Thành ngữ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma và Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái

Khám phá những thành ngữ và cách nói dân gian phong phú trong tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma. Tìm hiểu ý nghĩa sâu sắc, giá trị văn hóa và cách vận

Trường đại học

Trường Đại học Vinh

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

233
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về thành ngữ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma và Mười lẻ một đêm

Thành ngữ là bộ phận quan trọng trong kho tàng ngôn ngữ dân gian Việt Nam. Đây là những cụm từ cố định, mang nghĩa tổng thể, được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp và văn chương. Nguyễn Khắc Trường và Hồ Anh Thái là hai nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam đương đại. Tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma tái hiện đời sống nông thôn Bắc Bộ với nhiều biến động xã hội. Tác phẩm Mười lẻ một đêm mang phong cách hiện đại, phản ánh cuộc sống đô thị phức tạp. Cả hai tiểu thuyết đều sử dụng thành ngữ một cách phong phú và sáng tạo. Nghiên cứu thành ngữ trong hai tác phẩm này giúp hiểu rõ cách nhà văn vận dụng vốn ngôn ngữ dân gian vào sáng tác. Phân tích trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa cho thấy những điểm tương đồng và khác biệt đáng chú ý. Qua đó, giá trị nghệ thuật của thành ngữ trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại được làm sáng tỏ. Đây là hướng nghiên cứu có ý nghĩa cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn ngôn ngữ học.

1.1. Khái niệm và đặc trưng cơ bản của thành ngữ

Thành ngữ là đơn vị ngôn ngữ đa từ, có cấu tạo cố định và nghĩa tổng thể không thể suy từ nghĩa của các thành phần cấu tạo. Đặc trưng nổi bật nhất là tính cố định về hình thức ngữ âm và tính ổn định về ngữ nghĩa. Thành ngữ khác với tục ngữ ở chỗ không mang tính phán đoán, không phải câu hoàn chỉnh có nội dung giáo huấn. Trong văn bản nghệ thuật, thành ngữ có khả năng biểu đạt hàm súc, tạo hình ảnh sinh động cho lời văn. Nhà văn sử dụng thành ngữ nhằm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho ngôn ngữ nhân vật và lời trần thuật.

1.2. Giới thiệu hai tác giả và tác phẩm nghiên cứu

Nguyễn Khắc Trường sinh năm 1947 tại Hà Nam, nổi tiếng với tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma phản ánh đời sống nông thôn Bắc Bộ thời kỳ đổi mới. Hồ Anh Thái sinh năm 1956 tại Hà Nội, là nhà văn có phong cách hiện đại, sáng tạo. Tác phẩm Mười lẻ một đêm của ông thể hiện cách viết độc đáo, kết hợp yếu tố hiện thực và siêu thực. Hai tiểu thuyết đại diện cho hai phong cách khác nhau của văn học Việt Nam đương đại. Việc đặt cạnh nhau giúp nhận diện rõ hơn vai trò của thành ngữ trong mỗi phong cách sáng tác.

II. Phân tích thành ngữ trên bình diện ngữ pháp trong hai tiểu thuyết

Phân tích thành ngữ trên bình diện ngữ pháp là bước đi quan trọng trong nghiên cứu. Nguyễn Khắc Trường sử dụng thành ngữ chủ yếu trong lời thoại của nhân vật nông thôn. Các thành ngữ có cấu tạo phong phú, từ dạng so sánh đến dạng lặp. Hồ Anh Thái lại vận dụng thành ngữ linh hoạt trong cả lời thoại lẫn độc thoại nội tâm. Thống kê cho thấy tần suất xuất hiện thành ngữ trong hai tác phẩm có sự khác biệt đáng kể. Thành ngữ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma thường mang tính dân gian, gần gũi đời sống thôn quê. Thành ngữ trong Mười lẻ một đêm đa dạng hơn về nguồn gốc và cách sử dụng. Khả năng làm thành phần câu của thành ngữ cũng có sự khác biệt giữa hai nhà văn. Nguyễn Khắc Trường thường để thành ngữ đóng vai trò vị ngữ hoặc bổ ngữ. Hồ Anh Thái sáng tạo hơn khi tách thành ngữ thành câu riêng biệt. Những khác biệt này phản ánh rõ phong cách nghệ thuật riêng của mỗi tác giả.

