MỞ ĐẦU |. Trong vốn từ tiếng Việt, bên cạnh các từ đơn như đất, nước, xe, mẹ, cha,. và các từ ghép như đất nước, gia đình, quê hương,. còn có những chỉnh thể về cấu trúc ngữ nghĩa được dùng trong chức năng 1u từ học, biếu đạt một hiện tượng, một khái niệm riêng lẻ như con râng cháu tiên, đa nghỉ như tào tháo, cưỡi ngựa xem họa, mẹ tròn con vuông, ‘no chạy xa bay,.
Các nhà nghiên cứu qucn gọi tổ hợp loại này là thành ngữ. Ở ngôn ngữ nào cũng vậy, với tư cách là một đơn vị của ngôn ngữ, thành ngữ là phương tiện diễn đạt có giá trị biểu cảm độc đáo mà Ỏ các từ thông thường không thể nào có được. Giá trị diễn đạt đặc trưng của thành ngữ là tính hình ảnh hay tính gợi tả, tính súc tích, cô đọng, cho phép tạo ra các phát ngôn hay những bài nói, bài viết sinh động, hấp dẫn, thấm thía, có sức thuyết phục lớn, Chẳng hạn, để diễn đạt ý về sự phần bội Tổ quốc, Chủ tịch Hổ Chí Minh đã không dùng từ phần quốc, phan động, phần bội mà dùng các thành gữ cống rấn cần gà nhà, rước voi giày mã tổ, ví dụ : “Tôi biết rằng các nw “ người đều là con dân nước Việt Nam, song vì bị Pháp bắt buộc, bị chúng lửa gạt, cho nên đi lính cho chứng, chứ thật không ai muốn cống rắn cắn gà nhà, say + A“ rr ~“ 2 tAZ ` co ” rước voi gidy ma tổ chống lại Tổ quốc để mang Hệng Việt gian” (Tuyến tập). Việc dùng các thành ngữ nói trên đã làm cho ý tứ câu nói trở nên sầu sắc hơn, thấm thía hơn, Nó vừa chỉ rõ tính nghiêm trọng của tội phần quốc vừa thể hiện sự cảm thông, nhắc nhở.
2 na ae ` ~ 1S tA 2 2 : 4 :. Có thể nói thành ngữ là phương tiện phần ánh đắc dụng trong văn phòng nghệ thuật và văn phong chính luận, và còn thể 'hiện trí thông minh, sự tài hoa, chỗ thân tình và cởi mở của văn phong hội thoai trong đời sống thường ` ` ^“ tA 2 £ NT TS ở , + ` 1A ngày. Vì thê, việc hiểu đúng và biết cách dùng đúng thành ngữ là một nhụ cầu tự nhiên của người Việt Nam, Bên cạnh những đặc điểm chung nhu cic 6 đơn vị từ vựng khác, thì thành ngữ lại có những nói riêng có tính đặc thủ vệ cấu tạo và ngữ nghĩa, máng nặng những dấu ấn về văn hoá và tư duy dân lộc “bên trong nó Ẩn tầng, lấp lánh những đặc điểm độc đáo của một nỀn văn hóa, văn mính, phép đối nhần xử thế, đạo lý, thẩm mìỹ.,của mỗi dân tộc. Cho nên muốn hiểu được ý nghĩa, nắm vững được cách dùng thành ngữ nhải tìn hiểu, học hỏi công phu trong sách và trong đời sống.
Chính vì vậy mà, một công trình nghiên cư đây đủ các mặt cấu tạo, ngữ nghĩa và các đặc trưng văn hóa Hiểm Ấn trong thành ngữ trở nên cấp thiết, có ý nghĩa H luận và thực tiễn. Đấy cũng chính là lý do mà chúng tôi chọn thành ngữ tiếng Việt làm đê tài nghiên cứu của hiận ấn, Kết quả của nghiên cưú, trước hệt, sẽ làm sáng rõ những đặc trưng về hình thức và nội dung ngữ nghĩa của các đơn vị thành ngữ tiếng Việt, Đồng thời, góp phần quan trong trong việc xúc định cướng vị, đặc điểm các đơn vị khác nhau trong hệ thống từ vựng, bao gầm cả bản thân thành ngữ cũng như các đơn vị lần cận như từ ghép, quấn ngữ, tạc ngữ. Cùng với đó, có thể coi đây là một bước đi trong vide pdi md những định hướng nhất định cho các nhà biên soạn từ điển thành ngữ từ những khâu đầu tiên xác định bảng từ - xưởng sống của mội cuốn tự điển - đến các cách thức, nội dung định nghĩa các mục từ. Tất cả những giá trị về lí luận và thực tiễn, như đã trình bầy, cuối cùng sẽ góp phần đắc lực vào việc giảng dạy, học tập thành ngữ nói riêng và tiếng Việt nói chung ở trong nhà trường cũng nhữ trong đời sống xã hội, 2.
