mở đầu cho dòng thơ lãng mạn cách mạng Trung Quốc. Ngoài ra, tác phẩm của Tưởng Quang Từ, Lưu Đại Bách, Lưu Bán Nông, Văn Nhất Đa, Tạ Băng Tâm. sáng tác về đề tài ca ngợi nhân dân lao động, chống đế quốc xâm lược cũng chiếm được sự quan tâm rất lớn của độc giả. Các thể loại như kịch nói, tản văn, tạp văn cũng là những thể loại quan trọng đang được phát triển ở thời kỳ này với các tên tuổi lớn.
Về kịch có: Hồng Trâm (vở Triệu Diêm Vương), Điền Hán (vở Nửa đêm trong tiệm cà phê, Đêm bắt hổ), Quách Mạt Nhược (vở Trác Văn Quân, Vương Chiêu Quân). Về tạp văn, tiêu biểu là sáng tác của Lỗ Tấn với các tập: Nấm mồ, Gió nóng, Hoa cái; Cù Thu Bạch với Hành trình qua xứ đói và Lịch sử tâm hồn ở Thủ đô đã đem lại cho thể tạp văn những thành tựu mới. Nhìn chung, có thể khẳng định rằng, văn học thời kỳ này đã có những đổi mới trong quá trình phát triển của nó. Nội dung đều đã thể hiện tinh thần triệt để chống phong kiến, đế quốc, ca ngợi và mơ ước một xã hội mới không có giai cấp, không áp bức bóc lột ra đời, tập trung phản ánh đời sống nhân dân lao động.
Về mặt hình thức, văn bạch thoại - tiếng nói hàng ngày của đại chúng chiếm ưu thế, thay thế cơ bản cho văn ngôn. Thời kỳ 1927-1937 Đây là thời kỳ văn học trong hoàn cảnh nội chiến cách mạng lần thứ hai ở Trung Quốc. Sau khi nội chiến thứ nhất thất bại, bọn Tưởng Giới Thạch càng ra sức cấu kết với bọn đế quốc để xây dựng nền thống trị phát xít của chúng. Trung Quốc thời kỳ này hình thành hai khu vực: khu vực do Quốc dân Đảng thống trị và khu căn cứ địa do Đảng cộng sản nắm quyền.
Tình hình này đã tạo cho văn học hai khu vực hoạt động dưới nhiều hình thức. Trong khu Quốc dân Đảng, phong trào văn học cách mạng ngày càng lớn mạnh trong sự khủng bố, đàn áp. Đội ngũ văn nghệ sĩ cảm thấy cần thiết phải đoàn kết tất cả các lực lượng văn nghệ lại thành một mặt trận thống nhất. Do đó, với sự nỗ lực của các nhà văn đi đầu, tháng 3/1930, Hội liên minh các nhà văn cánh tả1 được thành lập ở Thượng Hải.
Hội có 50 nhà văn, trong đó có các nhà văn lớn như Lỗ Tấn, Mao Thuẫn, Điền Hán, Hạ Diễn. Đảng cộng sản thông qua Cù Thu Bạch và Lỗ Tấn để lãnh đạo Hội. Dưới lãnh đạo của Tả liên, phong trào văn nghệ phát triển mạnh mẽ. Về sáng tác, nhiều tác phẩm có giá trị xuất hiện do các nhà văn đã hoàn thành quá trình cải tạo tư tưởng, vững bước đi theo cách mạng.
Tiểu thuyết có: Chuyện cũ 1 Gọi tắt là "Tả liên": Liên minh các nhà văn cánh tả của Trung Quốc, là một trong những tổ chức do Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, thành lập tại Thượng Hải vào thập niên 30 của thế kỷ XX, mục đích là đấu tranh để giành lấy mặt trận tuyên truyền với Quốc dân Đảng, thu hút được sự ủng hộ của quảng đại dân chúng. Lãnh đạo Tả liên là Lỗ Tấn. 17 viết lại của Lỗ Tấn, tập truyện đánh dấu bước phát triển của chủ nghĩa hiện thực cách mạng của Lỗ Tấn. Mao Thuẫn cũng góp tiểu thuyết Nửa đêm, đánh dấu thành tựu mới của văn học vô sản.