2.1. Cấu tạo thành ngữ trong hai tác phẩm

Thành ngữ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma có cấu tạo chủ yếu ở dạng so sánh cân xứng và dạng lặp. Các thành ngữ như 'câm như hến', 'vui như tết' được sử dụng phổ biến. Trong Mười lẻ một đêm, cấu tạo thành ngữ đa dạng hơn với các dạng ẩn dụ, hoán dụ và so sánh. Hồ Anh Thái đặc biệt sáng tạo khi tách thành ngữ so sánh thành kết cấu chủ vị riêng. Cách biến đổi này tạo hiệu quả nghệ thuật bất ngờ, tăng sức biểu đạt cho ngôn ngữ nhân vật.

2.2. Chức năng cú pháp của thành ngữ trong văn bản

Thành ngữ trong hai tiểu thuyết đảm nhận nhiều chức năng cú pháp khác nhau. Trong Mảnh đất lắm người nhiều ma, thành ngữ thường làm vị ngữ hoặc bổ ngữ cho câu. Nguyễn Khắc Trường sử dụng thành ngữ theo nguyên thể, ít biến đổi cấu trúc. Trong Mười lẻ một đêm, Hồ Anh Thái để thành ngữ làm trạng ngữ, định ngữ hoặc tách thành câu độc lập. Cách sử dụng linh hoạt này cho thấy khả năng sáng tạo ngôn ngữ cao của nhà văn. Mỗi chức năng cú pháp mang lại hiệu quả biểu đạt riêng biệt trong việc khắc họa nhân vật và tình huống truyện.

III. Phương pháp sử dụng thành ngữ trên bình diện ngữ nghĩa của hai nhà văn

Trên bình diện ngữ nghĩa, cách sử dụng thành ngữ trong hai tiểu thuyết có nhiều điểm đáng chú ý. Nguyễn Khắc Trường chủ yếu sử dụng thành ngữ theo nghĩa gốc, giữ nguyên giá trị biểu đạt truyền thống. Nhà văn muốn ngôn ngữ nhân vật nông thôn gần gũi, chân thực và dễ hiểu. Hồ Anh Thái lại có xu hướng khai thác nghĩa mới, tạo sự bất ngờ cho người đọc. Thành ngữ trong Mười lẻ một đêm thường được đặt trong ngữ cảnh mới, mang tầng nghĩa phong phú hơn. Cách sử dụng thành ngữ phản ánh rõ quan niệm sáng tác của mỗi nhà văn. Nguyễn Khắc Trường hướng đến sự mộc mạc, giản dị của đời sống thôn quê. Hồ Anh Thái khám phá chiều sâu tâm lý phức tạp của con người hiện đại. Sự khác biệt này tạo nên phong cách ngôn ngữ riêng biệt cho mỗi tác giả. Nghiên cứu ngữ nghĩa thành ngữ giúp hiểu sâu hơn thông điệp nghệ thuật trong từng tác phẩm. Đây là góc nhìn quan trọng để đánh giá tài năng sử dụng ngôn ngữ của nhà văn.

3.1. Sử dụng thành ngữ theo nghĩa gốc và nghĩa chuyển

Nguyễn Khắc Trường chủ yếu dùng thành ngữ theo nghĩa gốc trong các tình huống giao tiếp đời thường. Cách này phù hợp với lời thoại nhân vật nông thôn, tạo sự tự nhiên và gần gũi. Hồ Anh Thái sử dụng thành ngữ linh hoạt hơn, kết hợp cả nghĩa gốc lẫn nghĩa chuyển. Nhà văn khai thác khả năng tạo nghĩa mới của thành ngữ thông qua ngữ cảnh đặc biệt. Sự chuyển nghĩa này mang lại hiệu quả nghệ thuật bất ngờ, tăng sức biểu đạt và gợi hình cho ngôn ngữ tiểu thuyết.

3.2. Biện pháp tu từ và hiệu quả biểu đạt của thành ngữ

Thành ngữ trong hai tiểu thuyết thường kết hợp với các biện pháp tu từ để tăng hiệu quả biểu đạt. Nguyễn Khắc Trường sử dụng thành ngữ trong lời thoại kết hợp với giọng điệu hài hước, châm biếm. Hồ Anh Thái đặt thành ngữ trong ngữ cảnh độc thoại nội tâm, tạo tầng nghĩa sâu cho nhân vật. Các biện pháp ẩn dụ, hoán dụ được vận dụng linh hoạt bên cạnh thành ngữ. Cách kết hợp này cho thấy khả năng kiểm soát ngôn ngữ điêu luyện của cả hai nhà văn đương đại Việt Nam.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu thành ngữ trong tiểu thuyết

