Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận Chương 2: Đối chiếu từ ngữ chỉ tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt Chương 3: Đối chiếu các động từ biểu thị hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Việt 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Từ vựng chỉ bộ phận cơ thể người (BPCTN) ngoài việc dùng để chỉ cơ thể con người, còn được sử dụng rất nhiều trong giao tiếp hàng ngày ở nhiều ngôn ngữ. Để có được cái nhìn toàn diện về các khía cạnh và hướng nghiên cứu của nhóm từ chỉ BPCTN trong tiếng Hán và tiếng Việt, đồng thời tìm ra những khoảng trống, những vấn đề chưa được đề cập đến hoặc đi sâu nghiên cứu để có thể tiếp tục nghiên cứu trong luận án, trong chương này, chúng tôi sẽ tổng hợp các công trình nghiên cứu của các học giả đi trước về nhóm từ này. Theo thống kê của chúng tôi, hiện tại việc nghiên cứu nhóm từ chỉ BPCTN thường được các nhà ngôn ngữ học, các học giả nghiên cứu dựa trên các bình diện: bình diện ngữ nghĩa học truyền thống và bình diện ngôn ngữ học tri nhận.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Từ bình diện ngữ nghĩa học truyền thống Về vấn đề này, đầu tiên phải kể đến nghiên cứu “Variational Semantics in Tibeto-Burman” (Biến thể từ vựng trong tiếng Tạng – Miến Điện) của Matisoff (1978). Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng các từ chỉ BPCTN làm những từ căn bản rồi dùng phương pháp so sánh để nêu ra những khác biệt về ngữ nghĩa giữa các ngôn ngữ trong ngữ hệ của Tây Tạng và Miến Điện. Tác giả đã nghiên cứu tính đa nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN và chỉ ra rằng dựa theo các tiêu chuẩn phân loại khác nhau, nhóm từ chỉ BPCTN có thể thuộc nhiều loại khác nhau [58].
Trong nghiên cứu “Body-Part Metaphors: A Cross-Cultural Survey of the Perception of Translatability Among Americans and Japanese” (Ẩn dụ về bộ phận cơ thể: Khảo sát liên văn hóa trong nhận thức về khả năng 6 dịch giữa người Mỹ và người Nhật), các tác giả Sakuragi Toshiyuki và Judith W. Fuller(2003)đã thông qua một cuộc khảo sát thực nghiệm đối với sinh viên Đại học ở hai nước Anh và Nhật Bản, từ đó nghiên cứu khả năng chuyển dịch các phép ẩn dụ từ biểu thị BPCTN giữa tiếng Anh và tiếng Nhật [62]. Các tác giả Anastasia Egorovna Shamaeva, Svetlana Mitrofanovna Prokopieva (2018) với nghiên cứu “Mongolian Loanwords in the Figurative Words of the Yakut Language (Illustrated by Verbs of Body Parts)” (Từ mượn tiếng Mông Cổ trong từ tượng hình của ngôn ngữ Yakut (Minh họa bằng các động từ chỉ bộ phận cơ thể người)) đã chỉ ra rằng, các từ tượng hình chiếm một vị trí đặc biệt trong từ vựng tiếng Mông Cổ. Do đó, nhóm tác giả đã nghiên cứu từ vựng tiếng Mông Cổ thông qua các từ tượng hình của ngôn ngữ Yakut để chỉ ra các đặc điểm giống nhau và khác nhau về nghĩa của các từ tượng hình biểu thị hoạt động trong ngôn ngữ Yakut và các từ ngữ trong tiếng Mông Cổ [53].
