Khảo sát quá trình biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ giai đoạn 1887-1932 - Lê Thị Thùy Nga

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

2018

180
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ

Nghiên cứu về quá trình biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến 1932 là một lĩnh vực quan trọng của ngôn ngữ học lịch sử. Giai đoạn này đánh dấu sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của văn học Nam Bộ với những đặc trưng ngôn ngữ riêng biệt. Phương ngữ Nam Bộ chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm tiếng Khmer, tiếng Hoa và tiếng Pháp. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ này tạo nên một hệ thống từ vựng phong phú và đa dạng. Các tác phẩm tiểu thuyết Nam Bộ thời kỳ này phản ánh rõ nét sự biến đổi ngôn ngữ trong cộng đồng người Việt phương Nam. Hệ thống từ vựng cổ được du nhập từ các vùng miền khác, kết hợp với từ vay mượn từ tiếng Pháp và tiếng Hán. Từ vựng được tạo ra nhờ đọc biến âm cũng là một hiện tượng đáng chú ý. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt tại vùng đất Nam Bộ.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tập trung vào hệ thống từ vựng tiếng Việt trong các tác phẩm tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến năm 1932. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các tác phẩm văn học tiêu biểu của vùng Nam Bộ được sáng tác trong giai đoạn này. Các văn bản được lựa chọn phản ánh đời sống xã hội, văn hóa và ngôn ngữ của cộng đồng người Việt tại Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ được xem xét trong mối quan hệ với các phương ngữ khác của tiếng Việt. Nghiên cứu chú trọng phân tích cách sử dụng từ vựng, xu hướng biến đổi và sự phát triển của ngôn ngữ văn chương.

1.2. Phương pháp nghiên cứu áp dụng

Phương pháp nghiên cứu chính bao gồm phương pháp thống kê, phân tích ngữ liệu và so sánh đối chiếu. Phương pháp thống kê được sử dụng để xác định tần suất xuất hiện của các loại từ vựng khác nhau. Phương pháp phân tích ngữ liệu giúp nhận diện các hiện tượng biến đổi từ ngữ trong văn bản. Phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng để tìm ra sự khác biệt giữa từ vựng Nam Bộ với các phương ngữ khác. Ngoài ra, phương pháp lịch sử-nguồn gốc cũng được sử dụng để truy nguyên nguồn gốc của các từ vay mượn. Phương pháp ngữ cảnh giúp hiểu nghĩa của từ trong từng tác phẩm cụ thể.

II. Phân tích hệ thống từ vựng và biến đổi trong văn chương Nam Bộ

Hệ thống từ vựng trong văn chương Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến 1932 thể hiện sự đa dạng và phong phú đáng kể. Từ vựng cổ được du nhập từ các vùng miền khác thông qua quá trình di cư của người dân. Người dân từ miền Bắc và miền Trung mang theo ngôn ngữ đặc trưng của quê hương vào Nam Bộ. Từ vựng gốc Hán chiếm tỷ lệ đáng kể trong hệ thống từ ngữ thời kỳ này. Các từ Hán được Việt hóa về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa để phù hợp với cách phát âm địa phương. Từ vay mượn của tiếng Pháp xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt để gọi tên những sự vật, hiện tượng mới. Hiện tượng biến âm xảy ra ở nhiều vị trí khác nhau trong cấu trúc từ. Biến âm có thể xuất hiện ở âm chính, âm đầu hoặc thanh điệu. Sự chuyển biến này phản ánh quá trình thích ứng ngôn ngữ tự nhiên của cộng đồng người Việt tại Nam Bộ.

2.1. Từ vay mượn từ tiếng Hán và tiếng Pháp

Từ vay mượn tiếng Hán trong văn chương Nam Bộ thể hiện qua nhiều dạng thức khác nhau. Có sự xuất hiện của từ gốc Hán ghép với nhau, từ gốc Hán ghép với từ thuần Việt. Các từ như kinh tâm (giật mình), trạo phu (người chèo thuyền), kế mẫu (mẹ kế) phản ánh ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Hán. Từ vay mượn tiếng Pháp chủ yếu dùng để gọi tên những sự vật mới du nhập từ phương Tây. Các từ như ximăng, ôtô, xe lửa được sử dụng phổ biến trong văn bản. Quá trình Việt hóa từ mượn diễn ra liên tục, tạo nên sự phong phú cho từ vựng tiếng Việt.

