Khảo sát quá trình biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ giai đoạn 1887-1932 - Lê Thị Thùy Nga

Nghiên cứu sự biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ từ 1887-1932. Phân tích chi tiết ảnh hưởng lịch sử và xu hướng thay đổi ngôn ngữ.

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

180
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ

Nghiên cứu về quá trình biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến 1932 là một lĩnh vực quan trọng của ngôn ngữ học lịch sử. Giai đoạn này đánh dấu sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của văn học Nam Bộ với những đặc trưng ngôn ngữ riêng biệt. Phương ngữ Nam Bộ chịu ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm tiếng Khmer, tiếng Hoa và tiếng Pháp. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ này tạo nên một hệ thống từ vựng phong phú và đa dạng. Các tác phẩm tiểu thuyết Nam Bộ thời kỳ này phản ánh rõ nét sự biến đổi ngôn ngữ trong cộng đồng người Việt phương Nam. Hệ thống từ vựng cổ được du nhập từ các vùng miền khác, kết hợp với từ vay mượn từ tiếng Pháp và tiếng Hán. Từ vựng được tạo ra nhờ đọc biến âm cũng là một hiện tượng đáng chú ý. Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn toàn diện về sự phát triển ngôn ngữ tiếng Việt tại vùng đất Nam Bộ.

1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tập trung vào hệ thống từ vựng tiếng Việt trong các tác phẩm tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến năm 1932. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các tác phẩm văn học tiêu biểu của vùng Nam Bộ được sáng tác trong giai đoạn này. Các văn bản được lựa chọn phản ánh đời sống xã hội, văn hóa và ngôn ngữ của cộng đồng người Việt tại Nam Bộ. Phương ngữ Nam Bộ được xem xét trong mối quan hệ với các phương ngữ khác của tiếng Việt. Nghiên cứu chú trọng phân tích cách sử dụng từ vựng, xu hướng biến đổi và sự phát triển của ngôn ngữ văn chương.

1.2. Phương pháp nghiên cứu áp dụng

Phương pháp nghiên cứu chính bao gồm phương pháp thống kê, phân tích ngữ liệu và so sánh đối chiếu. Phương pháp thống kê được sử dụng để xác định tần suất xuất hiện của các loại từ vựng khác nhau. Phương pháp phân tích ngữ liệu giúp nhận diện các hiện tượng biến đổi từ ngữ trong văn bản. Phương pháp so sánh đối chiếu được áp dụng để tìm ra sự khác biệt giữa từ vựng Nam Bộ với các phương ngữ khác. Ngoài ra, phương pháp lịch sử-nguồn gốc cũng được sử dụng để truy nguyên nguồn gốc của các từ vay mượn. Phương pháp ngữ cảnh giúp hiểu nghĩa của từ trong từng tác phẩm cụ thể.

II. Phân tích hệ thống từ vựng và biến đổi trong văn chương Nam Bộ

Hệ thống từ vựng trong văn chương Nam Bộ cuối thế kỷ XIX đến 1932 thể hiện sự đa dạng và phong phú đáng kể. Từ vựng cổ được du nhập từ các vùng miền khác thông qua quá trình di cư của người dân. Người dân từ miền Bắc và miền Trung mang theo ngôn ngữ đặc trưng của quê hương vào Nam Bộ. Từ vựng gốc Hán chiếm tỷ lệ đáng kể trong hệ thống từ ngữ thời kỳ này. Các từ Hán được Việt hóa về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa để phù hợp với cách phát âm địa phương. Từ vay mượn của tiếng Pháp xuất hiện ngày càng nhiều, đặc biệt để gọi tên những sự vật, hiện tượng mới. Hiện tượng biến âm xảy ra ở nhiều vị trí khác nhau trong cấu trúc từ. Biến âm có thể xuất hiện ở âm chính, âm đầu hoặc thanh điệu. Sự chuyển biến này phản ánh quá trình thích ứng ngôn ngữ tự nhiên của cộng đồng người Việt tại Nam Bộ.