Ở Trung Quốc, các công trình nghiên cứu liên quan đến từ chỉ BPCTN cũng chiếm một số lượng đáng kể. Tác giả 朱莹莹 (Chu Oánh Oánh ) (2007), trong nghiên cứu “手部动 作常用词的语义场研究”(Nghiên cứu trường từ vựng - ngữ nghĩa của các từ thông dụng chỉ hoạt động của tay), đã dựa vào lý thuyết trường từ vựng – ngữ nghĩa và hai bình diện lịch sử của tiếng Hán thượng cổ và tiếng Hán hiện đại làm phạm vi nghiên cứu, tiến hành miêu tả một cách hệ thống sự khác biệt của các từ thông dụng biểu thị hoạt động của tay trong hai bình diện lịch sử này. Kết quả đối chiếu cho thấy, xét về tính khách quan của khái niệm và tính lịch sử của trường từ vựng – ngữ nghĩa, trong xã hội thời thượng cổ và thời 7 hiện đại, việc con người sử dụng các động tác của tay là yếu tố khách quan và đồng nhất, chỉ là các từ hoặc các cụm từ trong ngôn ngữ được sử dụng để diễn đạt ở các giai đoạn lịch sử khác nhau thì khác nhau, dẫn đến trường từ vựng - ngữ nghĩa đại diện cho cùng một khái niệm đã có sự thay đổi và nhóm trường từ vựng – ngữ nghĩa chỉ các động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán hiện đại phong phú hơn trong tiếng Hán thượng cổ [105]. Tác giả 黄碧蓉 (Hoàng Bích Dung) (2009) trong“人体词语语义研究” (Nghiên cứu ngữ nghĩa của từ chỉ bộ phận cơ thể người), đã tập trung nghiên cứu chi tiết hệ thống ngữ nghĩa của hai từ chỉ BPCTN là 手(tay)và “眼” (mắt) để từ đó nghiên cứu hệ thống ý nghĩa của các từ chỉ BPCTN.
Tác giả cũng thông qua đối chiếu sự chuyển nghĩa các từ chỉ BPCTN giữa tiếng Hán và tiếng Anh, chỉ ra những quy tắc và đặc điểm chung và riêng về nội dung cũng như số lượng chuyển nghĩa giữa hai ngôn ngữ. Theo tác giả, sự chuyển nghĩa của nhóm từ chỉ BPCTN chủ yếu thông qua phương thức ẩn dụ và hoán dụ. Luận án đã tiến hành phân tích và nghiên cứu một cách hệ thống và toàn diện về ngữ nghĩa của từ chỉ BPCTN tuy nhiên mới chỉ tập trung nghiên cứu nghĩa của từ chỉ BPCTN có trong từ điển, hơn nữa việc khảo sát nghĩa của từ chủ yếu là nghĩa gốc mà bỏ qua việc phân tích nghĩa phái sinh của từ [97]. Trong nghiên cứu “现代汉语“拿”类单音节手部动词研究(Nghiên cứu về nhóm động từ đơn âm tiết biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán hiện đại), 刘倩忠(Lưu Thiến Trung ) (2011) đã lấy nhóm động từ đơn âm tiết “拿” (cầm, nắm, mang,…) làm đối tượng nghiên cứu.
Từ góc độ ngữ nghĩa, tác giả đã chia nhóm từ này thành các tiểu trường để tìm ra những điểm giống nhau và khác nhau về mặt cú pháp của chúng. Tác giả cho rằng nhóm từ này chỉ sử dụng hạn chế trong một số trường hợp [110]. Trong nghiên cứu “汉泰手部动词词义不对等研究”(Nghiên cứu sự không tương đồng về ý nghĩa của các từ chỉ hoạt động của tay giữa tiếng Hán và tiếng Thái), tác giả Ratchadapun Wongleang (2015) đã thông qua việc nghiên cứu hiện tượng không tương đồng về ý nghĩa của các động từ biểu thị hoạt động của tay trong tiếng Hán và tiếng Thái, chỉ ra những điểm khác biệt giữa các nghĩa tố cụ thể, từ đó tìm ra các yếu tố ảnh hưởng đến nghĩa của từ và 8 giải thích nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt đó. Từ góc độ đối chiếu ngôn ngữ học, nghiên cứu không chỉ chứng minh được tính tương đồng và đặc điểm khác biệt của các từ trong cùng một hệ ngôn ngữ, mà còn chỉ ra nghĩa cơ bản, nghĩa văn hóa xã hội, nghĩa ngữ dụng của từ trong các ngôn ngữ khác nhau [95].
