Chương 1. ĐỐI TƯỢNG, NHIÊM vụ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu. 19 đại nhung có thê thấy mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội đã đuợc quan tâm sâu sắc, những tu tuởng này đã có ảnh huờng râ't lớn đến châu Âu sau này. Trong thời kỳ Trung cổ, những tư tưởng vê' con người và xã hội chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Thiên Chúa giáo.
Tuy vê' mặt phương pháp luận, nhiều nhà tư tưởng, tiêu biểu là St.Thomas (1225-1274) đã cho rằng các quan hệ của con người là do Chúa Trời xếp đặt nhung họ đã đặt mối quan tâm vào các mối quan hệ liên nhân cách, sự liên kết con người trong xã hội, đây là một đóng góp cho sự phát triêh cưa tâm lý học xã hội. ơ phương Đông cô - Trung đại cũng có một số tư tưởng triết học của Ấn Độ và Trung Hoa bàn vê môi quan hệ giữa cá nhân và xã hội, chằng hạn như quan điếm của đạo Bàlamôn cho rằng tâm lý, tư duy, nhân cách của con người ở các đăng câp khác nhau là khác nhau và do thần Brahman quyết định. Quan điểm của Nho giáo ở Trung Hoa lại cho rằng con người có bản tính thiện nhưng muốn duy trì và phát triêh tâm tính thì phải do giáo dục và tất cả đều do ý trời. Các tư tưởng triết học phương Đông tuy không được kế thừa trong khoa học nhưng vẫn còn sức ảnh hưởng đên xã hội Á - Đông hiện đại.
Thời kỳ Cận đại không có những môc thời gian chính xác nhưng chúng ta có thế nhận thây rằng, đó là giai đoạn chủ nghĩa tư bản bắt đầu hình thành và phát triển cùng với những tiến bộ vượt bậc vê' khoa học tự nhiên, kỹ thuật cũng như sự nở rộ các học thuyết xã hội. Quan niệm vê' con người và xã hội trờ thành đê' tài thu hút sự quan tâm đặc biệt của các nhà khoa học. Nổi bật trong các tư tướng thế kỷ XVII là quan niệm của Descartes (1596-1650): "Tôi tư duy, vậy tôi tổn tại", con người là một thực thể lý trí và cái hướng dẫn lý trí là ý thức và ý thức là cái hướng dân cho hành vi. Bên cạnh đó là tư tưởng của các nhà luân lý học như La Rochefort, La Bruyere, coi trọng kinh nghiệm và tính cách trong việc lý giải hành vi con người, hướng đến những giá trị xã hội.
Charles Montesquieu (1689-1755) nhà tư tưởng Pháp đã đưa ra nhận định 20 GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HOC XĂ HÔI Sự hình thành nên tâm lý của các nhóm xã hội bị quy định bởi vô vàn các hiện tượng và sự vật: Tôn giáo, luật lệ, quản lý, phong tục, tập quán, kinh nghiệm, khí hậu. Johann Gottfriend Herder (1744-1803) nghiên cứu vê' sự phức tạp trong nhận thức giữa các nhóm xã hội và phát hiện các thành tô' ảnh hưởng đên tâm lý của các nhóm xã hội. Ông cho rằng, tấm lý của các nhóm xã hội hòa quyện với văn hóa và được hình thành từ trong văn hóa. Những học thuyêl được xem là mở đường cho tâm lý học xã hội hiện đại, gắn với tên tuổi các nhà lý luận như: Hobber, Locke và Rousseau.
Hobber quan tâm đêh ba vâh đề cơ bản: Bản năng của con người bị hạn chế và cô lập như thê' nào từ những người cùng tầng lóp hoặc từ tầng lớp đôi lập của xã hội; tại sao con người tự đặt mình vào các mối liên kết với người khác; thiết lập các quy tắc đạo đức từ hai vấn đề trên. Locke lại quan tâm đêh mối quan hệ giữa con người với xã hội và Nhà nước, con người luôn luôn sôhg trong xã hội, nhà nước trở thành phương tiện để châh chỉnh những sai trái, bất công và bảo vệ những quyền lợi chính đáng của con người về cuộc sống, tự do và sở hữu. Được đánh giá cao nhất là những tư tường của Rousseau. Ông cũng nghiên cứu những bản năng của con người, tiếp đến là mối quan hệ tương tác giữa các cá nhân với nhau, giữa cá nhân và xã hội.
