Chương 1. Văn chương vị nhân sinh - sự gặp gỡ giữa Nam Cao và Lỗ Tấn Chương 2. Các loại hình nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao và Lỗ Tấn Chương 3. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao và Lỗ Tấn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: VĂN CHƢƠNG VỊ NHÂN SINH VÀ BIỂU ĐẠT VỀ CÁI NGHỊCH DỊ- SỰ GẶP GỠ GIỮA NAM CAO VÀ LỖ TẤN Nam Cao và Lỗ Tấn là những nhà văn lớn, tác phẩm của họ không chỉ có giá trị về nghệ thuật mà hơn thế nó còn có ý nghĩa về nhân sinh.
Vị nhân sinh trong tác phẩm của hai tác giả không chỉ là sự đồng cảm, thương yêu con người mà nó còn ở khía cạnh khác, trước tiên đó là giúp con người hiểu rõ mình, cả cái tốt và những khuyết nhược, những thói hư tật xấu của mình và hoàn cảnh mình đang lâm vào, cũng tức là chỉ rõ tình cảnh biến dạng cả về ngoại hình lẫn tính cách mà sự khốn cùng để lại trên người mình. Vị nhân sinh trong văn Nam Cao và Lỗ Tấn không thiên về sự vuốt ve an ủi, đánh vào tình thương mà nó hướng vào nhận thức, vào đời sống tinh thần của người đọc. Vị nhân sinh ở đây là sự thức tỉnh con người, để họ hiểu rõ chính bản thân mình. Để mọi người nhận ra những khuyết nhược, những thói hư tật xấu và nghịch cảnh của bản thân, của dân tộc, cả hai tác giả đã tìm đến kiểu nhân vật nghịch dị như một sự lựa chọn tương đồng để biểu đạt dụng ý của mình.
Ở Lỗ Tấn, ông hướng đến giải quyết vấn đề “quốc dân tính”, chỉ ra sự mê muội, thói ích kỉ và chủ nghĩa AQ của người dân, bởi vậy, nhân vật của Lỗ Tấn chủ yếu được khắc họa ở sự nghịch dị về tính cách, tâm lý. Ngược lại, Nam Cao nhấn mạnh sự tha hóa, bế tắc của con người trước hoàn cảnh sống, do đó, nhân vật của ông được khắc họa có sự dị dạng, tha hóa từ ngoại hình đến tính cách, nhân phẩm, đó như là hệ quả của hiện thực khắc nghiệt để lại trên những con người nghèo khó. “Nghệ thuật là tiếng đau khổ kia”: tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao 1.Cuộc đời, sự nghiệp sáng tác của Nam Cao Nam Cao (1917 – 1951) quê ở làng Đại Hoàng, Hà Nam. Sinh ra ở một vùng quê nghèo, gia đình cũng nghèo khó ông là người con duy nhất trong gia 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đình được đi học.
Cuộc sống ngay từ nhỏ của Nam Cao đã phải đối mặt với đói nghèo, bệnh tật “áo cơm ghì sát đất”. Thi trượt Thành Chung, ông bỏ quê đi Sài Gòn kiếm sống với khát khao to lớn, tuy nhiên khó khăn, bệnh tật khiến ông phải quay lại làng quê.Nam Cao ôn thi lại và đậu bậc Thành Chung. Lại do vấn đề sức khỏe nên Nam Cao không được nhận vào công chức. Ông xin dạy ở một trường tư do một người họ hàng mở.