2.1. Từ vay mượn từ tiếng Hán và tiếng Pháp

Từ vay mượn tiếng Hán trong văn chương Nam Bộ thể hiện qua nhiều dạng thức khác nhau. Có sự xuất hiện của từ gốc Hán ghép với nhau, từ gốc Hán ghép với từ thuần Việt. Các từ như kinh tâm (giật mình), trạo phu (người chèo thuyền), kế mẫu (mẹ kế) phản ánh ảnh hưởng sâu sắc của tiếng Hán. Từ vay mượn tiếng Pháp chủ yếu dùng để gọi tên những sự vật mới du nhập từ phương Tây. Các từ như ximăng, ôtô, xe lửa được sử dụng phổ biến trong văn bản. Quá trình Việt hóa từ mượn diễn ra liên tục, tạo nên sự phong phú cho từ vựng tiếng Việt.

2.2. Hiện tượng biến âm trong từ vựng Nam Bộ

Biến âm là hiện tượng phổ biến trong từ vựng tiếng Việt tại Nam Bộ. Trường hợp biến âm ở âm chính tạo ra những biến thể ngữ âm độc đáo cho phương ngữ. Biến âm ở âm đầu thể hiện sự khác biệt phát âm so với tiếng chuẩn. Biến âm ở thanh điệu phản ánh đặc trưng ngữ âm riêng của vùng miền. Hiện tượng biến âm do kỵ húy cũng được ghi nhận trong văn bản. Các hiện tượng này cho thấy sự linh hoạt và sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ của người dân Nam Bộ. Biến âm góp phần tạo nên bản sắc riêng cho phương ngữ vùng đất phương Nam.

III. Phương pháp phân loại và đánh giá sự biến đổi từ ngữ

Việc phân loại hệ thống từ vựng trong văn chương Nam Bộ đòi hỏi phương pháp khoa học và hệ thống. Từ vựng được phân loại theo nguồn gốc, bao gồm từ thuần Việt, từ Hán-Việt và từ vay mượn. Phân loại theo cấu trúc từ gồm từ đơn và từ ghép. Từ ghép được chia thành từ ghép Hán-Hán, Hán-Việt và Việt-Hán. Phương pháp đánh giá sự biến đổi dựa trên tỷ lệ xuất hiện của từng loại từ trong văn bản. Xác định xu hướng sử dụng từ vựng qua các thời kỳ khác nhau. So sánh tần suất sử dụng từ cổ với từ mới trong tác phẩm. Đánh giá mức độ phổ biến của từ vay mượn trong cộng đồng. Phương pháp này giúp nhận diện rõ nét quá trình biến đổi ngôn ngữ. Kết quả phân loại cung cấp cơ sở khoa học cho nghiên cứu ngôn ngữ học lịch sử.

3.1. Phân loại từ vựng theo nguồn gốc hình thành

Từ vựng trong văn chương Nam Bộ được phân loại thành nhiều nhóm theo nguồn gốc. Nhóm từ thuần Việt chiếm tỷ lệ lớn, phản ánh nền tảng ngôn ngữ bản địa. Nhóm từ Hán-Việt được du nhập qua nhiều thời kỳ lịch sử khác nhau. Từ vay mượn tiếng Pháp xuất hiện chủ yếu từ thời Pháp thuộc. Nhóm từ địa phương đặc trưng cho phương ngữ Nam Bộ. Từ ngữ chuyên ngành được sử dụng trong các lĩnh vực cụ thể. Sự phân loại này giúp hiểu rõ cơ cấu từ vựng của phương ngữ. Mỗi nhóm từ có vai trò và chức năng riêng trong hệ thống ngôn ngữ. Quá trình tiếp xúc ngôn ngữ tạo nên sự đa dạng cho từ vựng tiếng Việt tại Nam Bộ.

