Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985 - Luận án Nguyễn Hữu Công

Tóm tắt chuyển biến tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985. Phân tích sự đổi mới cảm xúc, hình tượng và khuynh hướng sử thi sang đời tư thế sự.

Trường đại học

Đại học Huế - Trường Đại học Khoa học

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Tóm tắt luận án tiến sĩ

2023

54
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975 1985

Giai đoạn 1975-1985 đánh dấu bước chuyển quan trọng trong thơ Việt Nam khi đất nước bước vào thời kỳ hòa bình sau chiến tranh. Tư duy nghệ thuật giai đoạn này chuyển từ khuynh hướng sử thi - chính trị sang khuynh hướng đời tư - thế sự, từ giọng điệu hào hùng sang trữ tình sâu lắng. Thơ giai đoạn này phản ánh sự kế thừa những giá trị thi pháp của giai đoạn 1945-1975 nhưng đồng thời thể hiện những đổi mới căn bản trong quan niệm nghệ thuật. Các nhà thơ chú trọng khám phá đời sống nội tâm con người, thể hiện những trăn trở về đạo đức, nhân văn và tâm linh. Sự thay đổi này không chỉ thể hiện ở đề tài sáng tác mà còn ở phương thức thể hiện, đặc biệt là điểm nhìn nghệ thuật, ngôn ngữ và cấu trúc tác phẩm. Giai đoạn này được xem là cầu nối quan trọng giữa thơ thời chiến và thơ đổi mới sau 1986.

1.1. Đặc trưng chuyển giao giai đoạn hậu chiến

Giai đoạn 1975-1985 là thời kỳ chuyển giao từ thơ ca sử thi sang thơ ca đời tư. Các nhà thơ chuyển từ ngợi ca đất nước hùng vĩ sang khám phá cuộc sống đời thường, những giá trị nhân văn và tâm linh. Sự thay đổi này thể hiện rõ trong đề tài sáng tác: đề tài chiến tranh giảm dần, thay vào đó là đề tài tình yêu, đời tư và thế sự. Những nhà thơ tiêu biểu như Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm và Thanh Thảo đã thể hiện xu hướng này qua những tác phẩm như 'Từ chiến hào đến thành phố', 'Đất nước' và 'Những người đi tới biển'. Sự chuyển đổi này không chỉ là thay đổi đề tài mà còn là thay đổi tư duy sáng tác, từ hướng ngoại sang hướng nội.

1.2. Tính kế thừa và đổi mới trong thi pháp

Thơ giai đoạn 1975-1985 kế thừa những thành tựu thi pháp của giai đoạn trước nhưng đồng thời thể hiện những đổi mới căn bản. Các nhà thơ vẫn sử dụng ngôn ngữ giàu tính biểu tượng và hình ảnh thơ quen thuộc, nhưng nội dung trữ tình đã thay đổi hoàn toàn. Họ không còn ca ngợi những chiến công hào hùng mà tập trung vào những suy tư về cuộc sống, con người và thời đại. Sự đổi mới còn thể hiện ở cấu trúc tác phẩm, khi điểm nhìn nghệ thuật chuyển từ tập thể sang cá nhân, không gian nghệ thuật trở nên đa dạng và thời gian nghệ thuật mang tính chủ quan hơn. Những đổi mới này đã tạo nên diện mạo mới cho thơ Việt Nam giai đoạn này.

II. Phân tích đặc trưng tư duy nghệ thuật giai đoạn 1975 1985

Tư duy nghệ thuật giai đoạn 1975-1985 thể hiện rõ nét qua sự chuyển đổi từ tư duy hướng ngoại sang tư duy hướng nội. Các nhà thơ không còn tập trung vào những đề tài lớn lao như đất nước hay chiến tranh mà chuyển sang khám phá đời sống nội tâm, những giá trị nhân văn và tâm linh. Sự thay đổi này phản ánh nhu cầu của xã hội sau chiến tranh, khi con người cần nhìn lại quá khứ, đánh giá những mất mát và hướng tới tương lai. Tư duy hướng nội thể hiện rõ trong ngôn ngữ thơ, khi các nhà thơ sử dụng những hình ảnh giản dị, gần gũi và những biểu tượng mang tính cá nhân. Điểm nhìn nghệ thuật cũng thay đổi, từ tập thể sang cá nhân, từ khái quát sang cụ thể. Những đổi mới này đã tạo nên diện mạo mới cho thơ Việt Nam giai đoạn này.