Ba Kim cũng góp mặt với bộ ba tiểu thuyết: Gia, Xuân, Thu. Lão Xá có Lạc đã tường tử. Về thơ cũng đã xuất hiện nhiều nhà thơ trẻ tuổi, nội dung ca ngợi cách mạng vô sản, triệt để chống phong kiến, với các tập như: Hài nhi tháp của Ân Phu, các tập Cuộc sống, Lời ca gang thép, Bài ca ru em. của Bồ Phong.
Kịch cũng phát triển và có nhiều thành tựu như Lôi vũ, Nhật xuất của Tào Ngu; Khúc nhạc xuân của Điền Hán, Truyện Thu Cận của Hạ Diễn. Nhìn chung, thời kỳ này là thời kỳ trưởng thành của nền văn học cách mạng. Nội dung các tác phẩm này đã thể hiện rõ khuynh hướng xã hội chủ nghĩa. Một số tác phẩm hiện thực xuất sắc đã xuất hiện.
Đề tài được mở rộng, từ chỗ bị bó hẹp trong đời sống cá nhân thời Ngũ tứ đã phát triển đến chỗ miêu tả cuộc đấu tranh giải phóng rộng lớn ở nông thôn và thành thị như tác phẩm Được mùa của Diệp Tử, Nhật xuất của Tào Ngu. Nhân dân lao động xuất hiện ngày càng nhiều trong các tác phẩm văn học nghệ thuật và đó là những nhân tố mới đặt cơ sở cho nền văn học cách mạng sau này. Thời kỳ 1937 - 1949 Ngày 7 tháng 7 năm 1937, quân xâm lược Nhật Bản tấn công Lư Câu Kiều, mở đầu cuộc tấn công toàn diện vào Trung Quốc. Trước áp lực của nhân dân, Quốc dân Đảng một lần nữa lại buộc phải hợp tác với Đảng cộng sản, công nhận quyền hợp pháp của Đảng, hai bên phối hợp quân đội thành lập Mặt trận thống nhất chống Nhật.
Nhưng chẳng bao lâu, bọn Quốc dân Đảng phản động, ra sức thi hành chính sách tiêu diệt cộng sản và đầu hàng Nhật. Tuy nhiên, Đảng cộng sản Trung Quốc vẫn kiên trì lãnh đạo nhân dân Trung Quốc tiếp tục đấu tranh chống Nhật và bọn phản động quốc dân Đảng cho đến khi Nhật đầu hàng Đồng minh, đại chiến lần thứ hai kết thúc. Ngày 1 tháng 10 năm 1949, nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời. Để lãnh đạo phong trào văn học trong thời kỳ này, năm 1938, Đảng đã thành lập Hội văn nghệ chống địch toàn quốc do Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Ba Kim phụ trách, là một mặt trận thống nhất rộng rãi của giới văn nghệ.
Thành tựu trong thời kỳ này cũng đáng được chú ý. Thành tựu về thơ có: Tiếng chiến đấu của Quách Mạt Nhược, các bài thơ ngắn của Quang Vị Nhiên, Tang Khắc Gia, tập thơ Gửi người chiến đấu của Điền Gian cùng các sáng tác của Vương Quý và Lý Quý. Về kịch có vở Khuất Nguyên, Hổ Phù, Đường đệ chi hoa của Quách Mạt Nhược; vở Vi trùng phát xít của Hạ Diễn; vở Bạch Mao Nữ của Hạ Kính Chi và Đinh Nghị. Tiểu thuyết tuy không phát triển mạnh như thơ và kịch nhưng cũng có 18 những thành tựu đáng kể với các tác giả: Trương Thiên Dực với tiểu thuyết Ông Hoách, Triệu Thụ Lý với các tác phẩm: Chú Hai Đen lấy vợ, Lý Hữu Tài làm vè, Sự biến đổi ở Lý Gia Trang; Chu Lập Ba với Mưa to gió lớn; Mao Thuẫn với Sa đọa.
Đáng chú ý hơn cả là Bài nói chuyện tại cuộc tọa đàm văn nghệ ở Diên An của Mao Trạch Đông được xem như là một tác phẩm lý luận văn nghệ của chủ nghĩa Mác Lê nin. Từ đây, quan niệm văn nghệ phục vụ công nông binh đã trở thành phương hướng sáng tác chung của các văn nghệ sỹ. Trong 30 năm đó, nhờ có sự thâm nhập đời sống của nhân dân lao động cùng khổ, hòa mình với cách mạng mà đội ngũ văn nghệ ngày càng đông đảo. Nhiều văn nghệ sỹ cũng đã hy sinh nơi chiến trường, thể hiện khí phách người chiến sỹ như Cù Thu Bạch, Ân Phu.