3.2. Đánh giá xu hướng biến đổi qua các giai đoạn

Xu hướng biến đổi từ ngữ trong văn chương Nam Bộ thể hiện rõ qua các giai đoạn. Giai đoạn cuối thế kỷ XIX, từ cổ và từ Hán chiếm tỷ lệ cao. Từ vay mượn tiếng Pháp tăng dần theo thời gian tiếp xúc văn hóa. Giai đoạn đầu thế kỷ XX, quá trình Việt hóa từ mượn diễn ra mạnh mẽ. Từ địa phương được chuẩn hóa và phổ biến rộng rãi hơn. Sự chuyển biến từ văn ngôn sang quốc ngữ ảnh hưởng lớn đến hệ thống từ vựng. Xu hướng sử dụng từ mới phản ánh sự phát triển xã hội và văn hóa. Đánh giá xu hướng giúp nhận diện quy luật biến đổi ngôn ngữ qua thời gian.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu từ ngữ văn chương Nam Bộ

Nghiên cứu về quá trình biến đổi từ ngữ tiếng Việt trong văn chương Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến 1932 mang lại nhiều kết quả quan trọng. Hệ thống từ vựng phản ánh rõ nét quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa tại vùng đất phương Nam. Từ vay mượn từ tiếng Hán, tiếng Pháp và các ngôn ngữ khác tạo nên sự phong phú cho từ vựng. Hiện tượng biến âm cho thấy sự linh hoạt trong phát âm của người dân địa phương. Quá trình Việt hóa từ mượn thể hiện khả năng thích ứng của tiếng Việt. Kết quả nghiên cứu có ứng dụng trong giảng dạy ngôn ngữ học lịch sử. Nghiên cứu cũng cung cấp tài liệu quý giá cho việc biên soạn từ điển phương ngữ. Phát hiện về sự biến đổi từ ngữ giúp hiểu sâu hơn về lịch sử phát triển tiếng Việt tại Nam Bộ. Đây là đóng góp có ý nghĩa cho ngành ngôn ngữ học Việt Nam.

4.1. Ứng dụng trong nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ

Kết quả nghiên cứu có nhiều ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực ngôn ngữ học. Tài liệu được sử dụng trong giảng dạy môn ngôn ngữ học lịch sử tại các trường đại học. Nghiên cứu cung cấp dữ liệu cho việc biên soạn từ điển tiếng Việt và từ điển phương ngữ. Phát hiện về biến đổi từ ngữ hỗ trợ công tác bảo tồn di sản ngôn ngữ. Ứng dụng trong nghiên cứu lịch sử văn hóa Nam Bộ qua ngôn ngữ. Kết quả cũng hữu ích cho việc so sánh phương ngữ tiếng Việt với các ngôn ngữ khác trong khu vực. Nghiên cứu góp phần xây dựng cơ sở dữ liệu ngôn ngữ học cho tiếng Việt.

4.2. Hướng phát triển và mở rộng nghiên cứu

Nghiên cứu có thể được mở rộng theo nhiều hướng khác nhau trong tương lai. Mở rộng phạm vi thời gian để khảo sát biến đổi từ ngữ đến giai đoạn hiện đại. Bổ sung ngữ liệu từ các loại hình văn học khác ngoài tiểu thuyết. Nghiên cứu chuyên sâu về một nhóm từ vựng cụ thể như từ Hán-Việt hoặc từ mượn Pháp. Áp dụng phương pháp ngôn ngữ học tính toán để phân tích dữ liệu lớn. So sánh biến đổi từ ngữ giữa Nam Bộ với các vùng miền khác. Nghi cứu mối quan hệ giữa biến đổi ngôn ngữ và biến đổi xã hội. Hướng phát triển này sẽ làm phong phú thêm kiến thức về lịch sử tiếng Việt.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Lvtn 2018 khảo sát quá trình biến đổi của từ ngữ tiếng việt trong văn chương nam bộ giai đoạn cuối thế kỷ xix 1932

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1. Một số vấn đề về tiểu thuyết và tiểu thuyết Nam Bộ 1. Khái niệm tiểu thuyết Tiểu thuyết có thể gọi là thể loại khá mới ở Việt Nam, tuy nhiên với các quốc gia có nền văn học phát triển thì khái niệm tiểu thuyết không còn quá xa lạ. Trên thế giới, tiểu thuyết đã có mầm mống từ thế kỷ XIII, XIV song thời kỳ chín muồi thực sự của tiểu thuyết Phương Tây cũng như tiểu thuyết thế giới vào khoảng những năm 30 của thể kỷ XIX với những tiểu thuyết cổ điển của Banzac, L.Tonxtoi,…Ở Việt Nam từ những năm 20 của thế kỷ XX người ta đã nhắc đến nhiều về tiểu thuyết.