Chọn các đơn vị thành ngữ tiếng Việt lầm đối tượng nghiên cứu, chúng tôi xuất phái từ cách nhìn như sau ¿ Thứ nhất, thành ngữ được chúng tôi tách ra khói các đơn vị từ vựng khúc với tự cách là một kết cấu đa thành tố, ổn định về mặt cấu trúc, có chức aanng định đanh, có tính gợi tả bóng bẩy, tiểm ấn những dấu ấn văn hóa đân tộc. Như vậy đối tượng thành ngữ tiếng Việt để khảo sát trong luận án của chúng tôi trước hối là các thành ngữ Việt (Giấy đuyần ViệU. Thứ hai, đối với các thành ngữ gốc ngoại, mà chủ yếu là các thành ngữ gốc Hấn, chúng tôi cho rằng, cũng như bất cứ một đơn vị ngôn ngữ du nhập nào khác, thành ngữ nước ngoài nói chung va thành ngữ gốc Hán nói riêng khi nhập vào tiếng Việt đều phải trải qua một quá trình đẳng hóa. Hệ quả của quá trình này dẫn đến sự nhập hệ của các thành ngữ nước ngoài vào tiếng Việt.
Các thành ngữ gốc Hán du nhập vào hệ thống thành ngữ tiếng Việt có thé vẫn giữ nguyên dạng gốc hoặc được thay đổi với những niức độ khác nhan, Đi theo hướng thứ nhất, phần lÍn thành ngữ tiếng Hán, khi vào hệ thống thành ngữ tHếng Việt vẫn không hệ thay đổi yếu tổ não, Ví dụ: +. — “Án cư lạc nghiệp Au ban lạc đạo Yểu điệu thanh tần \ Không tiên khoáng hậu I — Điệu hổ H sơn Cũng thco hướng này, một số thành ngữ lần nhập vào tiếng ViỆt từ cúc phương ngôn Hần ngữ, ví như thành ngữ xập xí xập ngấu (thập tí tiập ngũ) dược nhập vào tiếng Việt qua phương ngôn Quảng Đông. Một số thành ngữ Hần khác khi gia nhập vào hệ thống thành ngữ tiếng /iệt có những thay đổi nhất định, Sự thay đổi lđu nhất là được dịch hoàn toàn, ví như nghiêng nước nghiêng thành dịch từ khuynh quốc khuynh thành, còn gương vỡ lại lành dịch từ phá kính {rùng viên,. Ũ bộ phận này, chúng ta vẫn thấy sự tốn tại song song cả dạng dịch lẫn đạng gốc, lệ như trong tiếng Việt vừa có không đội trời chúng vừa có bất cộng đái thiên, vừa có trước sau như một lại vừa có thủy chung như nhất,.