2.2. Hiện tượng biến âm trong từ vựng Nam Bộ

Biến âm là hiện tượng phổ biến trong từ vựng tiếng Việt tại Nam Bộ. Trường hợp biến âm ở âm chính tạo ra những biến thể ngữ âm độc đáo cho phương ngữ. Biến âm ở âm đầu thể hiện sự khác biệt phát âm so với tiếng chuẩn. Biến âm ở thanh điệu phản ánh đặc trưng ngữ âm riêng của vùng miền. Hiện tượng biến âm do kỵ húy cũng được ghi nhận trong văn bản. Các hiện tượng này cho thấy sự linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ của người dân Nam Bộ. Biến âm góp phần tạo nên bản sắc riêng cho phương ngữ vùng đất phương Nam.

III. Phương pháp phân loại và đánh giá sự biến đổi từ ngữ

Việc phân loại hệ thống từ vựng trong văn chương Nam Bộ đòi hỏi phương pháp khoa học và hệ thống. Từ vựng được phân loại theo nguồn gốc, bao gồm từ thuần Việt, từ Hán-Việt và từ vay mượn. Phân loại theo cấu trúc từ gồm từ đơn và từ ghép. Từ ghép được chia thành từ ghép Hán-Hán, Hán-Việt và Việt-Hán. Phương pháp đánh giá sự biến đổi dựa trên tỷ lệ xuất hiện của từng loại từ trong văn bản. Xác định xu hướng sử dụng từ vựng qua các thời kỳ khác nhau. So sánh tần suất sử dụng từ cổ với từ mới trong tác phẩm. Đánh giá mức độ phổ biến của từ vay mượn trong cộng đồng. Phương pháp này giúp nhận diện rõ nét quá trình biến đổi ngôn ngữ. Kết quả phân loại cung cấp cơ sở khoa học cho nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử.

3.1. Phân loại từ vựng theo nguồn gốc hình thành

Từ vựng trong văn chương Nam Bộ được phân loại thành nhiều nhóm theo nguồn gốc. Nhóm từ thuần Việt chiếm tỷ lệ lớn, phản ánh nền tảng ngôn ngữ bản địa. Nhóm từ Hán-Việt được du nhập qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Từ vay mượn tiếng Pháp xuất hiện chủ yếu từ thời Pháp thuộc. Nhóm từ địa phương đặc trưng cho phương ngữ Nam Bộ. Từ ngữ chuyên ngành được sử dụng trong các lĩnh vực cụ thể. Sự phân loại này giúp hiểu rõ cơ cấu từ vựng của phương ngữ. Mỗi nhóm từ có vai trò và chức năng riêng trong hệ thống ngôn ngữ. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên sự đa dạng cho từ vựng tiếng Việt tại Nam Bộ.

3.2. Đánh giá xu hướng biến đổi qua các giai đoạn

Xu hướng biến đổi từ ngữ trong văn chương Nam Bộ thể hiện rõ qua các giai đoạn. Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, từ cổ và từ Hán chiếm tỷ lệ cao. Từ vay mượn tiếng Pháp tăng dần theo thời gian tiếp xúc văn hóa. Giai đoạn đầu thế kỷ XX, quá trình Việt hóa từ mượn diễn ra mạnh mẽ. Từ địa phương được chuẩn hóa và phổ biến rộng rãi hơn. Sự chuyển biến từ văn ngôn sang quốc ngữ ảnh hưởng lớn đến hệ thống từ vựng. Xu hướng sử dụng từ mới phản ánh sự phát triển xã hội và văn hóa. Đánh giá xu hướng giúp nhận diện quy luật biến đổi ngôn ngữ qua thời gian.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu từ ngữ văn chương Nam Bộ

Nghiên cứu về quá trình biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến 1932 mang lại nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống từ vựng phản ánh rõ nét quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa tại vùng đất phương Nam. Từ vay mượn từ tiếng Hán, tiếng Pháp và các ngôn ngữ khác tạo nên sự phong phú cho từ vựng. Hiện tượng biến âm cho thấy sự linh hoạt trong phát âm của người dân địa phương. Quá trình Việt hóa từ mượn thể hiện khả năng thích ứng của tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu có ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ học lịch sử. Nghiên cứu cũng cung cấp tài liệu quý giá cho việc biên soạn từ điển phương ngữ. Phát hiện về sự biến đổi từ ngữ giúp hiểu sâu hơn về lịch sử phát triển tiếng Việt tại Nam Bộ. Đây là đóng góp có ý nghĩa cho ngành ngôn ngữ học Việt Nam.