Như vậy tiểu thuyết là một trong những thể loại văn học có tuổi đời khá ít ở Việt Nam. Khái niệm tiểu thuyết không có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu, cho dù là trên thế giới hay ở Việt Nam. Hêghen gọi tiểu thuyết là “Sử thi thị dân”, còn Belinski gọi tiểu thuyết là “sử thi của đời tư" do cách mà tiểu thuyết hướng đến “ miêu tả những tình cảm dục vọng và những biến cố thuộc đời sống riêng tư và đời sống nội tâm của con người”, [24,3]. Mặc dù có những màu sắc khác nhau song tựu chung việc mà tiểu thuyết đã, đang và sẽ hướng tới chính là việc trần thuật, miêu tả cuộc sống bình thường, hằng ngày của đời sống cá nhân và đời sống xã hội trong quá trình hình thành và phát triển.

Nội dung của tiểu thuyết xoay quanh đời sống của một hoặc vài cá nhân trong các mối quan hệ xã hội, qua cốt truyện chặt chẽ đồng thời nhà văn thể hiện tư tưởng, tình cảm của bản thân gửi gắm qua hành động, số phận và suy nghĩ của các nhân vật. Qua tiểu thuyết của từng thời đại, người đọc nhận thức được thế giới xung quanh cũng như là tính tất yếu của tự nhiên và xã hội qua từng thời kỳ lịch sử qua ngòi bút tài hoa của các nhà văn. Tiểu thuyết khai thác hầu hết các khía cạnh trong đời sống: Tình yêu, xã hội- chính trị, lịch sử, giả tưởng,… Sự khác biệt về đề tài, dung lượng hay cốt 14 truyện không phải là điều làm nên sự khác biệt giữa tiểu thuyết này với tiểu thuyết kia, hay tác giả này với tác giả kia, điều làm nên sự khác biệt và ghi danh không ít tiểu thuyết gia cũng như tác phẩm của họ trường tồn với thời gian chính là phong cách. Phong cách viết, hướng trần thuật, giọng điệu cũng như hướng khai thác của tiểu thuyết, cách nhà văn đưa tâm ý, nguyệ vọng và triết lý của bản thân vào trong tác phẩm đã làm nên phong cách của cuốn tiểu thuyết.

Tiểu thuyết xuất hiện sớm nhất ở các quốc gia Châu Âu, nền văn học cổ đại Hy La đã ghi nhận một số tiểu thuyết xuất hiện sớm như: Truyện Tristan và Iseult. Thời Phục hưng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của tiểu thuyết, chất tiểu thuyết bộc lộ trong hầu hết các thể loại như truyện, trường ca hay thậm chí là kịch với các tác phẩm của G.Shakespeare ,… nhưng để nói đến sự phát triển vượt bậc của tiểu thuyết phải kể đến Don Quijote- nhà quý tộc tài ba xứ Mancha của M. Đến thế kỷ XX, tiểu thuyết phát triển trong sự đa dạng về nhiều đề tài, nhiều khía cạnh và hình thức thể hiện, ở nhiều nền văn học, tiểu thuyết vẫn là bộ phận thể loại được nhiều sáng tác nhất, cũng là thể loại được đông đảo độc giả quan tâm và đón nhận tại nhiều nền văn học trên thế giới. Đồng thời tiểu thuyết còn đóng vai trò là “nguồn tài liệu quan trọng”2 [18, 332] cho việc chuyển thể qua các thể loại khác như sân khấu, điện ảnh hay truyền hình.

