chương 1, dựa trên sự hiểu biết của các học giả Việt Nam đối với khái niệm “hiện đại”, chúng tôi sẽ chỉ ra: những đặc điểm mới trong thi pháp văn học hiện đại hai nước. “Tính hiện đại” ở đây được hiểu như là kết quả của quá trình hiện đại hoá – quá trình thoát bỏ khỏi hệ thống thi pháp trung đại để xây dựng một hệ thống thi pháp mới theo mô hình của văn học hiện đại phương Tây – trong văn học Việt Nam và Trung Quốc. Sau đó, dựa trên lý luận văn học của các học giả Việt Nam, chúng tôi sẽ xác định tính hiện đại trong thơ ca Việt Nam và Trung Quốc qua hai phương diện thi pháp mới: “quan niệm mới” và “hệ thống hình thức mới”, và hai phương diện thi pháp này trong thơ nữ là đối tượng nghiên cứu của chương 2 và chương 3.2 Phạm vi nghiên cứu 4.1 Về công việc sưu tập tác phẩm thơ nữ Phạm vi nghiên cứu của luận án là những bài thơ được các nhà thơ nữ Việt Nam và Trung Quốc sáng tác trong nửa đầu thế kỷ XX. luan an 15 Tuy nhiên, việc xác định phạm vi nghiên cứu của luận án trong trường hợp cụ thể này không thể không bắt đầu bằng việc xác định rõ tình hình sưu tập tác phẩm của các nhà thơ nữ Việt Nam và Trung Quốc.
Dựa trên tình hình, kết quả sưu tập hiện có, tác giả luận án đã bỏ công sưu tập bổ sung thêm. Về thơ nữ Việt Nam, gần một nửa tác phẩm thơ của nhà thơ mới nữ đã được giới phê bình nghiên cứu giới thiệu, đưa vào các tuyển tập, sơ tuyển, bài tham luận, bài báo,… Những tác phẩm còn lại là do chúng tôi sưu tập trên internet. Cho đến thời điểm này, chúng tôi đã tập hợp được 193 bài thơ của tác giả nữ Việt Nam thời Thơ mới. Dĩ nhiên không ai dám chắc rằng đây là con số cuối cùng.
Song, có nhiều lý do để khẳng định rằng về lượng, số tác phẩm còn lại nếu có, không nhiều; về chất, những sáng tác tiêu biểu, đặc sắc nhất của các tác giả nữ Việt Nam – những người đã thành danh trên thi đàn – đều đã được thâu tóm trong số 193 tác phẩm nêu trên. Thực tiễn sáng tác qua những tác phẩm được sưu tập thêm sau này, nếu có, vì thế, sẽ không làm thay đổi nhiều những nhận định khái quát về thơ nữ Việt Nam 1932-1945 trong luận án này. Về thơ nữ Trung Quốc, cũng với tinh thần đó, chúng tôi sưu tập được 504 bài. Việc sưu tập thơ nữ Trung Quốc thuận lợi hơn có thể do nhiều nguyên nhân.
Một trong những lý do dễ nhìn thấy là bởi các nhà thơ nữ Trung Quốc như Thu Cận, Băng Tâm, Lâm Huy Nhân, Tiêu Hồng,… đều có những thành tựu trên nhiều lĩnh vực, bên cạnh thơ ca. Bản thân các nhà thơ nữ vì vậy được giới nghiên cứu và công luận chú ý nhiều và theo dõi sát sao hơn. Tác phẩm họ có nhiều cơ hội, điều kiện được lưu lại đầy đủ hơn qua nhiều phương tiện (sách báo, điện ảnh, phim phóng sự,…). Người nghiên cứu có thể yên tâm với 504 bài, hoàn toàn có thể bao quát được thực tế sáng tác của thơ mới nữ Trung Quốc.2 Về tiêu chí chọn mẫu nghiên cứu Để bảo đảm khả năng bao quát đối tượng nghiên cứu ở mức độ khả tín mà không nhất thiết phải khảo sát tất cả các đơn vị tác phẩm cụ thể, nhà nghiên cứu có thể sử dụng phương pháp chọn mẫu để nghiên cứu bằng một bộ tiêu chí phù hợp.