Một số thành nett % Hán, khi vào tiếng Việt, vừa được dich ý, vừa có những sự thay đổi mỘI tron những yếu tố cấu tạo (những không lầm thay đổi nghĩa của cả thành ngũ chẳng hạn xuy mao cầu Ð (hối lông Bui vếu được địch thành bởi lông Oh vết, Ở đây, yếu tố xuy (thổi) khi dịch ra tiếng Việt được thay bằng yếu tố bớ gợi lên những Hên tưởng đến các sự kiện ngôn ngữ “bới bèo ra bọ”, “bị tIóC”,. Với một khối hướng lớn thành ngữ như vậy vừa phong phú về nguồn gô vừa đa dạng về cấu trúc, vừa phức tạp về nội dung ngữ nghĩa, tai Hoh ho: trong sử dụng, chúng tôi chọn một giải pháp thỏa dang theo muc dich nghic cứu là : đại thành ngữ trong sự liên đới với các đơn vị lần can nhằm xác địn cương vị của thành ngữ cũng như các đơn vị ấy trong hệ thống từ vựng tiến Việt nói chung, Thực chất của công việc này là dm những tiêu chí cần và đ khả dĩ có thể lâm rõ ranh giới giữa thành ngữ với một bên lÀ cụm từ af doy một hên khác là các loại cạm lừ cô định như từ ghép, quấn ngữ, (ục nợi Công việc tiếp theo là phần chia và miễu tẢ đặc điểm cấu trúc ngữ nghĩa củ thành ngữ tiếng Việt, trong đó tập trung fứn hiển cơ trình tạo nghĩa, các kiể tổ hợp nghĩa, những con đường hình thành hiện tượng đa nghĩa trong thần ngữ tiếng Việt Từ góc độ các phạm vi nghiên cut, luda ấn, ngoài phan m dau và kếi luận ra, được bố trí thành ba chương nhu sau : ~ Chương L ; Những giới thuyết về thành ngữ tiếng Việt, ~ Chương HỆ ; Đặc điểm cấu trúc - hình thái của thành ngữ tiếng Việt, — Chương EH ; Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, 4, Trong các công trình Việt ngữ học, do đặc trưng nổi bật và khá lí diú cú thành ngữ, các nhà nghiên cuit khong thể bỏ qua đối tượng nghiên cud nas Tuy nhiên, với những điều kiện khác nhau, mục đích khác nhau, thành ng được xem xét, luận giải theo các phương thức và mức độ khác nhau, Có thế nói, so với một số đối tượng khác, thành ngữ tiếng Việt được caú ý nghiên cưú khá đều ở các bình điện như ngữ âm, ngữ pháp, tỲ vựng - ngữ nghĩa và tu từ học. Trước hết, khi nghiên cưú các đơn vị từ vựng tiếng Việt, thành ngữ thường được đặt trong một cương vị nhất định, thoo đó có thể phần định bấn thân nó với các đơn vị khác như từ ghép, quần ngữ, tục ngữ, Đi tco hướng này, chúng-ta nhận thấy, thành ngữ được nghiên cướ hầu hết ở các chuyên hiện về từ vựng học, ngữ pháp học hoặc được tách riêng ra thành các bài nghiên cud vé vấn để ranh giới giữa các đơn vị từ vựng, nÏuf Ở các công trình của Nguyễn Văn Tú (1960, 1968, 1976), ĐỖ Hữu Châu (1962, 1981, 1986}, Nguyễn Kim Thần (1963), Củ Đình Tủ (1973, 1982), Nguyễn Văn Méuh (1972, 1986), Nguyễn Thiện Giáp (1975, 1985), Hồ Lô (1976), Dai Xudin Ninh (1976), Trương Đông Sạn (1976),. Một số tác giả khác thì lại tách riêng một vài loại thành ngữ ra để nghiên Cư các mat cau trúc - hình thái và đặc điểm ngữ nghĩa của chúng.
Thco hướng này, chúng 1a thấy Trưởng Đồng San (L9TÁ), Hoàng Văn Hành (19170) lập trung nghiên cưú thành ngữ so sánh, trong khi đài Khắc Việt (1981) và các tác giả cuốn “KẾ chuyện thành ngữ tục ngữ” (1994) lập trung niều. tả cả thành ngữ đối lấn thành ngữ so sánh, Phong phú hơa cá là việc nghiên cưi các mi riêng rẽ của thành ngữ tiếng Việt như nguồn gốc hình thành và phát triển thành ngữ, các vấn để ngữ nghĩa của thành ngữ, các bình diện văn hóa của thành ngữ, biến thế của thành ngữ, phương pháp nghiên cưú thành ngữ,. Có thể gặp các công trình nghiên cuủ theo hướng này của các tác giả Hài Khác Việt (1978), Nguyễn Đức Địún (1986), Phan Xudn hành (1990, 1992, 1993), Vũ Quang Hào (1992), Phúan Văn Hoàn (1992), Như Ý (1993), Nguyễn Văn Khang (1994), Nguyễn Công Đức (1994), Nguyễn Xuân Hóa (1995) .