4.1. Ứng dụng trong nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ

Kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Tài liệu được sử dụng trong giảng dạy môn ngôn ngữ học lịch sử tại các trường đại học. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu cho việc biên soạn từ điển tiếng Việt và từ điển phương ngữ. Phát hiện về biến đổi từ ngữ hỗ trợ công tác bảo tồn di sản ngôn ngữ. Ứng dụng trong nghiên cứu lịch sử văn hóa Nam Bộ qua ngôn ngữ. Kết quả cũng hữu ích cho việc so sánh phương ngữ tiếng Việt với các ngôn ngữ khác trong khu vực. Nghiên cứu góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu ngôn ngữ học cho tiếng Việt.

4.2. Hướng phát triển và mở rộng nghiên cứu

Nghiên cứu có thể được mở rộng theo nhiều hướng khác nhau trong tương lai. Mở rộng phạm vi thời gian để khảo sát biến đổi từ ngữ đến giai đoạn hiện đại. Bổ sung ngữ liệu từ các loại hình văn học khác ngoài tiểu thuyết. Nghiên cứu chuyên sâu về một nhóm từ vựng cụ thể như từ Hán-Việt hoặc từ mượn Pháp. Áp dụng phương pháp ngôn ngữ học tính toán để phân tích dữ liệu lớn. So sánh biến đổi từ ngữ giữa Nam Bộ với các vùng miền khác. Nghi cứu mối quan hệ giữa biến đổi ngôn ngữ và biến đổi xã hội. Hướng phát triển này sẽ làm phong phú thêm kiến thức về lịch sử tiếng Việt.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Lê Thị Thùy Nga KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI CỦA TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG VĂN CHƯƠNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX- 1932 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hệ đào tạo: CỬ NHÂN TÀI NĂNG Khóa học: 2014- 2018 TP. HỒ CHÍ MINH THÁNG 6, NĂM 2018 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN Lê Thị Thùy Nga KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI CỦA TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG VĂN CHƯƠNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX- 1932 KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGÀNH NGÔN NGỮ HỌC Hệ đào tạo: CỬ NHÂN TÀI NĂNG Khóa học: 2014- 2018 NGƯƠI HƯỚNG DẪN: T.S HUỲNH BÁ LÂN TP. HỒ CHÍ MINH THÁNG 6, NĂM 2018 2 3 LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành tốt khóa luận của mình với đề tài: “ KHẢO SÁT QUÁ TRÌNH BIẾN ĐỔI CỦA TỪ NGỮ TIẾNG VIỆT TRONG VĂN CHƯƠNG NAM BỘ GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX- 1932”, trước tiên tôi xin gửi lời cám ơn chân thành tới TS Huỳnh Bá Lân người đã tận tình chỉ dẫn, động viên và giúp đỡ tôi có nền tảng kiến thức cũng như nguồn tư liệu cần thiết trong quá trình thực hiện khóa luận. Tôi xin chân thành cám ơn những góp ý, nhận xét từ quý Thầy Cô đã cho tôi nhiều ý kiến quý báu. Ngoài ra tôi cũng xin được gửi lời cám ơn đến các Thầy Cô khoa Văn học và Bộ môn Ngôn ngữ học, cán bộ thư viện, bạn cùng lớp, cũng như các bạn Cử nhân tài năng K14 đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình làm bài. Mặc dù đã cố gắng rất nhiều trong quá trình thực hiện , tuy nhiên năng lực của bản thân còn có hạn vì vậy khóa luận sẽ còn tồn tại không ít lỗi cũng như những thiếu sót. Kính mong nhận được sự góp ý từ quý Thầy Cô và các bạn để có thể hoàn thiện tốt hơn các bài nghiên cứu về sau. Kính thư Lê Thị Thùy Nga 4 MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN . 5 PHẦN MỞ ĐẦU . Lý do chọn đề tài . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Đối tượng nghiên cứu . Phạm vi nghiên cứu . Lịch sử nghiên cứu . Phương pháp nghiên cứu . Đóng góp của luận văn . Cấu trúc khóa luận. 14 CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG . Một số vấn đề về tiểu thuyết và tiểu thuyết Nam Bộ . Khái niệm tiểu thuyết . Tiểu thuyết Nam Bộ . Khái niệm phương ngữ. Khái niệm Từ và Ngữ cố định . Khái niệm Từ . Khái niệm Ngữ cố định . Đặc điểm về nghĩa của ngữ cố định . Phân loại ngữ cố định. 32 CHƯƠNG II: HOẠT ĐỘNG CỦA TỪ TRONG CÁC TÁC PHẨM TIỂU THUYẾT NAM BỘ CUỐI THỂ KỲ XIX ĐẾN NĂM 1932. Phân tích nguồn ngữ liệu. Phân tích cách sử dụng từ vựng trong tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến năm 1932 . Xu hướng sử dụng từ vựng trong tiểu thuyết Nam Bộ thế kỷ XIX đến năm 1932 . Hệ thống từ vựng cổ du nhập từ các vùng miền khác . 37 a) Từ vựng xuất hiện theo quá trình di cư của người dân từ các địa phương khác. 38 b) Từ vựng cổ của người dân Việt lúc bấy giờ. 39 c) Từ vựng gốc Hán . 42 d) Từ vay mượn của tiếng Pháp để gọi những sự vật mới. Từ vựng được tạo ra nhờ đọc biến âm . 49 a) Trường hợp biến âm ở âm chính. 50 b) Các trường hợp biến âm ở âm đầu . 52 c) Các trường biến âm ở thanh điệu. 53 d) Các trường hợp biến âm do kỵ húy .Sự chuyển biến và xu hướng sử dụng của hệ thống từ vựng Nam Bộ .1: Sự chuyển biến . 55 a) Chuyển biến về mặt từ vựng . 56 b) Chuyển biến về mặt ngữ nghĩa. Xu hướng sử dụng trong văn chương . 60 CHƯƠNG 3: NGỮ CỐ ĐỊNH CỦA PHƯƠNG NGỮ NAM BỘ TRONG CÁC TIỂU THUYẾT NAM BỘ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẦU THẾ KỶ XX . Kết quả điều tra. Cách sử dụng thành ngữ trong các tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX . Thành ngữ được sử dụng nguyên mẫu theo thành ngữ toàn dân 64 3. Thành ngữ gốc Hán. 64 a) Thành ngữ gốc Hán được dùng nguyên khối cả vỏ ngữ âm Hán Việt cấu trúc và nội dung ngữ nghĩa . 65 b) Thành ngữ mượn Hán dưới hình thức chuyển dịch hoàn toàn thành tiếng Việt tương đương .Thành ngữ thuần Việt . Thành ngữ toàn dân biến thể theo phương ngữ Nam Bộ . Biến thể về thứ tự các thành tố . Biến thể về số lượng thành tố . Biến thể về mặt từ vựng . Biến thể ngữ âm . Biến đổi cú pháp . Thành ngữ của riêng người dân Nam Bộ sáng tạo . Tạo thành ngữ mới theo motif THẤT a THẤT b; ĐỒNG a ĐỒNG b; NGHI a NGHI b . Tạo lập thành ngữ mới từ chữ Hán . Tạo lập thành ngữ mới từ thành ngữ toàn dân . Những cụm câu nói mộc mạc của người dân Nam Bộ . Ngôn ngữ sử dụng trong tiểu thuyết Nam Bộ . 101 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 108 7 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Nam Bộ là một vùng đất mới được khai phá và hình thành sau muộn so với các vùng khác ở việt Nam. Mặc dù là vùng đất mới song nơi đây là nơi quy tụ nhiều nét đẹp văn hóa, nhiều phong tục tập quán của người dân di cư mang đến. Một vùng đất luôn cởi mở với cái mới, tiếp thu cái mới để làm phong phú thêm cho cuộc sống nơi đây. Tuy không thật sự có độ dày về lịch sử văn học song không thể phủ nhận Nam Bộ lại chính là cái nôi cho nhiều thể loại văn học mới du nhập, thịnh hành và phát triển. Tiểu thuyết viết bằng chữ Quốc ngữ xuất hiện ở Nam Bộ rất sớm, sự ra đời của cuốn tiểu thuyết Thầy Lazaro Phiền năm 1887, tức là chỉ sau 25 năm kể từ thời gian mà triều đình nhà Nguyễn ký hiệp ước Nhâm Tuất năm 1862 chính thức chấp nhận sự có mặt có thực dân Pháp trên vùng đất này. Nói điều này để thấy rằng chỉ trong một thời gian ngắn một thể loại văn học mới cùng với một thế hệ nhà văn mới ra đời và được công chúng nhanh chóng đón nhận. Các nhà văn Nam Bộ chính là bộ phận đi đầu đưa chữ Quốc ngữ đến gần hơn với công chúng, chính họ cũng đã tạo được những thành tựu quan trọng để đưa tiểu thuyết phát triển rộng rãi và có những bước tiến vượt bậc vào thời gian sau này. Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX được coi là khoảng thời gian hoàng kim của tiểu thuyết văn xuôi chữ Quốc ngữ, đồng thời cũng là thời kỳ hoàng kim của văn học tiểu thuyết tại Nam Bộ. Cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX ghi dấu đội ngũ nhà văn nổi tiếng trong quá trình cách tân nền văn học tại Nam Bộ. Chúng ta không thể không kể đến những nhà văn thời kỳ đầu như Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Trọng Quản là những 2 nhà văn có công trong quá trình cách tân nền văn học cổ, khai phá nền văn học mới đặc biệt phải kể đến thể loại tiểu thuyết. Thế hệ nhà văn tiếp nối những thành tựu mà các nhà văn trước đã khai phá thành công và đã tạo ra được nhiều tiếng vang lớn, trở thành những cây bút tiêu biểu khi nhắc đến văn học Nam Bộ như Hồ Biểu Chánh, Lê Hoằng Mưu,… Hầu hết các tác phẩm đều khai thác khía cạnh con người và cuộc sống của người dân nơi đây và họ phải là những nhà văn yêu mến mảnh đất này, con người nơi đây thì mới có thể sáng tác những áng văn chương hay, mẫu mực và được công chúng nhiều năm qua đón nhận. Các nhà văn vừa được nhắc tên ở trên được coi là các nhà văn điển hình của tiểu thuyết chữ Quốc ngữ tại Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, tuy vậy không phải tất cả họ đều sinh ra và lớn lên tại vùng đất này. Tuy nhiên vì tình yêu với mảnh đất mới này mà họ gắn bó. Nam Bộ vốn là vùng đất mới có nhiều bộ phận người dân di cư từ nhiều nơi đến, do đó vùng đất này được xem là vùng đất có hệ thống từ ngữ phong phú. Bên cạnh đó, văn hóa Pháp, Trung Quốc cũng đã ảnh hưởng trực tiếp đến vốn từ vựng của người dân nơi đây. Điều này được các nhà văn thể hiện rất rõ trong các tác phẩm của mình, bởi họ chính là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa mới. Không phải ngẫu nhiên mà Nam Bộ trở thành vùng đất tiên phong trong việc sáng tác thể loại văn học mới. Những điều kiện kinh tế chính trị và xã hội đã trở thành điều kiện tiên quyết và tất yếu để Nam Bộ trở thành vùng đất tiên phong trong công cuộc đổi mới văn học. Hệ thống từ ngữ trong đời sống của con người nơi đây phong phú và hết sức đa dạng, ngôn ngữ viết như chính lời ăn tiếng nói hằng ngày, giản dị như cách mà các nhà văn sử dụng chúng trong văn chương. Hệ thống ngôn ngữ luôn được tiếp biến để phù hợp với thời cuộc, ngôn ngữ Nam Bộ là minh chứng rõ ràng nhất cho nhận định trên. Theo thời gian có nhiều 3 từ ngữ đã mất đi, nhiều từ ngữ mới được thêm và góp phần làm phong phú thêm cho hệ thống từ vựng nơi đây. Nói không quá khi văn học chữ Quốc ngữ chính là tiền đề văn hóa quan trọng và mấu chốt trong việc hình thành và lưu giữ những giá trị văn hóa trong đời sống người dân Nam Bộ. Nhà văn Nam Bộ viết văn làm thơ, ngoài những lý do về cảm xúc, qua các tác phẩm của mình, các nhà thơ, nhà văn đã lưu giữ văn hóa, nếp sống của con người Nam Bộ qua một thứ tiếng Việt ngọt ngào, “đằm thắm của những người phụ nữ Nam Bộ, một thứ tiếng Việt khỏe khoắn, bộc trực của những người đàn ông Nam Bộ”.1 Chính vì yêu mảnh đất nơi đây, có quá nhiều thứ đặc biệt, thú vị mà bản thân chưa từng được trải nghiệm, đã thôi thúc chúng tôi tìm hiểu nhiều hơn về vùng đất này. Điều dễ dàng nhất để có cái nhìn bao quát toàn cảnh về con người và cuộc sống nơi đây chính là trang sách theo sự biến chuyển của thời gian.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