Tổng quan luận án

Luận án Phó Tiến sĩ Khoa học Ngữ văn với đề tài "Bình diện cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Nguyễn Công Đức thực hiện tại Viện Ngôn ngữ học thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.PTS. Hoàng Văn Hành, bảo vệ năm 1995 (Chuyên ngành: Ngôn ngữ học cấu trúc, Ngôn ngữ học ứng dụng và Ngôn ngữ học toán học; Mã số: 5.04.28).

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong vốn từ tiếng Việt, bên cạnh từ đơn và từ ghép, thành ngữ là những chỉnh thể cấu trúc ngữ nghĩa có chức năng tu từ học, biểu đạt một hiện tượng hoặc khái niệm riêng lẻ với giá trị biểu cảm, gợi tả và cô đọng. Thành ngữ tiếng Việt mang đậm dấu ấn văn hóa và tư duy của dân tộc. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu thành ngữ ở các bình diện riêng lẻ, giới Việt ngữ học vẫn chưa có một công trình nào khảo sát thành ngữ một cách toàn diện như một chỉnh thể cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa dưới sự chi phối đồng thời của các nhân tố trong ngôn ngữ và các nhân tố ngoài ngôn ngữ. Do đó, việc nghiên cứu đầy đủ các mặt cấu tạo, ngữ nghĩa và đặc trưng văn hóa tiềm ẩn trong thành ngữ là yêu cầu cấp thiết về cả lý luận và thực tiễn.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm các nhiệm vụ cụ thể sau:

  1. Đặt thành ngữ trong sự liên đới với các đơn vị lân cận để xác định cương vị và tìm tiêu chí phân định ranh giới giữa thành ngữ với cụm từ tự do và các loại cụm từ cố định khác (từ ghép, quán ngữ, tục ngữ).
  2. Phân chia và miêu tả đặc điểm cấu trúc hình thái của thành ngữ tiếng Việt, phân lập các tiểu loại cấu trúc dựa trên các tiêu chí hình thức và ngữ nghĩa.
  3. Miêu tả đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, tập trung vào cơ trình tạo nghĩa, các kiểu tổ hợp nghĩa và các con đường hình thành hiện tượng đa nghĩa trong mối liên hệ với văn hóa dân tộc.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các đơn vị thành ngữ tiếng Việt, bao gồm khối lượng thành ngữ thuần Việt và các thành ngữ gốc ngoại (chủ yếu là thành ngữ gốc Hán) đã trải qua quá trình đồng hóa và nhập hệ vào tiếng Việt.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập trên nguồn ngữ liệu thực tế gồm khoảng 10.000 câu ngữ cảnh thu thập qua sách báo, lời ăn tiếng nói thường ngày của nhân dân và các bộ từ điển chuyên ngành ngữ văn.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án điểm lại lịch sử nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt qua nhiều khuynh hướng tiếp cận của các tác giả đi trước:

  • Khuynh hướng nghiên cứu trong hệ thống từ vựng - ngữ pháp và phân định ranh giới: Thành ngữ được nghiên cứu trong các chuyên luận từ vựng học, ngữ pháp học hoặc các bài viết chuyên sâu nhằm phân định ranh giới giữa các đơn vị từ vựng của Nguyễn Văn Tú (1960, 1968, 1976), Đỗ Hữu Châu (1962, 1981, 1986), Nguyễn Kim Thản (1963), Cù Đình Tú (1973, 1982), Nguyễn Văn Mệnh (1972, 1986), Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985), Hồ Lê (1976), Đái Xuân Ninh (1976), Trương Đông San (1976).
  • Khuynh hướng nghiên cứu chuyên sâu từng tiểu loại thành ngữ: Nghiên cứu thành ngữ so sánh có công trình của V. Đác-bi-ê (1925), Trương Đông San (1974), Hoàng Văn Hành (1976); nghiên cứu thành ngữ đối có Đái Khắc Việt (1981) và nhóm tác giả biên soạn công trình Kể chuyện thành ngữ tục ngữ (1994).
  • Khuynh hướng khảo sát các bình diện riêng biệt: Nghiên cứu về nguồn gốc, ngữ nghĩa, biến thể, phương pháp và bình diện văn hóa của thành ngữ có Đái Khắc Việt (1978), Nguyễn Đức Dân (1986), Phan Xuân Thành (1990, 1992, 1993), Vũ Quang Hào (1992), Phan Văn Hoàn (1992), Như Ý (1993), Nguyễn Văn Khang (1994), Nguyễn Công Đức (1994), Nguyễn Xuân Hòa (1995).
  • Khuynh hướng nghiên cứu thành ngữ trong văn chương và phong cách tác giả: Gồm các nghiên cứu của Cù Đình Tú (1972), Hoàng Văn Hành (1973), Nguyễn Thiện Giáp và Lê Như Tiến (1988), Nguyễn Khắc Hạnh (1988), Hoàng Tất Thắng (1992), Trịnh Đức Hiển (1995), Phan Văn Quế (1995).
  • Khuynh hướng tiếp cận từ văn học dân gian: Các nhà nghiên cứu văn học dân gian quan tâm đến thành ngữ gồm Hạo Nhiên Nghiêm Toản (1956), Dương Quảng Hàm (1956), Phạm Thế Ngũ (1969), Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên (1972, 1973), Câu Thụy Đình (1974), Lê Chí Quế, Võ Quang Nhơn và Nguyễn Hùng Vĩ (1990).

Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù các công trình trước đã nghiên cứu khá đều khắp ở từng mặt riêng lẻ (ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng - ngữ nghĩa, tu từ học), nhưng chưa có công trình nào khảo sát thành ngữ một cách hệ thống như một chỉnh thể cấu trúc - hình thái và ngữ nghĩa hoàn chỉnh trong sự tác động tương hỗ giữa các quy luật nội tại của ngôn ngữ và các nhân tố văn hóa - lịch sử - xã hội ngoại tại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên nền tảng của ngôn ngữ học cấu trúc, ngôn ngữ học đại cương, triết học và văn hóa - dân tộc học. Luận án định vị thành ngữ là đơn vị định danh đa thành tố cố định, thuộc bậc cụm từ cố định trong hệ thống từ vựng, đồng thời là những đơn vị ngôn ngữ - văn hóa (theo nghĩa hẹp) phản ánh tri thức, phong tục và tư duy dân tộc.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được vận dụng xuyên suốt luận án bao gồm:

  • Phương pháp phân tích thành tố: Khảo sát các yếu tố cấu tạo nên thành ngữ, nhưng không xem xét tĩnh tại mà đặt trong sự vận hành để làm rõ cơ chế tạo sinh và hoạt động của thành ngữ.
  • Phương pháp phân tích ngữ cảnh: Phân tích thành ngữ trong môi trường tồn tại và hành chức, bao gồm môi trường "nội tại" (các đặc điểm bản thể luận của tiếng Việt tác động đến sự hình thành, phát triển) và môi trường "ngoại tại" (bối cảnh văn hóa, xã hội, lịch sử).
  • Thủ pháp liên ngành: Vận dụng các thao tác phân tích của văn hóa học và xã hội học để làm sáng tỏ các tầng nghĩa tiềm ẩn trong thành ngữ.
  • Kỹ thuật thống kê - phân loại: Phân loại định lượng và khảo sát các mô hình cấu trúc, quy luật ngữ âm từ nguồn ngữ liệu từ điển.

Nguồn tư liệu và dữ liệu khảo sát của luận án được thống kê cụ thể trong bảng dưới đây:

Nguồn ngữ liệu / Tài liệu tham chiếu Tác giả / Chủ biên Năm xuất bản
Thành ngữ tiếng Việt (2.846 mục từ khảo sát) Nguyễn Lực, Lương Văn Đang 1978
Từ điển thành ngữ Việt Nam Nguyễn Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành 1993
Từ điển giải thích thành ngữ gốc Hán Như Ý, Nguyễn Văn Khang, Phan Xuân Thành 1994
Từ điển thành ngữ tục ngữ Việt Nam Vũ Dung, Vũ Thúy Anh, Vũ Quang Hào 1993
Tục ngữ lược giải Lê Văn Hòe 1952
Từ điển tiếng Việt Viện Ngôn ngữ học (Văn Tân chủ biên) 1967
Từ điển tiếng Việt Viện Ngôn ngữ học (Hoàng Phê chủ biên) 1988
Ngữ liệu ngữ cảnh thực tế Trích xuất từ sách báo và khẩu ngữ Khoảng 10.000 câu

