Tổng quan luận án
Công trình Đóng góp của văn xuôi Tự lực văn đoàn từ góc nhìn thể loại là luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam (mã số: 62 22 01 21), được tác giả Hồ Thị Xuân Quỳnh thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Bùi Thanh Truyền và TS. Nguyễn Lâm Điền, bảo vệ năm 2023.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Tự lực văn đoàn là một hiện tượng văn học xuất hiện trong bối cảnh xã hội Việt Nam có nhiều biến động lịch sử vào nửa đầu thế kỷ XX. Trải qua gần một thế kỷ, việc đánh giá vai trò của tổ chức văn phái này luôn có những thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử và khuynh hướng phê bình. Trước năm 1975, giới nghiên cứu ở miền Bắc và miền Nam có cách tiếp cận khác biệt: miền Bắc tập trung đánh giá nội dung tư tưởng và lập trường giai cấp, trong khi miền Nam chú trọng nhiều hơn đến giá trị nghệ thuật và đổi mới hình thức. Sau năm 1975, đặc biệt từ thời kỳ Đổi mới (1986) đến nay, giới nghiên cứu đã có điều kiện nhìn nhận Tự lực văn đoàn một cách khách quan, toàn diện và khoa học hơn.
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu, hội thảo và bài viết từ trước đến nay chủ yếu tiếp cận Tự lực văn đoàn ở tầm vĩ mô hoặc đi sâu vào từng tác giả, tác phẩm cụ thể, thiên lệch về thể loại tiểu thuyết và giá trị nội dung tư tưởng. Khoảng trống nghiên cứu lớn mà văn học sử hiện đại còn thiếu là một công trình khảo sát có tính hệ thống, chuyên sâu và bao quát về toàn bộ các thể loại thuộc cả hai loại hình: văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu. Luận án được thực hiện nhằm giải quyết trực tiếp khoảng trống này từ góc nhìn thể loại học.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Tìm hiểu và vận dụng lý thuyết loại hình vào việc triển khai những sáng tác của Tự lực văn đoàn nhằm làm rõ những thành tựu trong sáng tạo nghệ thuật của tổ chức văn phái này ở các thể loại văn xuôi hư cấu và phi hư cấu.
- Chỉ ra những điểm mới mẻ của Tự lực văn đoàn trong việc đổi mới, phát triển các thể loại văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu cho nền văn học Việt Nam hiện đại.
- Xác lập một cách hệ thống, cụ thể hơn về vai trò, vị trí của Tự lực văn đoàn trong công cuộc hiện đại hóa nền văn học Việt Nam hiện đại, rút ngắn khoảng cách và biên độ chênh lệch, nâng nền văn học Việt Nam hiện đại lên ngang tầm của các nền văn học thuộc các nước trong khu vực và trên thế giới; từ đó góp phần bổ sung những kiến giải, luận giải về Tự lực văn đoàn cho các công trình văn học sử Việt Nam hiện đại.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Văn xuôi Tự lực văn đoàn, tập trung vào những tác phẩm tiêu biểu hoặc nổi bật đánh dấu sự cách tân trong tư duy nghệ thuật của các nhà văn thuộc văn phái, được giới nghiên cứu và người đọc qua các thời kỳ ghi nhận.
- Phạm vi tác giả: Luận án giới hạn khảo sát ở các tác phẩm văn xuôi của nhóm 7 thành viên cốt cán ("thất tinh") gồm: Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu.
- Phạm vi thời gian và văn bản: Khảo sát các tác phẩm văn xuôi hư cấu (tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn) và văn xuôi phi hư cấu (phóng sự, tùy bút, bút ký, ký sự, tạp văn, tiểu phẩm, tiểu luận phê bình...) được sáng tác và xuất bản trong giai đoạn các tác giả là thành viên chính thức của Tự lực văn đoàn (1932 - 1945). Các tác phẩm viết trước khi thành lập hoặc sau khi nhóm tự giải thể không thuộc phạm vi khảo sát chính.