Quãng thời gian dạy học này chính là lúc Nam Cao hiểu rõ hơn nỗi khổ tâm của người trí thức giàu hoài bão, khát vọng nhưng lại bị thực tế cuộc sống đè bẹp những khát vọng lớn lao ấy, khiến họ trở thành những con người tầm thường, ích kỉ trước cuộc sống cơm ăn áo mặc. Khi phát xít Nhật xâm lược Đông Dương, trường học bị đóng cửa, Nam Cao nghỉ dạy, sống chật vật bằng nghề gia sư, viết văn…có những lúc thất nghiệp. Năm 1943 Nam Cao ra nhập Hội văn hóa cứu quốc.Khi phong trào văn hóa cứu quốc bị khủng bố mạnh, Nam Cao trở về quê và tham gia phong trào Việt Minh ở địa phương.Trong cách mạng tháng Tám, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở địa phương và được bầu làm chủ tịch xã.Sau đó ông được điều động công tác tại Hội văn hóa cứu quốc.Tháng 11 năm 1951, ông hi sinh trên đường đi công tác vào vùng địch hậu khi mà cuốn tiểu thuyết lớn ông ấp ủ vẫn chưa được hoàn thành. Thời điểm Nam Cao sống và sáng tác, đất nước đã rơi vào tay thực dân Pháp.
Từ đó, nước ta còn trở thành thuộc địa của Nhật – Pháp. Xã hội Việt Nam lúc ấy tăm tối, ngột ngạt dưới ách thống trị của bọn thực dân phát xít và phong kiến tay sai. Nhân dân sống lầm than trong tình trạng một cổ ba tròng. Sức người, sức của từ nông thôn đến thành thị đều bị vơ vét đến kiệt quệ để phục vụ cho chiến tranh.
Nam Cao là người tận mắt chứng kiến sự nghèo đói, lạc hậu khổ sở và sự chuyển mình đầy đau đớn của xã hội lúc ấy, ông cũng là người chứng kiến thời đại bão táp cách mạng và sự thắng lợi vinh quang của cách mạng tháng Tám. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Kể từ khi bước chân vào làng văn đến khi qua đời, Nam Cao đã có mười lăm năm gắn bó với nghiệp văn. Ông khởi đầu văn nghiệp từ 1936 với truyện ngắn Cảnh cuối cùng tiếp đó là Hai cái xác (bút danh Thúy Rư, in trên Tiểu thuyết thứ bảy). Sau đó các sáng tác tiếp theo của tác giả lần lượt ra mắt bạn đọc kể cả thơ và truyện cho thiếu nhi với các bút danh Xuân Du, Nguyệt, Nhiêu Khê.
Tuy nhiên phải đến tập truyện Đôi lứa xứng đôi (1941)thì tên tuổi của Nam Cao mới được khẳng định. Có nhà nghiên cứu đã so sánh tập truyện này như giấy phép đưa Nam Cao bước vào làng văn, sánh bên các nhà văn đã nổi danh như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Vũ Trọng Phụng… Trước cách mạng, Nam Cao tập trung vào hai đề tài chính là người nông dân bị bần cùng hóa và người trí thức nghèo. Ở đề tài thứ nhất, nổi bật lên là các tác phẩm: Chí Phèo(1941), Trẻ con không được ăn thịt chó (1942), Lão Hạc (1943), Một bữa no (1943), Một đám cưới (1944).Viết về đề tài này, Nam Cao tập trung khắc họa bức tranh chân thực về nông thôn Việt Nam đói nghèo xơ xác trong những năm 1940-1945 cùng số phận của những người nông dân bị bần cùng hóa, lưu manh hóa, bị cự tuyệt quyền làm người. Những con người khốn khổ ấy càng hiền lành, càng nhẫn nhục chịu đựng thì càng bị chà đạp phũ phàng.
Viết về người nông dân, Nam Cao đã chân thực khi thể hiện cả những điểm mạnh cũng như điểm yếu của họ. Ông không tô hồng, không bôi nhọ và phơi bày mọi thứ một cách công bằng nhất, thực nhất, qua đó lên án mạnh mẽ xã hội thực dân phong kiến đã hủy hoại nhân hình, nhân tính, làm xói mòn nhân cách của những người dân lương thiện. Về đề tài người trí thức nghèo, có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như Những truyện không muốn viết (1942), Trăng sáng (1943), Đời thừa (1943), Quên điều độ (1943), tiểu thuyết Sống mòn (1944). Qua những tác phẩm này, Nam Cao đã miêu tả sâu sắc tấn bi kịch tinh thần của người tri thức nghèo.
