợi mở cho chúng tôi về việc cần phải xác định vai trò của trạng ngữ đối với cấu trúc câu; xác định các vai trạng ngữ một cách phù hợp trên cơ sở phân biệt trạng ngữ với những thành phần câu dễ gây nhầm lẫn; tìm hiểu về trạng ngữ ở những vị trí khác nhau trong câu.