Chương 1. Những cơ sở lý thuyết 1.Kết vị và kết vị học 1. Khái niệm về kết vị _ Truong phái cau trúc luận Mỹ có một bước tiền triển mới với sự ra đời của kết vị học (tagmemics) do K. Trong ket vi học, đơn vị ngữ pháp cơ ban là kết vi (tagmeme).
Thuat ngit két vị được Bloomfield sử dụng vào năm 1933 để chỉ các đơn vị nhỏ nhât của hình thức ngữ pháp có nghĩa. Theo định nghĩa của Wikipedia [53], kết vị còn tương quan như là một chức năng cú pháp ví dụ như là chủ đê, chủ ngữ và các từ loại như danh từ, đại từ hoặc danh từ riêng. Các kêt vị kêt hợp với nhau tạo thành hệ thông kết vỊ. Trong tác phâm “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ” GS.TS Nguyễn Thiện Giáp [14] đã đề cập đến kết vị.
Theo đó, kết vị là mối tương quan của một chức năng ngữ pháp loại biệt với lớp các đơn vị thực hiện chức năng này. Nói cách khác, mỗi kết vị xảy ra ở một chỗ hoặc một ô (slot) riêng biệt trong một câu, ở đó nó thực hiện đầy đủ chức năng, ví dụ như chủ ngữ, vị ngữ, trung tâm (head), b6 ngữ (modifier) ma các đơn vị thuộc các lớp của nó (danh từ, danh ngữ, động từ, doan ngữ vi từ, tính từ) có kha năng thực hiện. Ca ô và lớp đều phải được thực hiện trong một kết vị, bởi vì chúng thê hiện các kiểu thông báo khác nhau, không cái nào có thé được chuyền hóa từ cái kia. Như vậy, kết vị là một đơn vị được trừu tượng hóa về mặt ngữ pháp và là đơn vị của ngữ pháp nói chung và cú pháp nói riêng.
Xét về bản chất, nó gan tương đương như thành phần câu, thay vì tên gọi là chu ngữ, bồ ngữ.thì Nguyễn Đăng Liêm gọi là kế: vị. Kết vị có thé bao gồm một hoặc nhiều nét khu biệt ngữ pháp. Trong đó, nét khu biệt ngữ pháp là đơn vị ngữ pháp nhỏ nhất mà phân biệtý nghĩa, nhưng bản thân nó không mang nghĩa [14: 112]. Khái niệm về kết vị học Kết vị học là khoa học nghiên cứu về kết vị của ngôn ngữ.
Trong cuốn sách “Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ” [14], từ trang 112 đến trang 116, Nguyễn Thiện Giáp đã vẽ lại bức tranh về lịch sử nghiên cứu về kết vị học, từ người khởi xướng là Pike [1912, 1967, 1982], Longacre Robert E. ; Kết vị hoc dựa trên giả định rằng ngôn ngữ không thé nhìn nhận như là 1 hệ thông tự chủ và do đó, ngôn ngữ học không thê là ngôn ngữ tự chủ mà phải dựa trên những phân tích sâu hơn từ tâm lý học, xã hội học, nhân chủng học. Kết vị học dựa trên bốn giả định sau: (1) Ngôn ngữ là. một kiều hành vi của con người 12 (2) Như vậy, ngôn ngữ phải được xem xét trong ngữ cảnh và trong quan hệ với hành vi của con người như là cái tông thé (3) Một lý thuyết ngôn ngữ học thỏa đáng là lý thuyết có thé ứng dụng cho các kiểu hành vi khác và ứng dụng cho sự kết hợp của hành vi ngôn từ và hành vi phi ngôn từ.