Văn học hiện đại Trung Quốc đã gặt hái được nhiều thành công với nhiều nhà văn gây được dấu ấn mạnh mẽ trên văn đàn, trở thành đối tượng được nghiên cứu rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới như Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ, Anh, Pháp, Nga, và Việt Nam. Tại Việt Nam, văn học hiện đại Trung Quốc cũng chiếm được sự quan tâm lớn của một lớp độc giả và các nhà nghiên cứu. Theo chúng tôi được biết, văn học hiện đại Trung Quốc được chính thức giới thiệu tại Việt Nam vào năm 1944 với chuyên luận: Lỗ Tấn, thân thế, sự nghiệp của giáo sư Đặng Thai Mai. Là người đầu tiên đặt nền móng cho sự nghiệp nghiên cứu Lỗ Tấn nói riêng và văn học hiện đại Trung Quốc tại Việt Nam, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX, Đặng Thai Mai đã giới thiệu cho văn đàn một tên tuổi lớn của văn học hiện đại Trung Quốc - đại văn hào Lỗ Tấn.
Từ đó đến nay, văn đàn Việt Nam liên tục xuất hiện các công trình nghiên cứu, các bài viết về Lỗ Tấn, Tào Ngu, Quách Mạt Nhược, Ba Kim, thể hiện sự yêu mến của giới nghiên cứu Việt Nam đối với nền văn học này. Ở Việt Nam, Lỗ Tấn còn được so sánh với các nhà văn đỉnh cao của dòng văn học hiện thực phê phán 1930-1945 như Nam Cao, Ngô Tất Tố. Điều này một mặt nào đó khẳng định vị trí của ông trong trái tim của người dân Việt Nam. Như vậy, có thể thấy rằng văn học hiện đại Trung Quốc là văn học của thời đại ―Lỗ Tấn‖.
Sự khởi đầu của văn học hiện đại Trung Quốc đã gắn chặt với tên tuổi của Lỗ Tấn. Sự thống nhất giữa nhà văn vĩ đại và nhà tư tưởng vĩ đại của Lỗ Tấn đã thể hiện đặc điểm không thể tách rời giữa văn học hiện đại và tư tưởng cách mạng. Lỗ Tấn tiêu biểu cho linh hồn Trung Quốc - linh hồn dân tộc hiện đại Trung Quốc. Không thể phủ nhận được, ông cũng chính là một trong những người dựng lên linh hồn dân tộc Trung Quốc hiện đại.
Với những đóng góp đó, cần khẳng định rằng, Lỗ Tấn đã đặt nền móng cho sự phát triển của văn học hiện đại Trung Quốc. Các nhà văn kể cả cùng thời và đến sau của nền văn học hiện đại Trung Quốc tiếp nối tư 19 tưởng nghệ thuật của Lỗ Tấn, hình thành các trào lưu nghệ thuật khác nhau. Chẳng hạn như văn học chủ nghĩa hiện thực cách mạng mà ông khai sáng đã trở thành trào lưu chính của văn học hiện đại Trung Quốc. Lỗ Tấn là trọng tâm của nghiên cứu văn học hiện đại Trung Quốc, là đề tài không bao giờ cũ.
Nói cách khác, Lỗ Tấn chính là mê lực cuốn hút của văn học Trung Quốc. Không thể phủ nhận, trên thực tế, Lỗ Tấn đã trở thành biểu tượng cho văn hóa dân tộc hiện đại Trung Quốc, là niềm tự hào của người dân Trung Quốc trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Văn học hiện đại Việt Nam từ 1900 đến 1945 Có thể thấy rằng, những năm ―bản lề‖ giữa thế kỷ XIX và thế kỷ XX cũng là những năm ―bản lề‖ giữa hai thời kỳ văn học. Văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đã chính thức bước vào công cuộc hiện đại hóa.
Chúng tôi tạm chia thành hai giai đoạn: Thời kì 1900- 1930: giai đoạn giao thời.