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những giới thuyết về thành ngữ tiếng Việt

Chương I tập trung xác định cương vị của thành ngữ trong hệ thống ngôn ngữ và phân định ranh giới giữa thành ngữ với các đơn vị lân cận thông qua việc kết hợp các tiêu chí hình thức cấu tạo và nội dung ngữ nghĩa:

  • Phân biệt thành ngữ với cụm từ tự do: Cụm từ tự do thuộc bình diện lời nói, có nghĩa là sự kết hợp lâm thời giữa các từ và mang tính cú pháp lỏng lẻo. Ngược lại, thành ngữ thuộc bình diện ngôn ngữ, có tính ổn định và tính hoàn chỉnh về nghĩa (như so sánh cầm quân đánh giặc với điều binh khiển tướng). Về hình thức, thành ngữ thể hiện tính phi cú pháp, bộc lộ rõ nét qua tính đối xứng của các thành tố. Luận án khẳng định tính hoàn chỉnh về nghĩa là điều kiện tiên quyết để nhận diện.
  • Phân biệt thành ngữ với từ ghép: Cả hai đều là đơn vị có sẵn mang chức năng định danh. Tuy nhiên, về nội dung, từ ghép nêu khái niệm thuần túy, trong khi thành ngữ chứa đựng nội dung rộng hơn, sâu sắc hơn, mang tính định danh gợi cảm và phản ánh mức độ của sự vật, hành động, trạng thái. Về hình thức, từ ghép thường có hai âm tiết với quan hệ ngữ pháp đơn giản, còn thành ngữ thường có từ ba âm tiết trở lên với quan hệ ngữ pháp nhiều bậc và phức tạp hơn. Các tổ hợp như dẻo kẹo, trẻ măng, đen thui được xem là đã chuyển hóa sang khu vực từ ghép.
  • Phân biệt thành ngữ với quán ngữ: Luận án bác bỏ quan điểm cho rằng quán ngữ khác thành ngữ ở độ lỏng/chặt hay tính biểu trưng. Dựa trên quan điểm chức năng, luận án chỉ rõ: Quán ngữ không có chức năng định danh mà chỉ giữ chức năng đưa đẩy, rào đón, liên kết hoặc nhấn mạnh trong diễn từ (ví dụ: của đáng tội, nói khí không phải, mở ngoặc nói thêm, cực chẳng đã). Thành ngữ là đơn vị định danh gọi tên sự vật, hiện tượng (ví dụ: đầu voi đuôi chuột, mẹ tròn con vuông, mèo mù vớ cá rán).
  • Phân biệt thành ngữ với tục ngữ và hiện tượng "đơn vị hai mặt": Về chức năng, thành ngữ định danh, phản ánh khái niệm và là đơn vị bậc cụm từ (làm thành phần câu); tục ngữ thông báo, đúc kết quy luật hoặc kinh nghiệm và là đơn vị bậc câu. Luận án giải quyết vùng giáp ranh bằng việc xác lập khái niệm "đơn vị hai mặt" trong văn hóa dân gian: một cụm từ cố định có thể tồn tại đồng thời hai cách hiểu và hai cách khai thác nghĩa (mặt thành ngữ và mặt tục ngữ), tiêu biểu như được voi đòi tiên, già kén kẹn hom, già néo đứt dây, tức nước vỡ bờ, móng mày hay hạt.