Đó là những giáo khổ trường tư, những nhà văn túng quẫn, những viên chức nghèo…Người tri thức trong tác phẩm của Nam Cao phần lớn đều là những 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com con người có tài năng, tâm huyết, ôm ấp hoài bão to lớn nhưng không thực hiện được, thậm chí nhân cách cũng đứng trước nguy cơ bị xói mòn. Đa phần những tri thức ấy bị dồn vào tình trạng sống mòn, sống thừa… Thời gian viết và số lượng tác phẩm để lại của ông không nhiều, nếu so với các tác giả cùng thời thì có thể thấy khối lượng tác phẩm của Nam Cao thật sự khiêm tốn: hai tiểu thuyết ngắn, dăm bảy chục truyện ngắn, ký, một kịch, dăm mười truyện ngắn cho thiếu nhi…Số lượng tuy ít ỏi là thế nhưng những tác phẩm của ông thực sự gây ấn tượng mạnh, luôn ám ảnh người đọc, tạo khả năng cho người đọc đồng sáng tạo cùng với tác giả. Những trang văn của Nam Cao thực sự là “những dòng văn xuôi mọc cánh” khiến bao thế hệ độc giả không ngừng tốn giấy mực khai thác, khám phá và phát hiện các tầng giá trị của những tác phẩm đã trở thành mẫu mực cho thể loại truyện ngắn, truyện dài. Đương thời, so với các nhà văn hiện thực phê phán như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng…hay các nhà văn trong Tự Lực văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam thì Nam Cao là người đến muộn.
Nhưng ngay từ lúc trình làng, “với một lối riêng” ông đã xác định được cái riêng độc đáo của mình. Buổi đầu, sáng tác của Nam Cao vẫn còn bị ảnh hưởng bởi bầu không khí của văn chương lãng mạn lúc đó, tuy nhiên ông không chạy theo những thị hiếu thời thượng mà nhanh chóng vượt qua cảm hứng thi vị hóa, duy mĩ hóa lúc bấy giờ. Nam Cao biết rằng cái giỏi của mình ở đâu, không viển vông, không mộng mị, tất cả đều được thử thách qua thực tế. Theo lời kể của nhà văn Tô Hoài trong Người và tác phẩm Nam Cao thì vốn Nam Cao nhút nhát, ít nói nhưng cũng có những lúc bồi hồi, “con ma thiên tài đến tưng nịnh, xui giục anh, công kênh anh ngồi lên đầu cuộc sống của mọi người”.
Lắm lần chuyện vui hoặc quá chén, anh chàng gầy gò leo khoeo ấy mặt đỏ lên, “vừa rung đùi vừa nói băm băm bàn tay, chửi bới rất hùng hổ, coi giời bằng vung, coi ai cũng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng cứt”. Chẳng vậy mà anh chàng ấy dám phát biểu rằng Gorki viết cũng xoàng, Lỗ Tấn thì khá hơn một tý, mình sâu tí nữa thì có thể kịp Shekhop Trần Đăng lạnh như đá. Tiểu thuyết của tao sẽ…và hoa chân múa tay. Nhưng khi cái “bốc” ấy qua rồi, thì Nam Cao lại trở về lầm lũi, cặm cụi làm việc, suy nghĩ.
Ông xem mình thật đáng xấu hổ quá và thầm chửi bản thân. Nam Cao là một trong số ít nhà văn có quan điểm cá nhân về việc làm nghệ thuật và sáng tác theo tôn chỉ đã đưa ra. Sự miệt mài, nhiệt thành với đời, với văn của ông được thể hiện rõ trên từng trang sách, đó là một trong những điều góp phần tạo nên thành công của ông trên con đường văn chương. Trăng sáng - Tuyên ngôn nghệ thuật của Nam Cao và bước ngoặt trong hành trình sáng tác Trăng sáng (viết 1942) được coi là tác phẩm đánh dấu bước ngoặt trong hành trình sáng tác của Nam Cao.