Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Đối chiếu từ ngữ chỉ tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Hải Quỳnh Anh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Nguyễn Văn Khang, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2023. Công trình thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu, mã số 9.24.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong hệ thống ngôn ngữ học, nghiên cứu nghĩa của từ là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) và các động từ biểu thị hoạt động của các bộ phận này là mảng từ vựng cơ bản của mọi ngôn ngữ. Trong đó, "tay" là một trong những bộ phận được con người tri nhận sớm nhất, giữ vai trò thiết yếu trong lao động và giao tiếp. Dù đặc điểm giải phẫu học của tay người có tính phổ quát, việc phân chia ranh giới các bộ phận của tay cũng như cách thức tri nhận và định danh hành động của tay lại có sự khác biệt rõ nét giữa các cộng đồng văn hóa và ngôn ngữ khác nhau.

Bên cạnh sự tương đồng về nghĩa cơ bản (nghĩa gốc, nghĩa đen), sự phát triển nghĩa phái sinh của từ chỉ tay và động từ hoạt động tay chịu sự chi phối mạnh mẽ của phương thức cấu tạo từ, nhận thức và tư duy dân tộc. Đến thời điểm thực hiện luận án, các nghiên cứu đối chiếu mảng từ vựng này giữa tiếng Hán và tiếng Việt chủ yếu tồn tại dưới dạng các bài viết đơn lẻ hoặc khảo sát trong phạm vi hẹp (như giới hạn trong một số lượng động từ đơn âm tiết cụ thể). Luận án được triển khai nhằm giải quyết khoảng trống về một công trình đối chiếu có hệ thống, toàn diện trên bình diện ngữ nghĩa học và trường từ vựng giữa hai ngôn ngữ.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục đích nghiên cứu: Vận dụng lý thuyết ngữ nghĩa học truyền thống, luận án khảo sát, miêu tả đặc điểm nghĩa và khả năng kết hợp của các từ chỉ tay, các bộ phận của tay và các từ chỉ hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt; từ đó đối chiếu để chỉ ra sự tương đồng và khác biệt của chúng giữa hai ngôn ngữ, góp phần vào nghiên cứu nghĩa của từ và đối chiếu song ngữ Hán - Việt dưới tác động của các nhân tố ngôn ngữ - văn hóa - xã hội.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về những nội dung liên quan đến đề tài; xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài luận án.
    2. Miêu tả và đối chiếu từ ngữ chỉ tay trong tiếng Hán và tiếng Việt.
    3. Miêu tả và đối chiếu các động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt.
    4. Phân tích chỉ ra các nhân tố ngôn ngữ - văn hóa - xã hội chi phối sự tương đồng và khác biệt của các từ chỉ tay và hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Các từ ngữ chỉ tay, các bộ phận của tay và các động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu: Tiếp cận các từ ngữ chỉ tay, bộ phận của tay và hoạt động của tay đang hiện diện và được sử dụng trong tiếng Hán và tiếng Việt theo góc độ ngôn ngữ học đồng đại. Đối với danh từ chỉ bộ phận của tay, luận án tham khảo thêm cách phân chia giải phẫu học y học về chi trên làm cơ sở đối chứng để thiết lập danh mục khảo sát.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được phân định theo hai bình diện chính: bình diện ngữ nghĩa học truyền thống và bình diện ngôn ngữ học tri nhận, xét trên cả phạm vi quốc tế, Trung Quốc và Việt Nam.