Ngoài những công trình nghiên cứu kể trên, còn có rất nhiều các nghiên cứu cũng dựa theo hướng nghiên cứu này đã được thực hiện như: 陈德琳 (Trần Đức Lâm) (2009) [83], 孙冬梅 (Tôn Đông Mai) (2008) [88], 杜玉凤 (Đỗ Ngọc Phượng) (2017) [92], 刘亚枫、程 昕 (Lưu Á Phong, Trình Hân) (2020) [ 73]…. Từ bình diện Ngôn ngữ học tri nhận Trong các báo cáo được đăng tại Hội nghị ngôn ngữ học Nhận thức Vương quốc Anh lần thứ 4, nghiên cứu “From human body parts to the embodiment of spatial conceptualization in English idioms” (Từ bộ phận cơ thể người đến hiện thân của khái niệm không gian trong thành ngữ tiếng Anh) của tác giả Larissa Manerko (2014) đã tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa “tâm trí” và “cơ thể”, cụ thể là từ các bộ phận cơ thể con người đến hiện thân của không gian, ý niệm hóa trong thành ngữ tiếng Anh. Kết quả nghiên cứu đã chứng minh được ngôn ngữ có mối liên hệ chặt chẽ với các quá trình nhận thức tri giác, nhận biết đối tượng với các đặc điểm trong không gian. Trong đó, nhận thức về không gian đóng vai trò quan trọng nhất trong việc mã hóa kiến thức của con người về không gian cũng như tư duy của con người và cách xử lý ngôn ngữ [57].
Ở Trung Quốc, trong những năm gần đây, việc nghiên cứu từ chỉ BPCTN dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận đã nhận được sự quan tâm của đông đảo các học giả. Luận án “基于语料库的现代汉语手部动词研究”(Nghiên cứu các từ chỉ hoạt động của tay trong tiếng Hán hiện đại dựa vào kho ngữ liệu) của 吕 艳辉(Lã Diễm Huy) (2008), đã dựa trên lý thuyết về từ vựng học, ngữ pháp học và ngôn ngữ học tri nhận, kết hợp với các khái niệm và ý nghĩa mà các động từ biểu thị hoạt động của tay biểu đạt, tiến hành nghiên cứu chi tiết và toàn diện các động từ biểu thị hoạt động của tay. Mặc dù luận án đã khái quát 9 được các quy tắc kết hợp của từ biểu thị hoạt động của tay từ góc độ đồng đại, tuy nhiên chưa đề cập đến sự so sánh các từ chỉ hoạt động của tay từ góc độ lịch đại [78]. Tác giả 阮氏黎心(Nguyễn Thị Lê Tâm ) (2011) trong nghiên cứu “汉 越人体名词隐喻对比研究” (Nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ các danh từ chỉ bộ phận cơ thể người giữa tiếng Hán và tiếng Việt), đã giải thích các đặc điểm ngữ nghĩa của từ chỉ BPCTN trong tiếng Hán và tiếng Việt từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận.
Kết quả nghiên cứu của luận án cho thấy, hiện tượng chuyển loại các danh từ chỉ BPCTN trong tiếng Hán và tiếng Việt khá nhiều. Theo tác giả, ánh xạ ẩn dụ về BPCTN là một mối quan hệ phức tạp, không phải là mối quan hệ ánh xạ một chiều đơn giản “từ gần đến xa”, từ miền ánh xạ BPCTN đến thế giới sự vật bên ngoài. Trên thực tế, ánh xạ có thể là hai chiều, thậm chí nhiều khi rất khó để phân biệt đâu là miền nguồn và đâu là miền đích. Mặc dù luận án đã đạt được một số kết quả nghiên cứu, tuy nhiên ở một số chương mục, việc khảo sát hiện tượng ngôn ngữ còn sơ sài, các ví dụ còn ít, đặc biệt khả năng phân tích và lập luận vẫn chưa thực sự thuyết phục [101].
Trong nghiên cứu“汉越语“手”类词语隐喻和转喻对比研究” (Nghiên cứu đối chiếu ẩn dụ và hoán dụ từ chỉ “tay” trong tiếng Hán và tiếng Việt), tác giả 阮氏乔泠(Nguyễn Thị Kiều Linh ) (2020) đã dựa trên lý thuyết ẩn dụ ý niệm của Lakoff & Johnson và lý thuyết hoán dụ ý niệm của Radden & Kovecses để tiến hành phân loại và phân tích cơ chế cấu tạo ẩn dụ, hoán dụ của từ “tay” trong tiếng Hán và tiếng Việt.