Ông đã chỉ ra vâh đề trật tự xã hội là bất khả xâm phạm và được xây dựng trên lợi ích của tất cả mọi người. Các cá nhân sống trong xã hội phải tương tác với nhau và đảm bảo trật tự xã hội. Như vậy, tư tưởng về việc phân tích đặc điểm tâm lý xã hội đã xuất hiện rất sớm. Tuy nhiên, đêh cuôi thế kỷ XIX, những nghiên cứu tâm lý xã hội vẫn chưa thế tách ra để thành ngành khoa học riêng biệt.
Nó vẫn chỉ là thành tố trong các nghiên cứu triết học, sử học, dân tộc học, xã hội học, đạo đức học. Từ những tư tưởng về con ngirời và xã hội trong thời cổ đại cho đêh các lý thuyết khoa học cận đại, tâm lý học xã hội đã trải qua những bước phát triển trong lòng các khoa học khác, nhũng vấn đê' lý luận và thực tiên nảy sinh ỏ ranh giới của các khoa học làm xuất hiện nhu cầu về một ngành khoa học mới. ĐỐI TƯƠNG, NHIỆM VỊ) VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu. Tàm lý học xã hội trở thành một khoa học độc lập Đối với tâm lý học xã hội, hai khoa học nền tảng chính là xã hội học và tâm lý học.
Một số xu hướng tâm lý - xã hội học cuôì thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX đóng vai trò làm cơ sở cho sự ra đời tâm lý học xã hội là: + Auguste Comte (1798-1857): ông được coi là cha đẻ của xã hội học. Ông quan niệm cá nhân là một thực thế xã hội, quan tâm nghiên cứu cách thức tồn tại của con người trong xã hội. Comte quan tâm đến nhóm gia đình và nhấn mạnh rằng, đơn vị xã hội thực sự là gia đình, nhờ nó mà các thiết chế xã hội phát triển. Chức năng của gia đình là duy trì nòi giống và nuôi dưỡng lòng vị tha của con người, từ mái ấm gia đình, cá nhân sẽ trở thành thành viên có ích cho xã hội.
+ Gabriel Tarde (1843-1904): nghiên cứu vai trò của sự bắt chước. Theo quan điểm của Tarde trong tác phẩm "Những quy luật của sự bắt chước” hành vi xã hội không có lời giải thích nào khác ngoài việc sử dụng ý tưởng vê' sự bắt chước. Ông quan tâm đến hành vi xã hội trong một số điều kiện nhát định xuất hiện những thành phần xúc cảm. Ông mở ra hướng nghiên cứu về những cơ chế tâm lý xã hội như ảnh hưởng xã hội, sự bat chước, dư luận và thái độ.
+ Emile Durkheim (1858-1917) quan tâm đến vấn đê' ảnh hưởng của vai trò, ý nghĩa xã hội đêh quyết định của cá nhân, mức độ hòa nhập của cá nhân vào xã hội. Anh hưởng xã hội tác động lên hành vi cá nhân thông qua các quy tắc xã hội. Ông cho rằng xã hội không thể quy thành từ các cá nhân, cũng như những biểu tượng của tập thê’ khác với những biểu tượng và những xúc cảm của các cá nhân. + Gustave Lebon (1841-1931) có đóng góp nổi bật về những nghiên cứu tâm lý đám đông.