Hướng nghiên cứu trên thế giới và tại Trung Quốc

  • Về bình diện ngữ nghĩa học truyền thống: Matisoff (1978) nghiên cứu biến thể từ vựng ngữ hệ Tạng - Miến qua nhóm từ BPCTN. Sakuragi Toshiyuki và Judith W. Fuller (2003) khảo sát liên văn hóa về khả năng chuyển dịch ẩn dụ từ BPCTN giữa tiếng Anh và tiếng Nhật. Shamaeva và Prokopieva (2018) nghiên cứu từ mượn tiếng Mông Cổ trong từ tượng hình ngôn ngữ Yakut qua động từ chỉ BPCTN. Tại Trung Quốc, Chu Oánh Oánh (2007) nghiên cứu trường ngữ nghĩa các từ chỉ hoạt động tay trong tiếng Hán thượng cổ và hiện đại; Hoàng Bích Dung (2009) nghiên cứu hệ thống ngữ nghĩa của từ "手" (tay) và "眼" (mắt) đối chiếu với tiếng Anh; Lưu Thiến Trung (2011) khảo sát nhóm động từ đơn âm tiết "拿" (cầm); Ratchadapun Wongleang (2015) nghiên cứu sự không tương đồng ngữ nghĩa động từ hoạt động tay giữa tiếng Hán và tiếng Thái.
  • Về bình diện ngôn ngữ học tri nhận: Larissa Manerko (2014) khảo sát ý niệm hóa không gian từ BPCTN trong thành ngữ tiếng Anh. Tại Trung Quốc, Lã Diễm Huy (2008) nghiên cứu động từ hoạt động tay hiện đại dựa trên kho ngữ liệu; Nguyễn Thị Lê Tâm (2011) đối chiếu ẩn dụ danh từ BPCTN giữa tiếng Hán và tiếng Việt; Nguyễn Thị Kiều Linh (2020) đối chiếu ẩn dụ và hoán dụ từ chỉ "tay" giữa hai ngôn ngữ.

Hướng nghiên cứu tại Việt Nam

  • Về bình diện ngữ nghĩa học truyền thống: Đỗ Thị Thanh Huyền (2020) xuất bản chuyên khảo đối chiếu 70 động từ đơn âm tiết chỉ động tác tay trong "Đại cương từ vựng HSK" giữa tiếng Hán và tiếng Việt; Cầm Tú Tài (2008) khảo sát 2.601 ngữ cố định tiếng Hán có chứa từ chỉ BPCTN trong sự so sánh với tiếng Việt; Chăn Phômmavông (1999) nghiên cứu trường tên gọi BPCTN tiếng Lào đối chiếu tiếng Việt; Trần Văn Tiếng (2009) khảo sát từ chỉ BPCTN theo nghĩa hoán dụ trong tiếng Hàn đối chiếu tiếng Việt; cùng các nghiên cứu của Nguyễn Thị Vui (2002), Trần Thị Minh (2009), Mã Thị Hiển (2009), Đào Duy Tùng (2017).
  • Về bình diện ngôn ngữ học tri nhận: Trịnh Thị Thanh Huệ (2012) đối chiếu ẩn dụ tên gọi BPCTN giữa tiếng Việt và tiếng Hán; Nguyễn Văn Hải (2016) khảo sát từ chỉ BPCTN tiếng Việt và tiếng Anh; Hà Thị Mai Thanh (2017) khảo sát từ biểu hiện BPCTN trong tiếng Thái và tiếng Việt; cùng các tác giả Marina Prévot, Phan Thanh Thủy, Nguyễn Văn Hiệp (2016), Lê Thị Diên Anh (2015), Nguyễn Ngọc Vũ (2009).

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các công trình trước đây tập trung vào một phân mảng hẹp (hoặc chỉ danh từ, hoặc chỉ ngữ cố định, hoặc giới hạn ở một danh sách động từ đơn âm tiết tuyển chọn trong giáo trình thi HSK). Một số nghiên cứu tri nhận chưa bao quát được các tầng bậc ngữ nghĩa miêu tả. Luận án của Nguyễn Hải Quỳnh Anh định vị là công trình đầu tiên khảo sát đồng thời cả hai mảng: hệ thống từ ngữ chỉ danh xưng/bộ phận của tay và hệ thống động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Việt dựa trên lý thuyết trường nghĩa truyền thống, kết hợp phân tích đối chiếu định lượng và định tính.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận

Luận án thiết lập hệ thống cơ sở lý thuyết chặt chẽ từ ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học đại cương:

  1. Quan niệm về từ và cấu tạo từ: Tiếp thu các quan điểm của L. Bloomfield, E. Sapir, F. de Saussure, Chu Đức Hy, Cát Bản Nghi, Trương Văn Chình - Nguyễn Hiến Lê, Hồ Lê và Đỗ Hữu Châu. Luận án định nghĩa từ là đơn vị nhỏ nhất có nghĩa của ngôn ngữ, có khả năng hoạt động độc lập, có tính hoàn chỉnh về ngữ âm và làm đơn vị tạo câu. Phân loại cấu tạo từ tiếng Hán (Châu Tổ Mô) thành từ đơn (đơn âm tiết, đa âm tiết) và từ ghép (liên hợp, chính phụ, chi phối, bổ sung, láy, từ căn + phụ tố). Phân loại cấu tạo từ tiếng Việt (Đỗ Hữu Châu) thành từ đơn (đơn tiết, đa tiết), từ ghép (chính phụ, đẳng lập, không xác định quan hệ) và từ láy.
  2. Cấu trúc nghĩa và sự phát triển nghĩa: Vận dụng mô hình tam giác nghĩa của Ogden - Richards; phân tích cấu trúc nghĩa gồm nghĩa biểu vật, nghĩa biểu niệm và nghĩa biểu thái (Đỗ Hữu Châu, Đỗ Việt Hùng). Phân loại nghĩa trong từ đa nghĩa thành: nghĩa gốc - nghĩa phái sinh, nghĩa tự do - nghĩa hạn chế, nghĩa trực tiếp - nghĩa chuyển tiếp (nghĩa gián tiếp/bóng), nghĩa thường trực - nghĩa không thường trực.
  3. Phương thức chuyển nghĩa: Chấp nhận khung lý thuyết chuyển nghĩa của Đỗ Hữu Châu về:
    • Ẩn dụ (5 kiểu): Ẩn dụ hình thức, vị trí, cách thức, chức năng, kết quả.
    • Hoán dụ (5 kiểu): Quan hệ bộ phận - toàn thể, vật chứa - vật bị chứa, dụng cụ - nghề nghiệp, cơ quan chức năng - chức năng, tư thế cụ thể - nguyên nhân của tư thế.
  4. Quan hệ ngữ nghĩa và lý thuyết trường nghĩa: Áp dụng quan hệ cấp loại (bao gồm - nằm trong) và quan hệ toàn bộ - bộ phận. Vận dụng lý thuyết trường nghĩa của G. Ipsen, J. Trier, L. Weisgerber, Giả Ngạn Đức, Chu Quốc Quang, Nguyễn Thiện Giáp và hệ thống phân loại trường nghĩa của Đỗ Hữu Châu (trường nghĩa dọc gồm trường nghĩa biểu vật, trường nghĩa biểu niệm; trường nghĩa ngang; trường nghĩa liên tưởng).
  5. Cơ sở liên ngành giải phẫu học: Tiếp cận cách phân chia y học về chi trên (gồm cánh tay, khuỷu tay, cẳng tay, cổ tay, bàn tay, ngón tay) làm khung quy chiếu đối chiếu ngôn ngữ.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp miêu tả: Kết hợp các thủ pháp thống kê, phân loại để lượng hóa và mô tả các đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, tần số và xu hướng hoạt động của các đơn vị từ vựng.
  • Phương pháp ngôn ngữ học đối chiếu: So sánh đồng đại các đơn vị từ vựng tương đương giữa tiếng Hán và tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ các nét tương đồng (tính phổ quát) và dị biệt (tính đặc thù văn hóa - ngôn ngữ).
  • Cách tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức ngôn ngữ học với giải phẫu học y học và văn hóa học để lý giải nguyên nhân phân chia ranh giới định danh và chuyển nghĩa.