Theo tinh thần đó, chúng tôi không có ý định khảo sát tất cả các tác phẩm thơ mới của giới nữ Việt Nam và Trung Quốc đã sưu tập được mà sử dụng phương pháp chọn mẫu đề nghiên cứu. Nhằm bảo đảm rằng mẫu nghiên cứu không quá lớn, nhưng cũng không quá nhỏ, khiến không đủ sức khái quát, tiêu chí chọn mẫu của chúng tôi trong trường hợp này là: a. Tác phẩm là sáng tác của nhà thơ nữ Việt Nam và Trung Quốc, được sáng tác luan an 16 trong nửa đầu thế kỷ XX; b. Tác phẩm được chọn khảo sát mang tính hiện đại về nội dung cảm hứng hoặc hình thức biểu đạt, hoặc cả hai; nói trực tiếp hơn, những tác phẩm này hội tụ được một vài đặc điểm quan trọng của việc thoát bỏ khỏi hệ thống thi pháp thơ cổ điển, tiệm cận thi pháp thơ hiện đại; c.
Tác phẩm được chọn khảo sát là những sáng tác tiêu biểu của mỗi tác giả nữ tiêu biểu, từng được giới nghiên cứu văn học giới thiệu, trích dẫn; d. Tác phẩm thơ nữ chưa được nhiều người biết đến (do tác giả luận án sưu tập bổ sung) phải đáp ứng được tiêu chí b trong bộ tiêu chí này. Theo bộ tiêu chí trên, với thơ mới nữ Việt Nam, chúng tôi đã chọn mẫu khảo sát gồm 70 bài trên tổng số 193 bài sưu tập được. Tuy vậy, trong trường hợp cần một vài thông tin bổ sung, chúng tôi mở rộng thống kê, liên hệ trong phạm vi 155 bài.
(Xem danh mục tác phẩm khảo sát ở Phụ lục 3) Cũng trên tinh thần đó, với thơ mới nữ Trung Quốc, chúng tôi đã chọn mẫu khảo sát gồm 73 bài trên tổng số 504 bài sưu tập được.3 Về định hướng khai thác, phân tích mẫu Trong chương 2, vấn đề nghiên cứu là nội dung mới xuất hiện trong thơ nữ – tinh thần nữ quyền luận phương Tây, vì vậy, những tác phẩm thơ được lựa chọn đều thể hiện ra tiếng nói của “cái tôi” – chủ thể nữ, thể hiện rõ ý thức cá nhân; mang lại một cách nhìn riêng về thế giới, con người. Trong chương 3, chúng tôi sẽ nghiên cứu hệ thống thi pháp mới trong thơ nữ, những tác phẩm được phân tích nghiên cứu đều có tính hiện đại hoặc yếu tố hiện đại trong các phương thức biểu đạt cảm xúc, tư tưởng, gồm như: thể thơ, từ vựng và hình ảnh. Trong phần hình ảnh, để kiếm thấy sự khác nhau của tính hiện đại giữa thơ nữ và thơ nam, chúng tôi đã tập trung nghiên cứu về tác phẩm của hai nhà thơ nữ: Mai Đình và Tiêu Hồng, và từ đó dẫn độc giả nhìn rõ thiên tính nữ được chứa đựng trong tác phẩm của họ. Hơn nữa, còn một việc nữa liên quan đến việc tiêu chí chọn mẫu và chúng tôi xin nhắc tại đây.Kh là một nhà thơ có lối ngữ pháp vắt dòng/ngắt dòng rất độc đáo và hiện đại ở thời kỳ Thơ mới, nhưng nhà thơ này chưa được chúng tôi đưa vào khảo sát.
Chúng tôi có ba lý do: thứ nhất, chúng tôi tôn trọng sự lựa chọn của nhà thơ trong việc luan an 17 ẩn giấu giới tính. Thứ hai, nếu về sau giới tính của nhà thơ được nhận định là đàn ông, thì công việc khảo sát sẽ giảm tính khoa học của luận án này. Thứ ba, chúng tôi cho rằng số lượng tác giả, tác phẩm Việt Nam được sưu tập và sử dụng đã đáp ứng được yêu cầu phạm vi nghiên cứu, đã ủng hộ được những luận điểm và kết luận. Với ba lý do trên, chúng tôi quyết định không khảo sát tác phẩm của nhà thơ này trong luận án.