Như thế, nó làmột lý thuyết thống nhất. (4) Hành vi của con người được cấu trúc hóa chứ không phải ngẫu nhiên Kết vị học cũng dựa trên bốn định dé: (1) Tất cả các hành vicó mục đích, trong đó có cả ngôn ngữ được chia thành các đơn vi (2) Cac don vi xảy ra trong từng ngữ cảnh (3) Các đơn vị này được sắp xếp theo tôn ti (4) Bat kỳ yếu tố nào đều có thé được nhìn nhận từ những quan điểm khác nhau Như vậy, kết vị học chính là nghiên cứu về kết vị của ngôn ngữ, dựa trên hành vi có mục đích của con người. Trong đó, ngôn ngữ được chia thành các đơn vi va một don vị có thé có các hình thức vật ly khác nhau. Nó có thể được phân biệt với các đơn vị khác bởi các tính năng đặc biệt của nó và mối quan hệ của nó với các đơn vị khác trong một lớp, một chuỗi nối tiếp hoặc hệ thống.
Ngoài ra, các đơn vị này xảy ra trong từng ngữ cảnh và được sắp xếp theo tôn ti. Khái niệm tôn ti (hierarchy) là cơ sở của lý thuyết kết vị học. Dẫn theo [14: 113], tôn ti có nghĩa là môi quan hệ bộ phận- toàn bộ, trong đó các đơn vị nhỏ nhất diễn ra với tư cách là các bộ phận của những cái lớn hơn. Ngôn ngữ được xem như là có một cấu trúc ba môđun: âm vị học, ngữ pháp học va sự quy chiếu.
Sự quy chiếu bao gồm ngữ dụng và nhiều lý thuyết hành động ngôn từ, trong khi ngữ nghĩa học được tìm thấy những nét nghĩa trong âm vị học và ngữ pháp học và trong các bình diện khác nhau của sự quy chiếu. Các phươngthức và câp độ của chúng phối hợp chặt chẽ với nhau bởi vì các don vid moi cấp độ, hoặc có thê được bao gồm các đơn vị nhỏ hơn cùng cấp độ ấy, hoặc các đơn vị từ cấp độ khác và chúng có thể gia nhập các đơn vị lớn hơn của cùng một cấp độ, hoặc các đơn vi của cap độ khác. Cac cấp độ biểu nghĩa cấu trúc quan trọng của tôn ti ngữ pháp bao gôm hình vị (căn tố), tổ hợp hình vị (thân từ), từ, đoản ngữ, cú, câu, đoạn văn, diễn ngôn độc loại, trao đáp đối thoại, và hội thoại đối thoại. Kết vị học đôi khi được gọi là ngữ pháp điền vào ô [14: 113].
Theo đặc trưng về kết vị đã đề cập ở trên thì mỗi kết vị xảy ra ở một chỗ hoặc một ô (slot) riêng biệt trong một câu, ở đó nó thực hiện đầy đủ chức năng, ví dụ như chủ ngữ, vi ngữ, trung tâm (head), bổ ngữ (modifier) mà các don vị thuộc các lớp của nó (danh từ, danh ngữ, động từ, đoản ngữ vi từ, tính từ) có khả năng thực hiện. Ca 6 và lớp đều phải được thực hiện trong một kết vị, bởi vì chúng thể hiện các kiểu thông báo khác nhau, không cái nào có thé được chuyên hóa từ cái kia. 13 Chang hạn như trong tiếng Anh, từ “student” (sinh viên) là một danh từ. Tuy nhiên, tùy vi trí nó xuất hiện sẽ thể hiện chức năng cụ thể.
Như thé, “student” là bỗ ngữ trong cụm danh từ “the student employees”, nhưng là chủ ngữ trong “the student went to bed early”. Thay vi chuan bi hai nhan dinh déc lap về một câu, một là chia câu ra thành các đơn vị như đoản ngữ danh từ và đoản ngữ vi từ và thứ hai là phân chia chức năng ngữ pháp như chủ ngữ và vị tố cho những đơn vị này, kết vị học muốn phân tích thành một chuỗi các kết vị, mỗi một kết vị đồng thời cung cấp thông tin về chức năng của một đơn vị trong một cau trúc lớn hơn và về các lớp có thé thực hiện chức năng nay. [14: 114] Waterhouse với công trình “The history and development of tagmemics” [1974] đã có cuộc khảo sát toàn diện ngôn ngữ để phân tích kết vị học. Trong khi Longacre tiếp tục sử dụng một kết vị với hai đặc trưng thì Pike thông qua một quan điểm bốn đặc trưng của kết vị trong các tác phẩm sau này của ông.