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Dữ liệu khảo sát được trích xuất từ các nguồn từ điển và kho ngữ liệu chuẩn mực:

  • Từ điển tiếng Hán: 《现代汉语词典》(Từ điển tiếng Hán hiện đại, tái bản lần 7); 《现代汉语频率词典》(Từ điển tần suất tiếng Hán hiện đại); 《汉语大词典》(Đại từ điển tiếng Hán, quyển 6); 《现代汉语动词大词典》(Đại từ điển động từ tiếng Hán hiện đại); 《汉语动词用法词典》(Từ điển cách dùng động từ tiếng Hán).
  • Từ điển tiếng Việt: Từ điển tiếng Việt (2015, Hoàng Phê chủ biên); Từ điển Hán - Việt (2002, Phan Văn Các chủ biên).
  • Kho ngữ liệu điện tử: Kho ngữ liệu Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh (BCC Corpus - http://bcc.cn/); Kho ngữ liệu tiếng Hán Cổ đại của Ủy ban Ngôn ngữ Quốc gia Trung Quốc (http://corpus.org); Kho ngữ liệu tiếng Việt Vietlex (Vietlex Corpus - http://www.com/kho-ngu-lieu).
  • Tác phẩm văn học tiếng Việt: Các truyện ngắn và tiểu thuyết hiện đại (như Ngược dòng nước lũ - Ma Văn Kháng, 15 truyện ngắn - Lưu Quang Vũ, Mảnh đất lắm người nhiều ma - Nguyễn Khắc Trường...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện cho toàn bộ luận án. Tác giả tổng hợp tình hình nghiên cứu từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể người và động từ hoạt động tay trong và ngoài nước qua hai hướng tiếp cận chính: ngữ nghĩa học truyền thống và ngôn ngữ học tri nhận. Chương này hệ thống hóa các khái niệm công cụ:

  • Bản chất của từ, đơn vị cấu tạo từ (hình vị) và các kiểu cấu tạo từ trong tiếng Hán và tiếng Việt.
  • Cấu trúc nghĩa của từ (nghĩa biểu vật, biểu niệm, biểu thái), hiện tượng đa nghĩa và các cặp phân loại nghĩa.
  • Hai cơ chế chuyển nghĩa chủ đạo: ẩn dụ và hoán dụ cùng các tiểu loại cụ thể.
  • Hệ thống quan hệ ngữ nghĩa (cấp loại, toàn bộ - bộ phận) và lý thuyết trường nghĩa từ vựng (tập trung vào trường nghĩa biểu vật và biểu niệm của Đỗ Hữu Châu).
  • Tổng quan tri thức giải phẫu học về chi trên của cơ thể người nhằm phục vụ việc phân lập tiêu chí khảo sát.

Chương 2: Đối chiếu từ ngữ chỉ tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt

Chương 2 đi sâu khảo sát, phân loại và đối chiếu hệ thống danh từ/từ ngữ chỉ tay và các bộ phận cấu thành tay giữa hai ngôn ngữ.

  • Đối chiếu định danh và số lượng từ mô tả: Luận án đối chiếu cách gọi tên và tần số xuất hiện của các từ chỉ bộ phận tay trong tiếng Hán và tiếng Việt:
    • Từ chỉ toàn bộ/khái quát: Từ "手" (Hán) và "tay", "thủ" (Việt).
    • Từ chỉ các bộ phận giải phẫu: "手臂" (cánh tay), "肘" (khuỷu tay), "前臂" (cẳng tay), "手腕" (cổ tay), "掌" / "手心" (lòng bàn tay, gan bàn tay), "指" (ngón tay).
  • Đặc điểm ngữ nghĩa và sự chuyển nghĩa của từ "手" và "tay":
    • Nghĩa gốc: Cả "手" và "tay" đều có nghĩa gốc chỉ chi trên của cơ thể người từ vai đến ngón tay dùng để cầm nắm.
    • Chuyển nghĩa theo đặc điểm vật lý: Ẩn dụ hình thức và vị trí (bộ phận máy móc, tay ghế, tay vịn, tay áo, khuỷu sông...).
    • Chuyển nghĩa theo đặc điểm chức năng và hoán dụ: Dùng để chỉ người lao động, người nắm giữ chuyên môn hoặc kỹ năng (tay súng, tay vợt, tay lái, 新手 - người mới, 高手 - cao thủ); chỉ quyền lực, sự kiểm soát (trong tay, ra tay, buông tay, 掌握 - nắm giữ); chỉ các bên tham gia hành vi (tay đôi, tay ba).
  • Khác biệt định lượng và phân bố nghĩa: Luận án lập các bảng thống kê đối chiếu số lượng nghĩa của từng từ chỉ bộ phận tay, cho thấy tiếng Hán có xu hướng phái sinh nhiều nghĩa trừu tượng gắn với thuật ngữ hành chính, chính trị và kỹ thuật thông qua các yếu tố Hán tự ghép, trong khi tiếng Việt phát triển mạnh các nghĩa biểu thái trong khẩu ngữ và ngữ cố định.