Chương II: Đặc điểm cấu trúc - hình thái của thành ngữ tiếng Việt

Chương II khảo sát các mô hình cấu tạo hình thái của thành ngữ tiếng Việt. Sau khi điều chỉnh hệ thống phân loại 5 nhóm trước đây của chính tác giả (1994), luận án đề xuất hệ thống phân loại 3 nhóm lớn dựa trên các tiêu chí "đối / không đối", "so sánh / không so sánh", "so sánh ẩn / so sánh hiện":

  1. Thành ngữ đối: Chiếm tỷ lệ cao nhất trong tiếng Việt. Khảo sát 2.846 mục từ trong cuốn Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang (1978) cho thấy có 1.475 mục từ là thành ngữ đối (chiếm trên 50%).
  2. Thành ngữ so sánh: Gồm các dạng có từ so sánh xuất hiện (ngang như cua, nhà có nóc như con có cha), mở đầu bằng từ so sánh (như cá với nước, như đỉa phải vôi), hoặc ẩn yếu tố so sánh (mặt vuông chữ điền, dội gáo nước lạnh).
  3. Thành ngữ thường (không đối, không so sánh): Như theo đóm ăn tàn, gửi trứng cho ác, ngậm miệng ăn tiền, châu chấu đá xe, chó mặc váy lĩnh.

Đi sâu vào bản chất của thành ngữ đối, luận án đưa ra các luận điểm và cứ liệu cụ thể:

  • Cơ chế tạo nghĩa: Điều kiện bắt buộc của thành ngữ đối là sự đối ứng về nghĩa giữa hai vế để chung hợp tạo nên nghĩa toàn đơn vị. Luận án quy về hai mối quan hệ chính: Quan hệ đối kết (tương đồng, liên kết các yếu tố gần nghĩa, đồng nghĩa, điệp nghĩa như năm nắng mười sương, chân lấm tay bùn, nói có sách mách có chứng) và Quan hệ tương phản (đối lập, khai thác quan hệ trái nghĩa như xanh vỏ đỏ lòng, lá mặt lá trái, một sống một chết, khẩu phật tâm xà).
  • Bác bỏ quan niệm "thành ngữ đối chính phụ": Tác giả chứng minh các trường hợp như bới lông tìm vết, được voi đòi tiên, lá thắm chỉ hồng thực chất là thành ngữ thường ngẫu nhiên có hình thức cân xứng, không phải thành ngữ đối. Nghĩa của chúng không hình thành từ sự đối kết nội tại giữa hai vế mà bắt nguồn từ các điển tích hoặc sự kiện ngoại tại (bới lông tìm vết dịch từ xuy mao cầu tì; được voi đòi tiên bắt nguồn từ tích bán con giống bột màu ở Bắc Trung Bộ; lá thắm chỉ hồng dịch từ tích hồng diệp xích thừng).
  • Quy luật ngữ âm và nhịp điệu: Thành ngữ tiếng Việt mang tính âm tiết tính cao, vận hành theo nhịp đôi (2/2). Luận án dẫn lại các số liệu thống kê ngữ âm:
Nhà nghiên cứu Ngữ liệu khảo sát Dạng đối bằng trắc Tỷ lệ (%) Ví dụ tiêu biểu
Đái Khắc Việt (1981) Vốn thành ngữ 4 âm tiết (hơn 70% tuân theo quy tắc) Bằng bằng / trắc trắc 48% quê cha đất tổ
Đái Khắc Việt (1981) Vốn thành ngữ 4 âm tiết Trắc trắc / bằng bằng 12% gạn đục khơi trong
Đái Khắc Việt (1981) Vốn thành ngữ 4 âm tiết Trắc bằng / bằng trắc 6% mặt chai mày đá
Đái Khắc Việt (1981) Vốn thành ngữ 4 âm tiết Bằng trắc / trắc bằng 4% xôi hỏng bỏng không
Hoàng Tất Thắng (1992) Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên (Đối hoàn toàn) Bằng bằng / trắc trắc 20% lều tranh / mái cỏ
Hoàng Tất Thắng (1992) Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên (Đối hoàn toàn) Trắc trắc / bằng bằng 18% đá nổi / vông chìm
Hoàng Tất Thắng (1992) Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên (Đối hoàn toàn) Bằng trắc / trắc bằng 6% tham việc / tiếc công
Hoàng Tất Thắng (1992) Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên (Đối hoàn toàn) Trắc bằng / bằng trắc 5% muối chua / chanh mặn
Hoàng Tất Thắng (1992) Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên (Đối bộ phận) Trắc trắc / trắc bằng 11% nệm gấm / chiếu hoa
Hoàng Tất Thắng (1992) Ca dao, dân ca Bình Trị Thiên (Đối bộ phận) Trắc trắc / bằng trắc 11% cuốc đất / đào đá