Ông thêm vào 6 (slot) và lớp (class) các đặc trưng về vai (role) và liên kết (cohesion). Liên kết ở đây là khả năng kết hợp ngữ pháp, những trường hợp trong đó hình thức hoặc sự xuất hiện của đơn vị ngữ pháp này được ưa thích bởi một đơn vị ngữ pháp khác trong ngôn ngữ. Nó bao gôm những đặc trưng phù ứng như phù ứng vê sô trong tiếng Anh và phù ứng về giống trong nhiều ngôn ngữ Roman. Các kết vị là thành tố của các cú pháp vi (syntagmemes), còn được gọi là các mô hình (patterns) hoặc kêt cau (constructions).
Một sô kêt vi là bat buộc và được đánh dâu +, trong khi các kêt vi không bắt buộc được đánh dâu -. Trong ký hiệu bốn tế bào, Tiểu cú nội động từ “The famer walks” sẽ có hai kêt vị, kêt vị thứ nhât biêu hiện là “the farmer” và kêt vị thứ hai thê hiện là “walks”: Theo Jones [1980] thì kết vị có 4 đặc trưng đó là ô, lớp, vai và liên kết. Như và kết vị “The famer” được phân tích theo đặc trưng như sau: Đặc trưng ô thì kết “the famer” thuộc chủ ngữ, /ớp: thuộc doan ngữ danh từ, vai: chỉ người hành động, liên kết: thuộc danh từ chỉ số ít. Số của chủ ngữ “the famer” sẽ chi phối số của vi ngữ.
Tương tự như phân tích trên, kết vị “walk” cũng được phân tích theo 4 đặc trưng. Đặc trưng vê ô: vị ngữ, /ớp: vi từ, vai: nêu nhận định, /ién kết: do kết vị “famer” là danh từ chỉ số ít nên kết vị “walk” phụ thuộc vào số của chủ ngữ. Sự kết hợp hai kết vị tạo thành tiểu cú nội động từ và có thê tổng quát theo mô hình sau: 14 Tiểu cú nội động từ= Chủ ngữ Đoản ngữ danh từ + Người hành động Số của chủ ngữ > VỊ ngữ VỊ từ + Nhận định > sô của chủ ngữ > nội động từ Phù hiệu của mũi tên ở các tế bào liên kết ở trên biểu thị các quy tắc liên kết như: Số của chủ ngữ: Sô của chủ ngữ chi phối số của vị ngữ Nội động từ: đòi hỏi lẫn nhau của chủ ngữ (như hành thể) và kết vị vị ngữ. Nếu mũi tên ở bên phải, kết vị là nguồn chi phối; nếu mũi tên bên trái, kết vị là đích chi phôi.
Sự phân tích có thể được tóm lược trong một dãy như IndeDecITCLRt= + S: NP + ITPred: ITVP, có thé đọc như sau: Gốc tiêu cú nội động từ tường thuật độc lap (Independent Declarative Intransitive Clause Root), gôm 6 chủ ngữ bắt buộc được điền bằng một đoản ngữ danh từ, theo sau là một ô vị ngữ nội động từ được điền băng cụm động từ/ đoản ngữ vị từ nội động từ bat buộc. Có một sô hữu han các kiêu cau trúc ở mỗi cấp bậc ngữ pháp của câu, tiêu cú, đoản ngữ, từ, hình vị và về mặt này, kết vị học giống với ngữ pháp thang độ và phạm tru (scale and category grammar). Các kết vị là đơn vi ban chất của sự phân tích kết vị học. Các két vi có thê phân tích ra thành các đơn vi chat liệu nhỏ hơn được gọi là kết tô (tagma), chúng là các biên thê két vị (allotagmas) của kết vi.