Chương 3: Đối chiếu các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt

Chương 3 tập trung đối chiếu diện mạo ngữ nghĩa của trường động từ hoạt động tay - mảng từ vựng có số lượng phong phú và tần suất sử dụng cao nhất.

Nhóm tiểu trường ngữ nghĩa Đại diện tiếng Hán Đại diện tiếng Việt Đặc điểm đối chiếu ngữ nghĩa
1. Nhóm động từ cầm, nắm vật trong tay 拿 (ná), 握 (wò), 抓 (zhuā), 抱 (bào), 提 (tí), 携 (xié)... Cầm, nắm, giữ, ôm, xách, mang, vác, bế, bồng, cắp... Tiếng Việt phân hóa rất chi tiết phương thức, tư thế mang vác; tiếng Hán phát triển mạnh nghĩa chuyển trừu tượng (như 拿: nắm bắt, chiếm lĩnh).
2. Nhóm động từ gõ, đập lên vật thể 打 (dǎ), 击 (jī), 敲 (qiāo), 拍 (pāi), 捶 (chuí)... Đập, gõ, đấm, vỗ, bạt, tát, nện, giã, quất, vụt... Cả hai ngôn ngữ đều có hệ thống từ tượng thanh/hình đi kèm; tiếng Hán dùng từ đa năng (đặc biệt là 打) với phạm vi kết hợp rộng hơn.
3. Nhóm động từ đặt, để vật thể ở vị trí 放 (fàng), 置 (zhì), 摆 (bǎi), 搁 (gē)... Đặt, để, kê, gác, bày, xếp, để dành... Tương đồng ở nghĩa chỉ vị trí không gian cụ thể; khác biệt ở các kết cấu thành ngữ và ý niệm hóa thời gian/trạng thái tinh thần.
  • Khảo sát chi tiết các cặp từ tiêu biểu:
    • Cặp từ "拿" (Hán) và "cầm" (Việt): Đối chiếu chi tiết cấu trúc nghĩa gốc (dùng bàn tay/ngón tay giữ lấy vật) đến các nghĩa phái sinh (nắm giữ quyền hành, bắt giữ, đảm nhiệm, có năng lực thao tác).
    • Cặp từ "摸" (Hán) và "sờ" (Việt): Phân tích nét nghĩa tiếp xúc xúc giác bề mặt, tìm tòi, thăm dò và nghĩa chuyển (mò mẫm, tìm hiểu thực tế).
    • Cặp từ "挠" (Hán) và "gãi" (Việt): Khảo sát hành động dùng móng tay/đầu ngón tay tác động lên da giải tỏa ngứa ngáy đến nghĩa phái sinh (làm phiền, cản trở, khuất phục trong tiếng Hán).
  • Tổng hợp đối chiếu: Luận án thống kê số lượng nghĩa, phân tích khả năng kết hợp ngữ pháp và trường ngữ nghĩa của động từ hoạt động tay gắn với từng tiểu bộ phận (ngón tay: bấm, búng, vẫy, véo; lòng bàn tay: xoa, vỗ, xoa bóp; cánh tay: ôm, khoác, vung...).