- Phạm vi mở rộng: Luận án khảo sát liên hệ tới sự ảnh hưởng của văn xuôi Tự lực văn đoàn đối với các tác giả ngoài nhóm cùng khuynh hướng lãng mạn (Nguyễn Tuân, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh) và khác khuynh hướng như hiện thực phê phán (Nguyên Hồng, Nam Cao).
- Quy mô văn bản: Toàn bộ luận án gồm 209 trang, trong đó phần chính văn chiếm 193 trang.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng thuật và hệ thống hóa lịch sử nghiên cứu văn xuôi Tự lực văn đoàn qua ba giai đoạn phát triển chính của lịch sử văn học:
1. Giai đoạn 1933 - 1945
Ngay từ khi xuất hiện, văn xuôi Tự lực văn đoàn đã thu hút sự chú ý của giới phê bình đương thời. Nhiều bài viết của Trương Tửu, Đức Phiên, Nguyễn Văn Thanh, T.V, Trần Thanh Mại, Mai Xuân Nhàn, Hà Văn Tiếp, Nguyễn Lương Ngọc trên các báo và tạp chí như Loa, Tràng An, Tin văn, Ngày Nay, Sông Hương, Tinh hoa đã ghi nhận sự đổi mới của nhóm. Các công trình học thuật xuất bản trong giai đoạn này bao gồm:
- Dưới mắt tôi (Trương Chính).
- Ba mươi năm văn học và Cuốn sổ văn học (Kiều Thanh Quế).
- Việt Nam văn học sử yếu (Dương Quảng Hàm).
- Nhà văn hiện đại (Vũ Ngọc Phan).
Các công trình trong thời kỳ này chủ yếu dừng lại ở việc điểm diện tác giả, tác phẩm đơn lẻ, mang tính trực cảm, chưa khảo sát toàn diện và hệ thống dưới góc độ thể loại.
2. Giai đoạn 1945 - 1975
- Tại miền Bắc: Sau bài phát biểu của Trường Chinh tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ 2 (24/02/1957), xuất hiện các bài viết của Nguyễn Đức Đàn, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc. Tiếp cận nghiên cứu giai đoạn này chủ yếu dựa trên hệ hình xã hội học và quan điểm giai cấp, tập trung vào nội dung tư tưởng và có phần dè dặt về mặt nghệ thuật. Đóng góp nghệ thuật của văn xuôi lãng mạn chỉ được phân tích ở một số công trình như: Văn học Việt Nam 1930 - 1945 (tập 1, Bạch Năng Thi), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (tập 1, Phan Cự Đệ), và phần mở đầu Hợp tuyển thơ văn Việt Nam 1930 - 1945 (tập V, nhóm tác giả Nguyễn Trác, Nguyễn Đức Đàn, Phan Cự Đệ).
- Tại miền Nam: Nghiên cứu phát triển đa dạng theo các hệ hình xã hội học, triết - mỹ và tâm lý học văn học với các công trình chuyên khảo: Tự lực văn đoàn (Doãn Quốc Sỹ, 1961), Luận đề về Tự lực văn đoàn (Nguyễn Duy Diễn và Bằng Phong, 1967), Luận đề về Tự lực văn đoàn (Ninh Văn và Xuân Tước, 1974), Tiểu thuyết hiện đại (Tràng Thiên, 1963), Văn học Việt Nam thế kỷ XIX tiền bán thế kỷ XX 1800 - 1945 (Vũ Hân, 1967), Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết và Lược khảo tiểu thuyết (Nguyễn Văn Trung, 1961), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (Bùi Xuân Bào, 1972), Văn học và tiểu thuyết (Doãn Quốc Sỹ, 1973), Lược sử văn nghệ Việt Nam (Nhà văn tiền chiến 1930 - 1945) (Thế Phong, 1974). Về văn học sử có Việt Nam văn học sử - giản ước tân biên (tập 3, Phạm Thế Ngũ, 1965) và Bảng lược đồ văn học Việt Nam (quyển hạ, Thanh Lãng, 1967), cùng nhiều bài viết trên các tạp chí Bách khoa, Thời nay, Giao điểm, Văn, Văn học, Tin sách, Phổ thông.