Cho đến giai đoạn hiện nay, tiểu thuyết ở nước ta đã có những bước phát triển mạnh mẽ so với thời kỳ sơ khai. Tiểu thuyết không và chưa bao giờ dừng lại, nó tiếp tục có những bước tiến vượt bậc và tiếp tục vận động theo chiều hướng phát triển tích cực qua thời gian. Ở Việt Nam, có rất nhiều định nghĩa về tiểu thuyết theo từng giai đoạn phát triển, khái niệm tiểu thuyết không có sự đồng nhất với nhau. Trong lúc phong trào viết tiểu thuyết mới khởi phát, Phạm Quỳnh đã viết: “Tiểu thuyết là một truyện viết bằng văn xuôi đặt ra để tả tình tự người ta, phong tục xã hội, hay là 2 Dẫn theo Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

15 những sự lạ, tích kỳ, đủ làm cho người đọc có hứng thú” [30,1]. Do đó khái niệm tiểu thuyết nên hiểu một cách uyển chuyển, mềm dẻo. Tiểu thuyết Nam Bộ Tiểu thuyết Nam Bộ xuất hiện ở miền Nam Việt Nam rất sớm, nơi đây được xem là cái nôi phát triển của tiểu thuyết Việt Nam, thậm chí là cái nôi của nền văn học hiện đại Việt Nam. Ở Trung Quốc giai đoạn chín muồi của tiểu thuyết cổ điển là giai đoạn Minh Thanh, với các cuốn tiểu thuyết nổi tiếng như Tam quốc chí diễn nghĩa, Thủy hử truyện, Tây du ký, Kim Bình Mai, Hồng lâu mộng,… Văn học Việt Nam đặc biệt là tiểu thuyết Việt Nam nhất là ở Nam Bộ, nơi có nền văn học tiểu thuyết phát triển sớm và mạnh mẽ trong cả nước trước khi có ảnh hưởng của nền tiểu thuyết phương Tây, đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tiểu thuyết Trung Quốc.

Tiểu thuyết Nam Bộ chịu ảnh hưởng sâu sắc và có mối quan hệ khăng khít với tiểu thuyết Trung Quốc. Theo Nguyễn Khuê, văn xuôi chữ Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX phát triển qua các giai đoạn: Một là phiên âm truyện thơ Nôm và phiên dịch truyện văn xuôi chữ Hán, ví dụ như Janneaux phiên âm Lục Vân Tiên năm 1873, Trương Vĩnh Ký phiên âm Kim Vân Kiều năm 1878,… Hai là phiên dịch tác phẩm văn học Trung quốc, ví dụ như cuốn Trung dung do Trương Vĩnh Ký dịch năm 1875, Đại học (1887) bên cạnh đó còn có Huỳnh Tịnh Của với 112 truyện dịch,… Ba là sáng tác truyện thơ lục bát chữ Quốc ngữ - hậu thân của truyện thơ Nôm, ví dụ như cuốn U tình lục (viết 1909, in năm 1913) của Hồ Biểu Chánh, hay cuốn Vậy mới phải viết năm 1913, xuất bản năm 1918, đây là truyện phóng tác một tác phẩm văn chương của Pháp. 16 Ba giai đoạn trên vừa phát triển văn xuôi chữ Quốc ngữ ở Nam Bộ vừa phục vụ thị hiếu của người đọc. Bên cạnh đó còn thúc đẩy các nhà văn yêu nước sáng tác tiểu thuyết, truyện văn xuôi Quốc ngữ, xây dựng nền tảng cho tiểu thuyết Quốc ngữ ở miền Nam ra đời.

Tiểu thuyết ở Nam Bộ chủ yếu viết về con người và đời sống vùng đất Nam Bộ, song điều đáng nói là không chỉ có các nhà văn Nam Bộ tham gia vào quá trình sáng tác. Nhiều nhà văn mặc dù không sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ song đã ghi dấu ấn trong làng văn học khi viết về vùng đất này. Đây được coi là một đặc điểm khởi sắc của văn học Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX. Một số nhà văn làm nên tên tuổi và góp phần định hình nền văn học Nam Bộ mà chúng ta đặc biệt phải nhắc tên như: Tiểu thuyết được sáng tác do những nhà văn sinh ra và lớn lên ở Nam Bộ như Nguyễn Trọng Quản, Trần Thiên Trung, Lê Hoằng Mưu, Biến Ngũ Nhi, Nguyễn Chánh Sắt, Tân Dân Tử,… Tiểu thuyết được sáng tác bởi những nhà văn có gốc gác ở các vùng đất khác đến sông và làm việc ở Nam Bộ như Bửu Đình, Phạm Minh Kiên, Hồng Tiêu,… Tiểu thuyết được xuất bản ở Nam Bộ nhưng do các nhà văn ở nơi khác gửi đến.