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Vận dụng thành công và kiểm chứng tính hiệu quả của lý thuyết trường nghĩa ngữ nghĩa học truyền thống vào việc miêu tả một trường từ vựng cụ thể, có dung lượng lớn và phức tạp.
  • Cung cấp bức tranh đối chiếu toàn diện, có hệ thống giữa danh từ chỉ bộ phận cơ thể (chi trên) và các động từ hoạt động của bộ phận đó giữa hai ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập (tiếng Hán và tiếng Việt).
  • Làm sáng tỏ các quy luật phát triển nghĩa, cơ chế chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ từ cụ thể (không gian, vật chất) sang trừu tượng (tư duy, xã hội, chức vụ) của nhóm từ chỉ tay.
  • Chỉ ra các nhân tố ngôn ngữ học (loại hình học, phương thức cấu tạo từ) và nhân tố ngoài ngôn ngữ (văn hóa nông nghiệp lúa nước, tâm lý dân tộc, phương thức nhận thức thế giới khách quan) chi phối sự tương đồng và dị biệt giữa hai ngôn ngữ.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Giảng dạy ngoại ngữ: Cung cấp nguồn tư liệu chuẩn xác, có hệ thống phục vụ trực tiếp cho việc dạy và học tiếng Hán cho người Việt Nam cũng như dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc, giúp người học khắc phục lỗi chuyển di tiêu cực (lỗi dùng sai từ đồng nghĩa hoặc lỗi dịch nguyên từ).
  • Biên soạn từ điển và tài liệu: Làm cơ sở dữ liệu tham khảo giá trị cho các nhà biên soạn từ điển đối chiếu song ngữ Hán - Việt, Việt - Hán, đặc biệt trong việc xử lý các nét nghĩa phái sinh và khả năng kết hợp cú pháp của động từ hoạt động tay.
  • Công tác dịch thuật: Hỗ trợ dịch giả nhận diện chính xác các sắc thái biểu cảm, phạm vi kết hợp và các thành ngữ, quán dụng ngữ có chứa từ chỉ tay và hoạt động tay để chuyển dịch tương đương và tự nhiên.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tiếp cận chủ yếu từ góc độ ngữ nghĩa học truyền thống trên nguồn ngữ liệu từ điển và văn bản đồng đại chuẩn mực; chưa bao quát sâu sắc các biến thể ngữ âm - từ vựng lịch sử trong tiếng Hán cổ và tiếng Việt cổ, cũng như các biến thể phương ngữ vùng miền.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    1. Mở rộng nghiên cứu đối chiếu sang các trường từ vựng bộ phận cơ thể người khác (như từ chỉ chân, mắt, miệng, tim, đầu) giữa tiếng Hán và tiếng Việt.
    2. Vận dụng sâu hơn các lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận đương đại (ẩn dụ ý niệm, hoán dụ ý niệm, ngữ nghĩa học nguyên mẫu) kết hợp xử lý kho ngữ liệu lớn (Corpus Linguistics) để lượng hóa chi tiết hơn các khung ngữ nghĩa (Frame Semantics).

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích đối với:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Ngôn ngữ Trung Quốc, Việt ngữ học và Văn hóa học phương Đông.
  • Giảng viên giảng dạy tiếng Hán và tiếng Việt như một ngoại ngữ tại các trường đại học, viện nghiên cứu.
  • Biên dịch viên, phiên dịch viên Hán - Việt cần tra cứu chuyên sâu về ngữ nghĩa học đối chiếu và quán dụng ngữ.
  • Nội dung tham khảo đặc biệt có giá trị: Hệ thống bảng đối chiếu số lượng nghĩa, bảng phân loại trường nghĩa động từ hoạt động tay và các phân tích đối chiếu cặp từ cụ thể trong Chương 2 và Chương 3.