3. Giai đoạn từ 1975 đến nay
Sau năm 1975, cuốn Lịch sử văn học Việt Nam (tập V, phần A, Huỳnh Lý chủ biên, 1978) đã dành 37 trang (do Hoàng Dung viết) để phân tích tiểu thuyết Tự lực văn đoàn. Sau Đổi mới 1986, việc nghiên cứu có bước chuyển biến lớn với 3 cuộc hội thảo khoa học:
- Hội thảo về văn chương Tự lực văn đoàn do Khoa Ngữ văn Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và NXB Đại học tổ chức (1989).
- Hội thảo kỷ niệm 80 năm Thơ mới và Tự lực văn đoàn tại Trường Đại học Sư phạm TP.HCM (2013).
- Triển lãm và Hội thảo về báo Phong Hóa - Ngày Nay và Tự lực văn đoàn tại Little Saigon, California (2013).
Các công trình chuyên khảo tiêu biểu gồm có: Về Tự lực văn đoàn (Nguyễn Trác, Đái Xuân Ninh, 1989), Tự lực văn đoàn, con người và văn chương (Phan Cự Đệ, 2001), Vấn đề chủ nghĩa lãng mạn trong văn học Việt Nam (Lê Đình Kỵ, 1999), loạt khảo cứu của Vũ Gia (Khái Hưng nhà tiểu thuyết, 1993; Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hóa, 1995; Hoàng Đạo nhà báo - nhà văn, 1997; Khái Hưng người đổi mới văn chương, 2011), và giáo trình Lịch sử văn học Việt Nam 1930 - 1945 (Nguyễn Đăng Mạnh, 1999).
| Giai đoạn lịch sử |
Xu hướng và hệ hình tiếp cận chính |
Các công trình và tác giả tiêu biểu |
| 1933 - 1945 |
Điểm diện tác giả, tác phẩm đương thời; phê bình báo chí trực cảm |
Trương Chính, Kiều Thanh Quế, Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan; báo Loa, Ngày Nay, Tràng An |
| 1945 - 1975 (Miền Bắc) |
Hệ hình xã hội học, quan điểm giai cấp; tập trung nội dung tư tưởng |
Trường Chinh, Bạch Năng Thi, Phan Cự Đệ, Nguyễn Đức Đàn, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc |
| 1945 - 1975 (Miền Nam) |
Hệ hình triết - mỹ, tâm lý học; đánh giá cao đóng góp nghệ thuật tiểu thuyết |
Doãn Quốc Sỹ, Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Nguyễn Văn Trung, Bùi Xuân Bào, Bằng Phong, Vũ Hân |
| 1975 đến nay |
Vận dụng lý thuyết hiện đại (thi pháp học, tự sự học); đánh giá lịch sử khách quan |
Huỳnh Lý, Hoàng Dung, Lê Đình Kỵ, Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Vũ Gia; các hội thảo 1989, 2013 |
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù số lượng công trình nghiên cứu về Tự lực văn đoàn rất lớn, đa số các tài liệu vẫn tập trung vào thể loại tiểu thuyết và phương diện nội dung. Luận án của Hồ Thị Xuân Quỳnh lựa chọn giải quyết khoảng trống về việc nghiên cứu đối chiếu, hệ thống hóa và phân tích thi pháp của toàn bộ hai nhóm thể loại: văn xuôi tự sự hư cấu (tiểu thuyết, truyện ngắn) và văn xuôi tự sự phi hư cấu (ký, tùy bút, tiểu luận, tạp văn, tiểu phẩm) trong mối liên hệ với tiến trình hiện đại hóa văn học dân tộc.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
1. Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
- Lý thuyết chuyên ngành: Thi pháp học, Tự sự học, Cấu trúc luận và Ký hiệu học.