2.1. Sự chuyển đổi từ đề tài sử thi sang đề tài đời tư

Giai đoạn 1975-1985 chứng kiến sự suy giảm của đề tài chiến tranh và sự gia tăng của đề tài đời tư trong thơ ca. Các nhà thơ không còn ca ngợi những chiến công hào hùng mà tập trung vào những trăn trở về cuộc sống đời thường, những giá trị nhân văn và tâm linh. Những tác phẩm như 'Từ chiến hào đến thành phố' của Hữu Thỉnh, 'Đất nước' của Nguyễn Khoa Điềm và 'Những người đi tới biển' của Thanh Thảo đã thể hiện rõ xu hướng này. Sự chuyển đổi đề tài không chỉ phản ánh thay đổi trong xã hội mà còn thể hiện sự đổi mới trong tư duy sáng tác, khi các nhà thơ chuyển từ ca ngợi cái chung sang khám phá cái riêng.

2.2. Đổi mới trong ngôn ngữ và hình thức thể hiện

Ngôn ngữ thơ giai đoạn 1975-1985 thể hiện rõ sự đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Các nhà thơ sử dụng những hình ảnh giản dị, gần gũi và những biểu tượng mang tính cá nhân, thay thế cho những hình ảnh hoa mĩ, ước lệ của giai đoạn trước. Cấu trúc tác phẩm cũng thay đổi, khi điểm nhìn nghệ thuật chuyển từ tập thể sang cá nhân, không gian nghệ thuật trở nên đa dạng và thời gian nghệ thuật mang tính chủ quan hơn. Những đổi mới này đã tạo nên diện mạo mới cho thơ Việt Nam giai đoạn này, thể hiện rõ sự kế thừa và đổi mới trong thi pháp.

III. Giải pháp phân tích tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975 1985

Để phân tích tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975-1985, cần tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, cần nghiên cứu sự chuyển đổi đề tài sáng tác, từ sử thi sang đời tư, phản ánh nhu cầu của xã hội sau chiến tranh. Tiếp theo, cần phân tích sự đổi mới trong ngôn ngữ thơ, khi các nhà thơ sử dụng những hình ảnh giản dị, gần gũi và những biểu tượng mang tính cá nhân. Cuối cùng, cần nghiên cứu sự thay đổi trong cấu trúc tác phẩm, đặc biệt là điểm nhìn nghệ thuật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Những yếu tố này không chỉ thể hiện sự kế thừa thi pháp giai đoạn trước mà còn thể hiện những đổi mới căn bản trong tư duy sáng tác. Phương pháp nghiên cứu phải kết hợp giữa lý thuyết thi pháp học và phân tích tác phẩm cụ thể.

3.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết thi pháp học

Phương pháp nghiên cứu lý thuyết thi pháp học giúp phân tích tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975-1985 từ góc độ lý thuyết. Lý thuyết thi pháp học cung cấp khung khái niệm để nghiên cứu những yếu tố cấu thành tác phẩm thơ như đề tài, ngôn ngữ, điểm nhìn nghệ thuật, không gian và thời gian nghệ thuật. Qua đó, có thể xác định những đặc trưng cơ bản của tư duy nghệ thuật giai đoạn này, như sự chuyển đổi từ tư duy hướng ngoại sang tư duy hướng nội, sự đổi mới trong ngôn ngữ thơ và sự thay đổi trong cấu trúc tác phẩm. Phương pháp này giúp nhìn nhận thơ giai đoạn 1975-1985 trong mối quan hệ kế thừa và đổi mới so với giai đoạn trước.

3.2. Phân tích tác phẩm cụ thể qua phương pháp so sánh

Phân tích tác phẩm cụ thể qua phương pháp so sánh giúp làm rõ những đặc trưng tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975-1985. Bằng cách so sánh những tác phẩm tiêu biểu của giai đoạn này với giai đoạn trước, có thể thấy rõ sự chuyển đổi đề tài, ngôn ngữ và cấu trúc tác phẩm. Những tác phẩm như 'Từ chiến hào đến thành phố' của Hữu Thỉnh, 'Đất nước' của Nguyễn Khoa Điềm và 'Những người đi tới biển' của Thanh Thảo đã thể hiện rõ những đổi mới này. Phương pháp so sánh không chỉ giúp xác định những đặc trưng tư duy nghệ thuật mà còn làm rõ vị trí của thơ giai đoạn 1975-1985 trong tiến trình phát triển của thơ Việt Nam hiện đại.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ 1975 1985

Tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975-1985 thể hiện rõ sự kế thừa và đổi mới trong thi pháp so với giai đoạn trước. Sự chuyển đổi từ tư duy hướng ngoại sang tư duy hướng nội, từ đề tài sử thi sang đề tài đời tư, cùng những đổi mới trong ngôn ngữ và cấu trúc tác phẩm đã tạo nên diện mạo mới cho thơ Việt Nam giai đoạn này. Những nghiên cứu về tư duy nghệ thuật giai đoạn 1975-1985 không chỉ góp phần làm rõ vị trí của thơ giai đoạn này trong tiến trình phát triển của thơ Việt Nam hiện đại mà còn cung cấp những bài học quý giá cho sự phát triển của thơ ca đương đại. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trong giảng dạy văn học, phê bình văn học và sáng tác thơ ca đương đại.

4.1. Đánh giá thành tựu và hạn chế của thơ giai đoạn 1975 1985

Thơ giai đoạn 1975-1985 đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong sự đổi mới tư duy nghệ thuật. Những nhà thơ giai đoạn này đã thể hiện sự nhạy cảm với những thay đổi của xã hội, từ đó tạo nên những tác phẩm mang đậm tính nhân văn và tâm linh. Tuy nhiên, giai đoạn này cũng bộc lộ một số hạn chế, như sự thiếu vắng những tác phẩm mang tính đột phá, những đổi mới mang tính cách mạng trong thi pháp. Những hạn chế này xuất phát từ sự chuyển giao giữa hai giai đoạn lịch sử, khi xã hội vẫn còn ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng thời chiến. Những đánh giá này giúp nhìn nhận thơ giai đoạn 1975-1985 một cách toàn diện và khách quan.

4.2. Định hướng nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai

Nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975-1985 mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong tương lai. Những hướng nghiên cứu này có thể tập trung vào sự ảnh hưởng của giai đoạn này đến thơ đổi mới sau 1986, hoặc nghiên cứu sự kế thừa và đổi mới trong thi pháp thơ Việt Nam hiện đại. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng có thể ứng dụng trong giảng dạy văn học, khi giúp sinh viên hiểu rõ hơn về tiến trình phát triển của thơ Việt Nam hiện đại. Những ứng dụng này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy mà còn thúc đẩy sự phát triển của nghiên cứu văn học trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Tóm tắt tư duy nghệ thuật thơ việt nam giai đoạn 1975 1985

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 1. Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 1. Những nghiên cứu về thơ Việt nam giao đoạn 1975-1985 Có khá nhiều ý kiến, bài viết kết hợp nghiên cứu một cách khái quát về nội dung, phương thức nghệ thuật của thơ sau năm 1975 nói chung và có những bài nghiên cứu riêng về thơ giai đoạn 1975-1985. Những bài viết đó tập trung trong các công trình: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận (Nxb Giáo dục, 2004) của Phan Cự Đệ, Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy của nhiều tác giả (Nxb Giáo dục, 2005), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường (Nxb Giáo dục, 2009) của Nguyễn Văn Long, Văn học 1975-1985 tác phẩm và dư luận (Nxb Hội Nhà văn, 1997) của nhóm tác giả Vân Trang, Hoàng Ngô, Bảo Hưng, Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1998) của Lê Lưu Oanh, Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1995 (Nxb Khoa học xã hội, 1999) của Vũ Văn Sỹ, Thơ Việt Nam hiện đại (Nxb Lao động, 2002) của nhóm tác giả Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ và nhiều công trình khác… Nghiên cứu văn học 1975-1985 với tư cách là một giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ hậu chiến, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra những đóng góp của văn học giai đoạn này trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam.

Bên cạnh đó, trong các công trình nghiên cứu và giáo trình lý luận văn học đề cập đến tư duy nghệ thuật thơ, phải kể đến tác phẩm Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành. Các tác giả Nguyễn Phan Cảnh (Ngôn ngữ thơ), Bùi Công Hùng (Quá trình sáng tạo thi ca), Hà Công Tài (Chiếm lĩnh sự thật và con đường đổi mới thơ)… đã có nhiều góc độ khác nhau để nghiên cứu thơ và tư duy thơ trong tiến trình vận động, phát triển của thơ Việt Nam hiện đại. Bên cạnh đó, hàng loạt những công trình nghiên cứu về thi pháp ra đời: Giáo trình thi pháp học (Trần Đình Sử), Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Đình Sử), Thi pháp thơ Huy Cận (Trần Khánh Thành), Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu), Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (Hồ Thế Hà)… đã đưa lại những thành công nhất định trong nghiên cứu, 4 sáng tạo nghệ thuật. Lý thuyết thi pháp học đã được vận dụng một cách đồng bộ để nghiên cứu nghệ thuật thơ, tư duy thơ.

Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm Bên cạnh những công trình nghiên cứu chung như trên, xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm. Các tác giả được chọn để nghiên cứu nhiều nhất giai đoạn này là những nhà thơ tiêu biểu, có đóng góp về thi pháp thể loại trên hành trình hiện đại như: Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Chim Trắng, Võ Văn Trực, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Lê Thị Mây, Vũ Quần Phương, Y Phương, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Quang Thiều … Có thể nói đây là “những cánh chim báo bão” đem lại những khám phá và dự báo về sự đổi mới thi ca. Sáng tác của họ được bạn đọc đón nhận với cái nhìn đa chiều, trong phạm vi luận án, chúng tôi quan tâm đến những nghiên cứu ghi nhận những dấu hiệu đổi mới mà họ đã mang lại trong thơ giai đoạn 1975-1985. Các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm nghiên cứu kịp thời về thơ của các tác giả giai đoạn này có Mã Giang Lân, Trần Đình Sử, Lý Hoài Thu, Nguyễn Bá Thành, Hồ Thế Hà, Chu Văn Sơn, Lã Nguyên, Lý Hoài Thu, Bích Thu.

với những bài viết cụ thể, chỉ ra được những đặc trưng nghệ thuật riêng của từng tác giả, tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học, phong cách học, ngôn ngữ học và mỹ học tiếp nhận hiện đại… 1. Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài 1. Nhận xét tình hình nghiên cứu Thứ nhất: Thơ Việt Nam 1975-1985 là giai đoạn ngắn, nhưng có tính chất bước ngoặt, bản lề cho hai giai đoạn thơ của cùng một dòng chảy liên tục từ thời chiến sang thời hậu chiến. Những đặc điểm bản chất của thơ giai đoạn này đã diễn ra hợp qui luật, có kế thừa, phát huy và bổ sung những nội dung và phương thức nghệ thuật mới, làm thành diện mạo và thành tựu mới, dù vậy, nó vẫn còn một số hạn chế do quán tính của thơ ca thời chiến tác động.

Thứ hai: Thơ Việt Nam 1975-1985 đã trở thành đối tượng tiếp cận, được các nhà lý luận, phê bình và các nhà nghiên cứu văn học quan tâm, bàn luận. Tuy nhiên, các công trình và bài viết chưa có sự 5 bao quát một cách đầy đủ, toàn diện về thơ giai đoạn này, đặc biệt là diện mạo thơ và vấn đề tư duy nghệ thuật thơ. Gương mặt các nhà thơ và tập thơ riêng cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ, chưa chú ý đến thi pháp cá nhân và sự đổi mới của từng tác giả, từng thi phẩm… Thứ ba: Nghiên cứu thơ Việt Nam giai đoạn này, các công trình nghiêng về phê bình tác giả, tác phẩm nhiều hơn là nghiên cứu tổng quan, tổng kết cả phong trào. Các hướng tiếp cận và phương pháp vận dụng để nghiên cứu cũng chưa thật sự đa dạng.

Chủ yếu là nghiên cứu theo hướng thi pháp học, bình giảng, phân tích tác phẩm nghiêng về xã hội học văn học. Các phương pháp hiện đại như Mỹ học tiếp nhận, Phong cách học, Ngôn ngữ học, Phê bình sinh thái… chưa được quan tâm vận dụng tối đa. Nghiên cứu theo lý thuyết hệ hình cũng chưa được cập nhật. Vì vậy, chưa thấy được sự chuyển đổi cái nhìn nghệ thuật, đặc biệt là tư duy nghệ thuật một cách mới mẻ của các nhà thơ lớn, có định hướng và tiên phong đổi mới.