Câu hỏi thường gặp

1. Nguồn ngữ liệu chính được sử dụng để khảo sát trong luận án gồm những gì?

Luận án khai thác hệ thống từ điển quy chuẩn bao gồm: Từ điển tiếng Hán hiện đại (tái bản lần 7), Từ điển tần suất tiếng Hán hiện đại, Đại từ điển tiếng Hán (quyển 6), Đại từ điển động từ tiếng Hán hiện đại, Từ điển cách dùng động từ tiếng Hán; Từ điển tiếng Việt (2015, Hoàng Phê chủ biên), Từ điển Hán - Việt (Phan Văn Các chủ biên). Cùng với đó là các kho ngữ liệu điện tử (BCC của Đại học Ngôn ngữ Bắc Kinh, Corpus tiếng Hán Cổ đại, Vietlex) và tác phẩm văn học của các tác giả Ma Văn Kháng, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khắc Trường.

2. Luận án lựa chọn khung phân loại phương thức chuyển nghĩa nào làm cơ sở lý thuyết?

Luận án chấp nhận khung lý luận của Đỗ Hữu Châu, phân chia thành:

  • Ẩn dụ (5 loại): Hình thức, vị trí, cách thức, chức năng, kết quả.
  • Hoán dụ (5 loại): Bộ phận - toàn thể, vật chứa - vật bị chứa, dụng cụ - nghề nghiệp, cơ quan chức năng - chức năng, tư thế cụ thể - nguyên nhân của tư thế.

3. Những đơn vị từ vựng nào đại diện cho bộ phận của tay được đối chiếu trong Chương 2?

Luận án khảo sát các từ: "手" (Hán) đối chiếu với "tay", "thủ" (Việt); cùng các từ chỉ bộ phận giải phẫu cụ thể: "手臂" (cánh tay), "肘" (khuỷu tay), "前臂" (cẳng tay), "手腕" (cổ tay), "掌" / "手心" (lòng bàn tay / gan bàn tay), "指" (ngón tay).

4. Chương 3 phân chia trường động từ hoạt động tay thành những nhóm tiểu trường chính nào?

Chương 3 tập trung khảo sát 3 nhóm tiểu trường động từ chính:

  1. Nhóm động từ biểu thị hoạt động cầm, nắm vật trong tay (tiêu biểu như 拿 và cầm).
  2. Nhóm động từ biểu thị hoạt động dùng tay (hoặc dụng cụ) gõ, đập lên vật thể (tiêu biểu như 打, 敲 và đập, gõ, đấm).
  3. Nhóm động từ biểu thị hoạt động đặt, để vật thể ở vị trí nào đó (tiêu biểu như 放, 置 và đặt, để).

5. Sự khác biệt nổi bật nhất về ngữ nghĩa giữa từ chỉ tay trong tiếng Hán và tiếng Việt là gì?

Cả hai ngôn ngữ đều tương đồng ở nghĩa gốc chỉ chi trên và các mô hình chuyển nghĩa cơ bản (chỉ người làm nghề, chỉ quyền lực, chỉ vị trí). Tuy nhiên, tiếng Hán có khả năng tạo từ ghép chính phụ/liên hợp trừu tượng cao hơn để tạo thuật ngữ hành chính, xã hội; trong khi tiếng Việt có xu hướng mở rộng nghĩa biểu thái, sắc thái khẩu ngữ phong phú hơn trong các tổ hợp từ cố định và thành ngữ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hải Quỳnh Anh là một công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện trong chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu Hán - Việt. Bằng việc vận dụng nhất quán lý thuyết trường nghĩa và phương pháp đối chiếu liên ngành, tác giả đã miêu tả chi tiết diện mạo ngữ nghĩa của hệ thống từ ngữ chỉ tay và các động từ hoạt động tay trong hai ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu không chỉ làm sáng tỏ các tương đồng mang tính phổ quát nhân loại và các dị biệt mang bản sắc văn hóa dân tộc, mà còn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho giảng dạy ngoại ngữ, biên soạn từ điển và dịch thuật song ngữ Hán - Việt.