- Lý thuyết liên ngành: Mỹ học, Tâm lý học, Sử học, Xã hội học, Triết học và Ngôn ngữ học.
- Khái niệm văn xuôi nghệ thuật: Luận án phân định văn xuôi nghệ thuật với văn xuôi triết học, chính luận và khoa học. Nếu các loại văn xuôi phi nghệ thuật dựa trên tư duy logic thì văn xuôi nghệ thuật là sản phẩm của tư duy hình tượng, trong đó ngôn ngữ được tinh luyện qua thao tác "thôi - xao" nghệ thuật của nhà văn.
- Phân loại hai nhóm thể loại:
- Nhóm văn xuôi hư cấu: Bao gồm tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn; được sáng tạo thông qua tưởng tượng và hư cấu nghệ thuật nhằm xây dựng thế giới hình tượng.
- Nhóm văn xuôi phi hư cấu: Bao gồm ký sự, phóng sự, tùy bút, bút ký, hồi ký, du ký, nhật ký, tạp văn, tiểu phẩm và tiểu luận phê bình; lấy con người thực và sự kiện thực trong đời sống làm đối tượng phản ánh trực tiếp, đảm bảo tính xác thực kết hợp với giá trị thẩm mỹ.
- Tính tương đối của sự phân chia: Luận án khẳng định ranh giới giữa hai nhóm thể loại mang tính quy ước loại hình; trong thực tiễn sáng tác luôn có sự giao thoa, tương tác và hỗn nhập giữa các yếu tố hư cấu và phi hư cấu.
2. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng kết hợp 5 phương pháp nghiên cứu định tính trong nghiên cứu văn học:
- Phương pháp loại hình: Sử dụng để phân loại, khu biệt đặc trưng thi pháp của từng nhóm thể loại hư cấu và phi hư cấu, từ đó xác lập sự vận động của các tiểu thể loại.
- Phương pháp thống kê: Khảo sát, thống kê các đơn vị tác phẩm, thể loại, bài viết trên báo chí (Phong Hóa, Ngày Nay) và các ấn bản sách của Nhà xuất bản Đời nay.
- Phương pháp so sánh: So sánh đối chiếu văn xuôi Tự lực văn đoàn với văn xuôi trung đại, văn xuôi giai đoạn giao thời (đầu thế kỷ XX đến 1932), cũng như đối sánh giữa các tác giả trong và ngoài văn đoàn.
- Phương pháp hệ thống: Đặt các hiện tượng văn xuôi trong chỉnh thể cấu trúc của tổ chức văn phái và tiến trình vận động của văn học Việt Nam hiện đại giai đoạn 1930 - 1945.
- Phương pháp xã hội học: Xem xét mối quan hệ giữa hoạt động sáng tác của Tự lực văn đoàn với sự thay đổi của cơ cấu xã hội, tầng lớp công chúng thị dân và thị hiếu thẩm mỹ mới.
3. Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu khảo sát bao gồm toàn bộ tác phẩm văn xuôi của 7 thành viên Tự lực văn đoàn in trên báo Phong Hóa (1932 - 1936), Ngày Nay (1935 - 1940), các ấn phẩm do Nhà xuất bản Đời nay ấn hành (bao gồm các bộ sách Lá mạ, Sách hồng), cùng hệ thống giáo trình, chuyên luận văn học sử và kỷ yếu các hội thảo khoa học liên quan từ năm 1933 đến năm 2023.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tình hình nghiên cứu văn xuôi Tự lực văn đoàn và hướng tiếp cận đề tài
Chương 1 trình bày chi tiết lịch sử nghiên cứu Tự lực văn đoàn qua ba giai đoạn lịch sử (1933 - 1945; 1945 - 1975 ở hai miền Nam - Bắc; 1975 đến nay), đồng thời xác lập hai hướng tiếp cận chính của luận án:
- Tiếp cận từ góc độ văn học sử: Khảo sát sự vận động của thể loại qua ba giai đoạn phát triển của Tự lực văn đoàn:
- Giai đoạn khởi đầu (1933 - 1935): Mở đầu sự cách tân thể loại với các tiểu thuyết Hồn bướm mơ tiên (1933), Nửa chừng xuân (1934) của Khái Hưng, Đoạn tuyệt (1934) của Nhất Linh cùng các bài văn xuôi phi hư cấu trên báo Phong Hóa.
- Giai đoạn nhập cuộc (1936 - 1939): Giai đoạn phát triển sung mãn nhất dưới tác động của Mặt trận Bình dân Pháp và Mặt trận Dân chủ Đông Dương, đưa văn xuôi bám sát thực tiễn xã hội.
- Giai đoạn phát triển chiều sâu (1939 - 1943): Nâng cao chất lượng thi pháp tiểu thuyết tâm lý với Bướm trắng (1939) của Nhất Linh, Băn khoăn (1942) của Khái Hưng và các tiểu luận văn học nội quan của Thạch Lam, Thế Lữ.
- Tiếp cận từ góc độ chuyên ngành và liên ngành: Kết hợp thi pháp học, tự sự học, ký hiệu học với tâm lý học, mỹ học, xã hội học để đánh giá thi pháp thể loại.
Chương 2: Tổng quan về văn xuôi nghệ thuật Tự lực văn đoàn nhìn từ thể loại
Chương 2 giải quyết các vấn đề lý luận nền tảng và bức tranh toàn cảnh về tổ chức văn đoàn:
- Xác định giới hạn thành viên và tác phẩm: Luận án lựa chọn quan điểm Tự lực văn đoàn gồm 7 thành viên chính thức ("thất tinh": Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ, Xuân Diệu) căn cứ theo ý kiến của Phạm Thế Ngũ, Tú Mỡ và Tuyển tập Tự lực văn đoàn. Tác phẩm khảo sát giới hạn trong thời gian tác giả tham gia nhóm (1932 - 1945).
- Bối cảnh văn hóa và hoạt động của văn đoàn: Sự phân tầng xã hội đầu thế kỷ XX hình thành các giai cấp mới (công nhân, tư sản, tiểu tư sản thành thị) với thị hiếu thẩm mỹ mới. Tự lực văn đoàn vận hành theo 10 điều tôn chỉ rõ ràng, tổ chức các giải thưởng văn chương (1935, 1937, 1939), xuất bản sách bình dân Lá mạ (giá 25 xu), sách thiếu nhi Sách hồng, phát động Phong trào Âu hóa và thành lập Hội Ánh sáng.
- Diện mạo hai nhóm thể loại:
- Văn xuôi hư cấu: Mang tinh thần phản phong quyết liệt, xây dựng hệ thống nhân vật tư tưởng có ý thức cá nhân, đổi mới kết cấu phi chương hồi và hiện đại hóa ngôn ngữ nghệ thuật.
- Văn xuôi phi hư cấu: Số lượng bài viết trên báo chí nhiều hơn hư cấu, phản ánh kịp thời các vấn đề thế sự với tính chân thực cao, kết hợp thông tin báo chí với chất lượng thẩm mỹ.
Chương 3: Đóng góp về thể loại văn xuôi hư cấu của Tự lực văn đoàn
Chương 3 là chương trọng tâm khảo sát thi pháp nhóm thể loại hư cấu trong sự đối sánh với văn xuôi trung đại và văn xuôi giao thời:
- Hiện đại hóa nghệ thuật tiểu thuyết:
- Cốt truyện: Thủ pháp lạ hóa cốt truyện truyền thống. Luận án chỉ ra hai dạng: cốt truyện sự kiện tâm lý (tiêu biểu là Những ngày vui của Khái Hưng) và cốt truyện tâm lý đi sâu vào vi tế nội tâm (tiêu biểu là Bướm trắng của Nhất Linh).