Hướng triển khai đề tài Từ tình hình nghiên cứu như trên, Luận án hướng tới giải quyết các vấn đề sau: Thứ nhất: Nghiên cứu tư duy thơ và tư duy nghệ thuật thơ để lý giải triệt để và cắt nghĩa sâu hơn về những đặc thù nghệ thuật trong các tác phẩm thơ giai đoạn 1975-1985. Đặc biệt, chúng tôi xem thành tựu thơ giai đoạn này là kết quả của một mô hình khách thể, phù hợp với mô hình chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận; từ đó, có sự đánh giá khách quan, khoa học cần thiết về hiện tượng và tiến trình vận động của thơ giai đoạn này, nhất là những cách tân, đổi mới trong tư duy nghệ thuật. Thứ hai: Nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 để làm rõ đặc điểm có tính quy luật của “bước chuyển mình” trong thơ từ thời chiến chuyển sang thời bình. Thứ ba: Luận án còn hướng tới khẳng định vị trí và thành tựu của thơ giai đoạn 1975-1985.

Đặc biệt, Luận án khẳng định đây là giai đoạn bước ngoặt chuyển mình có thành tựu mới với những đặc điểm nội tại, tạo thành cái nhìn nghệ thuật riêng, có tính đặc thù phải diễn ra như thế, chứ không phải khuyết điểm hoặc nhược điểm là chủ yếu như một số người hạ thấp hoặc phủ định. 6 Chương 2 VẤN ĐỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 2. Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ 2. Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật Tư duy là phạm trù triết học dùng để chỉ những hoạt động của tinh thần, phản ánh, đem những cảm giác của người ta sửa đổi và cải tạo thế giới thông qua hoạt động vật chất, làm cho con người có nhận thức đúng dắn về sự vật và thế giới chung quanh; đồng thời có cách ứng xử với nó.

Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và giao tiếp tác phẩm nghệ thuật. Đây là hình thức phảm ánh thế giới xung quanh con người, giúp con người bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc và tư tưởng bản thân để tạo ra những sản phẩm nghệ thuật độc đáo, mang tính đặc trưng, gắn kết gữa tình cảm và lý trí thông qua ngôn từ để làm chiếc cầu nối giữa người nghệ sĩ và người tiếp nhận/ thưởng thức. Tư duy hình tượng là đặc trưng của tư duy nghệ thuật. Tư duy nghệ thuật thơ Tư duy thơ là một biểu hiện của tư duy nghệ thuật.

Tư duy nghệ thuật biểu hiện cho thế giới nghệ thuật và thế giới ấy cũng bộc lộ trọn vẹn hình thức của nó trong nhận thức và cảm thụ. Nhưng nghệ thuật mà nhà thơ tư duy, đó là cái chất nghệ thuật, là ngôn ngữ, phong cách… Thông qua nội dung và nghệ thuật của những “sản phẩm” thơ mà người đọc tiếp nhận một cách sâu sắc và chính xác nhất tư duy nghệ thuật của nhà thơ. Nghiên cứu tư duy nghệ thuật thơ là cách để hiểu và lý giải triệt để hơn cả về cơ chế hoạt động sáng tạo của chủ thể, nhằm cắt nghĩa sâu hơn về những đặc thù nghệ thuật trong tác phẩm. Nó đưa lại nhận thức về tác phẩm như một cấu trúc chỉnh thể bao gồm nhiều yếu tố liên kết chặt chẽ có tính bộ phận và tính toàn thể của nó nhằm tạo nghĩa cho độc đáo, bất ngờ cho tác phẩm.

Cũng có thể xem đấy như một điểm tựa phương pháp luận giúp ta nhận ra nét đặc thù khu biệt các loại hình nhận thức thẩm mĩ, từ đó, có được sự đánh giá khách 7 quan, khoa học cần thiết về các hiện tượng thơ, nhất là những hiện tượng mới, phức tạp, khó nhận biết tức thì. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới thơ ca 2. Khái lược về bối cảnh lịch sử Cuộc chiến tranh kết thúc thắng lợi, dân tộc Việt Nam bước vào một chặng đường mới. Sự thống nhất mang lại cho đất nước những điều kiện thuận lợi căn bản.

Nhưng “ba mươi năm chiến tranh để lại biết bao khó khăn, phức tạp, đời sống thiếu thốn, nhếch nhác và cả những mệt mỏi thường tình hiện hình nhiều dạng vẻ”. Đó là hậu quả nặng nề của chiến tranh, nhân dân phải đối mặt với bao đau thương, mất mát, hy sinh, tổn thất về vật chất và tinh thần. Chiến tranh tàn phá hầu hết các thành phố, đô thị, các thôn xóm, các tuyến đường giao thông, các trọng điểm kinh tế của miền Bắc và nhiều vùng rộng lớn của miềm Nam.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