Chương III: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt

Chương III đi sâu vào cơ chế tạo nghĩa và các tầng ngữ nghĩa của thành ngữ:

  • Cơ trình tạo nghĩa: Miêu tả quá trình cố định hóa và từ vựng hóa từ các cấu trúc cú pháp (cụm từ tự do hoặc câu hoàn chỉnh) chuyển sang thành ngữ thông qua các thao tác ẩn dụ hóa, chuyên biệt hóa và khái quát hóa ý nghĩa.
  • Hiện tượng đa nghĩa: Phân tích các con đường hình thành nghĩa phái sinh và các kiểu tổ hợp nghĩa. Luận án chỉ ra rằng trong thành ngữ tiếng Việt, các nét nghĩa khác nhau trong một đơn vị có thể không nương tựa trực tiếp vào nhau mà cùng tồn tại song hành do cộng đồng khai thác từ nhiều góc độ nhận thức dân gian.
  • Dấu ấn văn hóa - dân tộc học: Ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt phản ánh trực tiếp đời sống nông nghiệp lúa nước (cày sâu cuốc bẫm, chân lấm tay bùn, đồng chua nước mặn, liệu cơm gắp mắm), các sự kiện lịch sử (con rồng cháu tiên, nợ như chúa Chổm, vắng như chùa Bà Đanh) và triết lý, đạo lý ứng xử dân gian (lệnh ông không bằng cống bà, nồi da xáo thịt, rước voi giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án mang lại những đóng góp cụ thể:

  • Xác lập một hệ thống tiêu chí rõ ràng để phân định ranh giới giữa thành ngữ với cụm từ tự do, từ ghép, quán ngữ và tục ngữ, khắc phục những cách hiểu mơ hồ trước đó.
  • Đưa ra quan niệm mới về "đơn vị hai mặt" để giải quyết thỏa đáng vùng giáp ranh giữa thành ngữ và tục ngữ trong ngôn ngữ - văn hóa dân gian.
  • Xác định bản chất cốt lõi của thành ngữ đối là sự đối ứng ngữ nghĩa (đối kết và tương phản) giữa hai vế; qua đó bác bỏ việc công nhận các lớp "thành ngữ đối chính phụ" vốn chỉ mang hình thức đối ngẫu nhiên.
  • Xây dựng mô hình miêu tả thành ngữ tiếng Việt như một chỉnh thể cấu trúc hình thái - ngữ nghĩa tích hợp cả quy luật nội tại của ngôn ngữ và nhân tố văn hóa ngoại tại.

Về mặt thực tiễn, luận án đề xuất các định hướng ứng dụng:

  • Cung cấp cơ sở khoa học cho công tác biên soạn từ điển thành ngữ: từ khâu xử lý và xây dựng bảng từ mục (loại bỏ sự nhầm lẫn giữa thành ngữ với từ ghép, quán ngữ, tục ngữ) đến kỹ thuật và nội dung định nghĩa mục từ.
  • Phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy, học tập thành ngữ và tiếng Việt trong hệ thống nhà trường cũng như chuẩn hóa cách sử dụng thành ngữ trong đời sống xã hội.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án giới hạn phạm vi khảo sát trong nội bộ tiếng Việt (gồm thành ngữ thuần Việt và thành ngữ gốc Hán đã nhập hệ), chưa mở rộng so sánh đối chiếu thành ngữ tiếng Việt với thành ngữ của các ngôn ngữ dân tộc khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối chiếu hệ thống thành ngữ tiếng Việt với thành ngữ của các ngôn ngữ trong khu vực và trên thế giới nhằm làm rõ hơn các hằng số văn hóa và đặc trưng loại hình ngôn ngữ.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Ngôn ngữ học: Tham khảo khung phân tích cấu trúc - ngữ nghĩa và phương pháp xử lý ranh giới các đơn vị từ vựng cố định.
  • Nhà biên soạn từ điển học: Sử dụng các tiêu chí phân loại của Chương I và Chương II để xác lập bảng từ mục chuẩn xác cho các cuốn từ điển thành ngữ, tục ngữ.
  • Giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Ứng dụng nguồn ngữ liệu ngữ cảnh thực tế và các phân tích cấu trúc nhịp đôi, luật bằng trắc để giảng dạy học phần Từ vựng học và Phong cách học tiếng Việt.