- Nhân vật: Chuyển từ nhân vật hành động/loại hình sang nhân vật tư tưởng gắn liền với ý thức cá nhân, sự nếm trải đời tư và xung đột giữa tư tưởng mới và cũ.
- Kết cấu: Xóa bỏ kết cấu chương hồi; sử dụng kết cấu vòng tròn, kết cấu montage, kết cấu đồng hiện (đan xen), kết cấu đảo ngược và lối kết thúc mở.
- Giọng điệu: Nổi bật với giọng triết luận giàu chất trí tuệ và giọng ôn tồn, điềm đạm thể hiện thái độ khách quan, nhân văn.
- Diễn ngôn: Đổi mới diễn ngôn kể (ngôi thứ ba hàm ẩn, mở đầu ngắn gọn, nhập mạch truyện trực tiếp), diễn ngôn tả (giàu chất thơ, hướng nội) và diễn ngôn đối thoại (thể hiện tính hiển ngôn và hàm ẩn trong giao tiếp).
- Hiện đại hóa nghệ thuật truyện ngắn:
- Cốt truyện: Tỉnh lược, xáo trộn trình tự 5 thành phần truyền thống hoặc dàn truyện theo mạch tâm trạng (truyện ngắn trữ tình của Thạch Lam, truyện ngắn suy tưởng của Xuân Diệu, truyện ngắn kỳ ảo của Thế Lữ).
- Tình huống nghệ thuật: Xác lập 3 dạng tình huống: tình huống tâm lý, tình huống nhận thức và tình huống hành động.
- Nhân vật và chi tiết: Khắc họa nội tâm thay vì diện mạo; kết hợp chi tiết nghệ thuật với biểu tượng nghệ thuật.
- Kết cấu và giọng điệu: Kết cấu vòng tròn, kết cấu đảo ngược, kết cấu truyện lồng truyện; giọng tâm tình và giọng xót xa, thương cảm.
- Đổi mới quan niệm nghệ thuật: Nêu bật quan niệm của Thạch Lam trong lời tựa tập Gió đầu mùa ("Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực...") và quan niệm tiểu thuyết phản ánh chân thực cuộc đời trong Theo dòng.
Chương 4: Đóng góp về thể loại văn xuôi phi hư cấu của Tự lực văn đoàn
Chương 4 phân tích đóng góp của nhóm thể loại phi hư cấu:
- Hiện đại hóa ký tự sự và ký trữ tình:
- Ký tự sự: Tiếp cận người thực, việc thực theo phương thức báo chí hiện đại; kết hợp tự sự, trữ tình và chính luận; đảm bảo tính khách quan và thời sự.
- Ký trữ tình (Tùy bút): Hòa quyện chất cảm xúc với chất trí tuệ; tổ chức văn bản theo mạch suy tưởng; xây dựng biểu tượng nghệ thuật và sử dụng thủ pháp so sánh bằng hình ảnh cảm giác (tiêu biểu ở Thạch Lam và Xuân Diệu).
- Hiện đại hóa các thể loại khác:
- Tiểu luận phê bình: Thạch Lam xác lập phê bình nội quan qua tập Theo dòng; Thế Lữ mở đầu cho việc phê bình tác phẩm văn chương cụ thể.
- Tiểu phẩm và Tạp văn: Hoàng Đạo là cây bút trụ cột với các bài viết giàu tính thời sự, phê phán hủ tục phong kiến và thực trạng xã hội trên báo Phong Hóa, Ngày Nay.