Ông quan niệm rằng, đám đông là một thực thể tạm thời bao gồm những yếu tố không thuần nhất nhưng lại gắn bó với nhau trong một khoảnh khắc, giống hệt như 22 GIÁO TRÌNH TÂM LÝ HỌC XÃ HỘI những tế bào của một cơ thế sông. Những tính chất của cơ thể được tạo thành này rất khác với những tính chất của mỗi tê bào trong đó. Theo Lebon bâ't kỳ đám đông nào cũng được gọi là đại chúng. Như vậy, đám đông đem lại cho mỗi cá nhân một thứ tâm lý đại chúng, khiến cho họ cảm thây, sưy nghĩ và hành động một cách hoàn toàn khác với tâm lý mà mồi cá nhân trong đó cảm thấy và hành động một cách cô lập.
Tức là, khi ở trong đám đông, cá nhân có xư hướng trở thành một người khác. Ông là người mở đường cho những nghiên cứu về "hành vi đại chúng"- một vấn đề rất quan trọng trong tâm lý học xã hội. Wundt (1832-1920) - nhà tâm lý học người Đức, là người không chỉ sáng lập ra phòng thực nghiệm tâm lý đầu tiên trên thế giới vào năm 1879, mà còn là người đặt nền móng cho việc xây dựng tâm lý học dân tộc với tính cách là một trong những lĩnh vực đầu tiên của tri thức tâm lý học xã hội. Ông đã kế thừa và phát triển tư tưởng của Moritz Lazarus (1824-1903) và Heymann Steinthal (1823-1899) được viết trong "Tạp chí tắm lý học các dân tộc và ngôn ngữ" xuất bản năm 1859 ở Đức về sự cần thiết phải phát hiện ra những quy luật của đời sống tâm hổn không chỉ ở môi cá nhân, mà ở toàn thê cộng đồng, nơi mỗi người hành động trong một thể thông nhất.
Từ năm 1900 đên 1920, ông hoàn thành cuốn sách Tâm lý học dân tộc gổm 10 tập. Đây là một đóng góp quan trọng vào việc hình thành tâm lý học xã hội. Theo Wundt, tâm lý học xã hội là một phân ngành cần thiết của tâm lý học. Wundt cho rằng, không nên nghiên cứu con người như một cá thê đơn lẻ, biệt lập mà cần phải nghiên cứu con người trong những mối quan hệ xã hội.
Wundt đã sử dụng phương pháp thực nghiệm trong phòng thực nghiệm để nghiên cứu các quá trình tâm lý nội tâm của cá nhân. Theo ông, tâm lý học đại cương về cá nhân ở mức độ nào đó có thê’ tương quan với tâm lý học liên nhân cách và có đóng góp hiệu quả cho nghiên cứu tâm lý học xã hội. Tuy nhiên, thực nghiệm lại không thích hợp để nghiên cứu tâm lý học dân tộc nên phải áp dụng các phương pháp như nghiên cứu sản phẩm văn hóa: ngôn ngữ, văn học nghệ thuật, phong tục. ĐỐI TƯỢNG, NHIỆM vụ VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu.
Watson (1878-1958): Vào đầu thế kỷ XX, tâm lý học nội quan lâ'y ý thức làm đối tượng nghiên cứu đi vào khủng hoảng. Chủ nghĩa hành vi đã ra đời nhằm xác định hướng nghiên cứu các đối tượng có thể đo lường, kiểm nghiệm được chứ không phải cái trừu tượng như ý thức. Thuyêt hành vi của Watson đưa tâm lý học xã hội đến việc tìm hiểu con người trong các hoàn cánh xã hội, trưóc hết là hành vi con người. Tâm lý học hành vi đã có vai trò to lớn trong việc xác định đối tượng nghiên cứu cho tâm lý học xã hội là hành vi xã hội của con người.
+ Kurt Lewin (1890-1947) là một đại biểu xuât sắc của trường phái tâm lý học Gestalt ở Đức đầu thế kỷ XX. Ông đã quan tâm sâu sắc về vấn đề nhóm, đặc biệt là nhóm nhỏ - một vâh đề rất quan trọng trong tâm lý học xã hội.