Câu hỏi thường gặp

1. Thành ngữ đối chiếm vị trí như thế nào trong hệ thống thành ngữ tiếng Việt theo khảo sát của luận án? Thành ngữ đối chiếm tỷ lệ cao nhất trong vốn thành ngữ tiếng Việt (trên 50%). Khảo sát 2.846 mục từ trong cuốn Thành ngữ tiếng Việt của Nguyễn Lực và Lương Văn Đang (1978) cho thấy có 1.475 mục từ là thành ngữ đối.

2. Tại sao luận án bác bỏ việc xếp các đơn vị như bới lông tìm vết hay được voi đòi tiên vào nhóm thành ngữ đối? Bởi vì bản chất của thành ngữ đối đòi hỏi nghĩa của toàn đơn vị phải được hình thành từ sự đối kết hoặc tương phản ngữ nghĩa giữa hai vế. Các đơn vị như bới lông tìm vết (dịch từ thành ngữ Hán xuy mao cầu tì) hay được voi đòi tiên (bắt nguồn từ câu chuyện con giống bột màu) được tạo nghĩa dựa trên các sự kiện, điển tích ngoài ngôn ngữ; bản thân nghĩa tự thân của các thành tố không chung hợp tạo nên nghĩa của thành ngữ, do đó chúng chỉ là thành ngữ thường ngẫu nhiên có hình thức đối.

3. Luận án dựa vào tiêu chí nào để phân biệt dứt khoát giữa quán ngữ và thành ngữ? Luận án dựa vào tiêu chí chức năng: Quán ngữ không có chức năng định danh mà chỉ giữ chức năng đưa đẩy, rào đón, liên kết hoặc nhấn mạnh trong diễn từ (của đáng tội, nói khí không phải, cực chẳng đã). Thành ngữ là đơn vị có chức năng định danh, dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất (đầu voi đuôi chuột, mẹ tròn con vuông).

4. Khái niệm "đơn vị hai mặt" được tác giả luận giải như thế nào đối với các trường hợp giáp ranh giữa thành ngữ và tục ngữ? Do thành ngữ và tục ngữ là các đơn vị ngôn ngữ - văn hóa dân gian chấp nhận tính dị bản, một số cụm từ cố định trong quá trình sử dụng được cộng đồng chấp nhận đồng thời cả hai cách khai thác nghĩa: vừa dùng như tục ngữ nhằm biểu thị một quy luật, kinh nghiệm (móng mày thì hay hạt), vừa dùng như thành ngữ nhằm định danh một nét tính chất, đặc điểm cụ thể (vừa móng mày vừa hay hạt).

Kết luận

Luận án của tác giả Nguyễn Công Đức đã giải quyết một cách có hệ thống bình diện cấu trúc hình thái và ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt trên cơ sở khảo sát nguồn ngữ liệu thực tế phong phú. Bằng việc kết hợp phương pháp phân tích thành tố và phân tích ngữ cảnh trong môi trường nội tại và ngoại tại, luận án đã xác lập rõ ràng ranh giới của thành ngữ với các đơn vị từ vựng lân cận và làm sáng tỏ bản chất của thành ngữ đối. Công trình đóng góp những luận điểm có giá trị cho lý luận từ vựng học tiếng Việt, đồng thời mang lại định hướng ứng dụng thiết thực cho công tác biên soạn từ điển và giảng dạy ngôn ngữ.