- Đổi mới quan niệm báo chí và hai xu hướng phi hư cấu:
- Quan niệm báo chí: Thạch Lam phân chia báo chí thành 3 loại hình: báo chuyên môn, báo thông tin và báo dư luận.
- Định hình hai xu hướng: Xu hướng phi hư cấu thuần túy (tạp văn, thời luận, tiểu luận) và xu hướng phi hư cấu hỗn nhập (tương tác thể loại theo hướng trữ tình hóa, kịch hóa, ký hóa và giao thoa với chính luận).
- Chuyển đổi tiếp nhận: Độc giả trở thành chủ thể đồng sáng tạo; người viết được chuyên nghiệp hóa nghề văn; giới phê bình chuyển đổi phương pháp xác lập đặc trưng thi pháp thể loại.
Kết quả và những đóng góp mới
1. Đóng góp về mặt lý luận
- Xác lập cơ sở lý luận toàn diện và hệ thống về những đóng góp của Tự lực văn đoàn ở cả hai nhóm thể loại văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu trong tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam.
- Xây dựng hệ thống luận điểm khoa học đánh giá sự đổi mới thi pháp thể loại tự sự (cốt truyện tâm lý, nhân vật tư tưởng, kết cấu phi chương hồi, diễn ngôn đa điểm nhìn, ký trữ tình trí tuệ).
- Khẳng định vai trò quyết định của Tự lực văn đoàn trong bước chuyển đổi mang tính bước ngoặt từ hệ hình văn học trung đại sang hệ hình văn học hiện đại, xác lập tinh thần "Tự do" như một phẩm chất trung tâm của văn xuôi giai đoạn 1932 - 1945.
2. Đóng góp về mặt thực tiễn
- Đóng góp tiếng nói vào phương pháp luận nghiên cứu văn học sử khi tiếp cận và thẩm định một hiện tượng văn học từng diễn ra nhiều tranh luận phức tạp trong lịch sử.
- Cung cấp tư liệu khoa học và khung phân tích thi pháp phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945 tại các trường đại học, cao đẳng và chương trình môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do giới hạn dung lượng của một luận án tiến sĩ và tính chất phong phú của đối tượng nghiên cứu, luận án chỉ tập trung khảo sát các tác phẩm tiêu biểu của 7 tác giả thành viên chính thức trong giai đoạn 1932 - 1945, chưa thể bao quát toàn bộ mọi bài viết, ấn phẩm báo chí và các tác phẩm của các cộng tác viên ngoài nhóm.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát toàn diện đối với các sáng tác của các tác giả ngoài nhóm chịu ảnh hưởng của Tự lực văn đoàn, khảo cứu sâu hơn các chuyên mục báo chí trên Phong Hóa và Ngày Nay, cũng như các hiện tượng giao thoa thể loại phức hợp giữa văn học và báo chí thời kỳ 1930 - 1945.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Thuộc các chuyên ngành Văn học Việt Nam, Lý luận văn học, Văn hóa học; đặc biệt là phần phân tích thi pháp thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn, tùy bút và tiểu luận nội quan ở Chương 3 và Chương 4.
- Giáo viên môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông: Tham khảo phương pháp tiếp cận tác phẩm của Thạch Lam, Khái Hưng, Nhất Linh, Xuân Diệu trong chương trình giảng dạy văn học giai đoạn 1930 - 1945.
- Người nghiên cứu lịch sử báo chí và xuất bản: Tham khảo tư liệu về mô hình xuất bản (Lá mạ, Sách hồng), 10 điều tôn chỉ và quan niệm phân loại báo chí hiện đại của Thạch Lam ở Chương 2 và Chương 4.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án xác định Tự lực văn đoàn gồm bao nhiêu thành viên và tiêu chí lựa chọn là gì?