Phạm vi nghiên cứu của luận án cụ thể là như sau: - Phạm vi nghiên cứu của thơ nữ Việt Nam: [31], [38], [48], [49], [51], [59], [136], [137], [141], [142] và [143]. - Phạm vi nghiên cứu của thơ nữ Trung Quốc: [65], [91], [101] và [110]. 5 Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện luận án, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu: phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh và đối chiếu, phương pháp thống kê, phương pháp liên ngành và phương pháp tiểu sử học,… 5.1 Phương pháp lịch sử Qua phương pháp lịch sử, luận án đã khảo sát tư tưởng nữ quyền luận phương Tây nói riêng và truyền thống của văn minh phương Tây, phương Đông nói chung, từ đó có được cơ sở trình bày những lý do nghiên cứu ở trong chương 1 và chương 2.2 Phương pháp so sánh – đối chiếu So sánh là phương pháp chính của luận án. Sử dụng so sánh đối chiếu nhằm hiểu rõ những nét dị biệt và tương đồng về thi pháp hiện đại giữa thơ nữ Việt Nam và Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XX.
Hơn nữa, qua so sánh với những bài thơ nam cùng thời kỳ, chúng tôi đã khám phá về đặc sắc và đặc trưng của thơ nữ. Phương pháp đối chiếu đã được áp dụng trong chương 2, chương 3.3 Phương pháp thống kê – phân loại Với phương pháp này, luận án khảo sát số lượng thơ nữ và tác giả được công bố tại Việt Nam và Trung Quốc nửa đầu thế kỷ XX; đồng thời, luận án cũng đưa ra một số bảng thống kê để minh họa cho những luận điểm trong chương 3.4 Phương pháp liên ngành Nhằm mục đích luận giải rõ căn cứ khoa học về tính hiện đại của văn học hai nước không chỉ giới hạn trong phạm vi văn học mà còn phải mở rộng nghiên cứu trên bình diện triết học giữa phương Đông và phương Tây, chúng tôi đã vận dụng kết quả nghiên luan an 18 cứu của vật lý học về tư tưởng văn minh phương Tây với gốc rễ là việc đi theo tư tưởng khoa học tự nhiên (quá trình phát triển từ logic luận chứng toán học đến logic luận chứng vật lý học). Hơn nữa, chúng tôi cũng đã vận dụng kết quả nghiên cứu của mĩ học thần kinh giải thích về hiện tượng “kết hợp từ lạ” trong thơ nữ hai nước; vận dụng kết quả nghiên cứu của phê bình sinh thái giải thích mối quan hệ giữa các nhà thơ nữ và thi ảnh thiên nhiên. Phương pháp liên ngành đã được áp dụng trong cả chương 1, chương 2 và chương 3.5 Phương pháp tiểu sử học Chúng tôi đã qua nghiên cứu tiểu sử của Băng Tâm, Thu Cận, Tiêu Hồng, Nguyễn Thị Manh Manh và Mai Đình dẫn độc giả nhìn rõ những yếu tố gia đình và việc trải qua trong cuộc sống của họ xuất hiện trong tác phẩm, chúng đã cho thấy tiểu sử nhà thơ là một trong những ngọn nguồn sáng tác của các nữ sĩ.
Qua sử dụng phương pháp tiểu sử học, độc giả sẽ hiểu biết thêm về thơ nữ Trung Quốc, Việt Nam. Phương pháp này đã được chúng tôi áp dụng trong chương 2 và chương 3. 6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu 6.1 Về mặt khoa học - Luận án khảo sát khái niệm “tính hiện đại” của thơ ca không chỉ giới hạn trong phạm vi văn học, mà còn mở rộng nghiên cứu trên các bình diện khác như ngôn ngữ, văn hóa, triết học phương Đông và phương Tây.