Những nhà văn này thường xuyên tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, văn học trên báo chí đặc biệt ở Sài Gòn. Tên tuổi của học ít nhiều đã được công chúng yêu văn học ở Nam Bộ biết đến như Đạm Phương nữ sử, Huỳnh Thị Bảo Hòa,… Tiểu thuyết Nam Bộ bắt đầu từ những năm 1882, đánh dấu nền văn học mới ra đời ở Nam Bộ và được công chúng đón nhận. Sau một khoảng thời gian định hình, thịnh hành và phát triển rực rõ, nền văn học vùng đất này thụt lùi so với nền văn học đất Bắc. Tuy vậy, những đóng góp của nền văn học này đáng để chúng ta công nhận và nghiên cứu một cách nghiêm túc.

17 Năm 1882, Trương Vĩnh Ký đã xuất bản tập Chuyện khôi hài chỉ 16 trang là truyện văn xuôi Quốc ngữ đầu tiên. Trong quãng thời gian từ năm 1882 đến năm 1887 đã có rất nhiều cuốn truyện văn xuôi của nhiều tác giả ra đời như Chuyện giải buồn của Huỳnh Tịnh Của (1885), Chuyện đời xưa (1886) của Trương Vĩnh Ký,… Năm 1887 là năm đánh dấu cuốn tiểu thuyết Quốc ngữ đầu tiên xuất hiện, cuốn Truyện Thầy Lazaro Phiền năm 1887 của Nguyễn Trọng Quản, với những cách tân mới mẻ trong nội dung và hình thức, Truyện Thầy Lazaro Phiền được xem là cột mốc đánh dấu sự hình thành của nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Sau Truyện Thầy Lazaro Phiền, hơn 20 năm sau tức là năm 1910 truyện Phan Yên ngoại sử tiết phụ gian truân của Trương Duy Toản, Hoàng Tố Anh hàm oan (1910) của Trần Thiên Trung. Đến năm 1920, tiểu thuyết văn xuôi chữ Quốc ngữ mới thật sự phát triển mạnh mẽ, đây được xem là giai đoạn phát triển đỉnh cao của tiểu thuyết Nam Bộ với hàng loạt tác gia, tác phẩm lớn xuất hiện và ghi dấu trên văn đàn văn học Việt Nam.

Chỉ trong năm 1920, chúng ta có thể kể đến các tác phẩm: Nghĩa hiệp kỳ duyên của nhà văn Nguyễn Chánh Sắt, Tô Huệ Nhi ngoại sử và Oan hồng quần còn có tên gọi khác là Phùng Kim Huê ngoại sử của Lê Hoằng Mưu, tác phẩm Kim thời dị sử (1921) của Biến Ngũ Nhy, và hàng loạt tiểu thuyết khác của Hồ Biểu Chánh. Tiểu thuyết Nam Bộ giai đoạn cuối thế kỷ XIX - đầu thể kỷ XX bên cạnh những đặc điểm giống với tiểu thuyết Trung Quốc đã có những đặc điểm riêng. Con đường phát triển của tiểu thuyết Nam Bộ gắn liền với con đường của chủ nghĩa hiện thực. Từ những tác phẩm tiểu thuyết chữ Quốc ngữ đầu tiên như Truyện Thầy Lazaro Phiền viết năm 1887 của Nguyễn Trọng Quản đến những cuốn tiểu thuyết viết sau những năm 20 của thế kỷ XX, khi tiểu thuyết văn xuôi 18 Quốc ngữ thật sự phát triển ồ ạt, các nhà văn chủ trương lấy đề tài trong lịch sử, xã hội Việt Nam để sáng tác tiểu thuyết.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