Luận án lựa chọn quan điểm văn đoàn gồm 7 thành viên ("thất tinh"): Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Tú Mỡ, Thế Lữ và Xuân Diệu. Tiêu chí lựa chọn dựa trên ý kiến của Phạm Thế Ngũ, Tú Mỡ và Lời nói đầu Tuyển tập Tự lực văn đoàn (tập 1), giới hạn ở các tác phẩm được viết và xuất bản khi các tác giả đang sinh hoạt trong tổ chức (1932 - 1945).
2. Quá trình vận động thể loại của Tự lực văn đoàn được chia thành mấy giai đoạn?
Luận án chia quá trình này thành 3 giai đoạn:
- Giai đoạn 1 (1933 - 1935): Giai đoạn khởi đầu đổi mới thể loại (Hồn bướm mơ tiên, Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân và văn xuôi trên báo Phong Hóa).
- Giai đoạn 2 (1936 - 1939): Giai đoạn nhập cuộc, phát triển sung mãn nhất gắn với bối cảnh Mặt trận Dân chủ Đông Dương.
- Giai đoạn 3 (1939 - 1943): Giai đoạn nâng cao chất lượng thi pháp chiều sâu (Bướm trắng, Băn khoăn và các tiểu luận văn học nội quan).
3. Đóng góp nổi bật của Tự lực văn đoàn về thi pháp tiểu thuyết là gì?
Luận án chỉ ra các đóng góp cốt lõi gồm: xây dựng cốt truyện sự kiện tâm lý (Những ngày vui) và cốt truyện tâm lý (Bướm trắng); kiến tạo kiểu nhân vật tư tưởng mang ý thức cá nhân; xóa bỏ kết cấu chương hồi để áp dụng kết cấu vòng tròn, montage, đồng hiện, kết thúc mở; sử dụng giọng triết luận và giọng ôn tồn điềm đạm; đổi mới diễn ngôn kể ngôi thứ ba hàm ẩn.
4. Quan niệm về vai trò của văn chương và báo chí của Thạch Lam được luận án trích xuất như thế nào?
Trong lời tựa Gió đầu mùa, Thạch Lam quan niệm văn chương là "thứ khí giới thanh cao và đắc lực" để vừa tố cáo, thay đổi thế giới giả dối, vừa làm trong sạch và phong phú lòng người. Về báo chí, Thạch Lam là người đầu tiên định danh loại hình báo chí thành 3 dạng: báo chuyên môn, báo thông tin và báo dư luận (trong đó báo dư luận mang tính đa năng nhất).
5. Hiện tượng "phi hư cấu hỗn nhập" trong luận án được hiểu như thế nào?
Khác với phi hư cấu thuần túy mang tính cố định thể loại, phi hư cấu hỗn nhập là hiện tượng tương tác linh hoạt giữa hai nhóm thể loại hư cấu và phi hư cấu. Hiện tượng này diễn ra qua các cấp độ: tương tác theo hướng trữ tình hóa, kịch hóa, ký hóa, và sự giao thoa, hòa kết giữa ký văn học với chính luận, nghị luận.
Kết luận
Luận án Đóng góp của văn xuôi Tự lực văn đoàn từ góc nhìn thể loại của tác giả Hồ Thị Xuân Quỳnh là một công trình nghiên cứu văn học sử và thi pháp học có hệ thống về toàn bộ di sản văn xuôi của nhóm Tự lực văn đoàn giai đoạn 1932 - 1945. Bằng việc vận dụng lý thuyết loại hình, tự sự học và thi pháp học hiện đại, luận án đã làm sáng tỏ những cách tân nghệ thuật ở cả hai nhóm thể loại văn xuôi hư cấu và văn xuôi phi hư cấu. Kết quả nghiên cứu khẳng định vai trò của Tự lực văn đoàn trong việc chuyển đổi hệ hình văn học từ trung đại sang hiện đại, nâng cao vị thế của văn xuôi nghệ thuật tiếng Việt. Công trình cung cấp cơ sở lý luận và nguồn tư liệu tin cậy phục vụ công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.