Nghiên cứu thành ngữ trong Mảnh đất lắm người nhiều ma và Mười lẻ một đêm cho thấy nhiều kết quả quan trọng. Cả hai nhà văn đều sử dụng thành ngữ như công cụ nghệ thuật đắc lực trong sáng tác. Nguyễn Khắc Trường thể hiện phong cách mộc mạc, gần gũi qua cách dùng thành ngữ truyền thống. Hồ Anh Thái tạo dấu ấn riêng bằng sự sáng tạo trong việc biến đổi và khai thác thành ngữ. Số lượng thành ngữ trong hai tác phẩm đều đáng kể, phản ánh vốn ngôn ngữ phong phú của tác giả. Về cấu tạo, thành ngữ dạng so sánh chiếm tỷ lệ cao trong cả hai tiểu thuyết. Về chức năng cú pháp, thành ngữ đảm nhận đa dạng các vai trò trong câu. Ứng dụng của nghiên cứu này rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Giáo viên ngữ văn có thể sử dụng kết quả để giảng dạy tác phẩm một cách sinh động. Nhà nghiên cứu ngôn ngữ có thêm tư liệu quý về cách vận dụng thành ngữ trong sáng tác. Nhà văn trẻ có thể học hỏi kinh nghiệm sử dụng ngôn ngữ từ hai bậc tiền bối.

4.1. Ý nghĩa lý luận của nghiên cứu

Nghiên cứu này đóng góp vào kho tàng lý luận về mối quan hệ giữa thành ngữ và sáng tác văn học. Kết quả cho thấy thành ngữ không chỉ là công cụ giao tiếp mà còn là phương tiện nghệ thuật đắc lực. Việc phân tích trên hai bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa tạo khung lý thuyết toàn diện. Nghiên cứu cũng bổ sung hiểu biết về đặc điểm ngôn ngữ tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới. Những phát hiện về sự khác biệt trong cách sử dụng thành ngữ giúp xây dựng mô hình phân tích phong cách ngôn ngữ nhà văn.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong giảng dạy và sáng tác

Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng cao trong nhiều lĩnh vực thực tiễn. Trong giảng dạy ngữ văn, giáo viên có thể dẫn chứng cụ thể để minh họa cách nhà văn sử dụng thành ngữ. Sinh viên và học sinh hiểu sâu hơn về nghệ thuật ngôn ngữ trong tác phẩm văn học. Nhà văn có thể tham khảo cách vận dụng thành ngữ từ hai tác giả để nâng cao kỹ năng viết. Nghiên cứu cũng hữu ích cho biên soạn từ điển thành ngữ và tài liệu giảng dạy ngôn ngữ học.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Thành ngữ trong mảnh đất lắm người nhiều ma của nguyễn khắc trường và mười lẻ một đêm của hồ anh thái

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Một số giới thuyết liên quan đến đề tài Chương 2. Thành ngữ trong tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường và Hồ Anh Thái xét trên bình diện cấu tạo Chương 3. Thành ngữ trong tác phẩm Nguyễn Khắc Trường và Hồ Anh Thái xét trên bình diện ngữ nghĩa 7 Chƣơng 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.

Xung quanh vấn đề thành ngữ 1. Khái niệm thành ngữ Nghiên cứu về thành ngữ từ trước đến nay, vẫn còn một số vấn đề chưa có sự thống nhất cao giữa các nhà nghiên cứu, có thể kể đến một số nhà nghiên cứu tiêu biểu về thành ngữ sau: Tác giả Dương Quảng Hàm (1951), trong Việt Nam văn học sử yếu, lần đầu tiên quan niệm: "Thành ngữ là những lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè."[15] Nguyễn Văn Tu (1968) trong Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, đưa ra nhận xét: "Thành ngữ là từ tố cố định mà các từ trong đó đã mất tính độc lập đến một trình độ cao, kết hợp làm thành một khối vững chắc, hoàn chỉnh. Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từng thành tố (từ) tạo ra. Những thành ngữ này cũng có hình tượng hoặc cũng có thể không có.

Nghĩa của chúng đã khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa nguyên do như từ nguyên học."[59, 147] Hồ Lê (1976) trong cuốn Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại đã đưa ra quan niệm về thành ngữ: "Thành ngữ là những tổ hợp từ có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa dùng để miêu tả một hình ảnh, một hiện tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó."[34, 97] Tác giả Đỗ Hữu Châu (1999), trong Từ vựng ngữ nghĩa Tiếng Việt đã nêu chung khái niệm thành ngữ, trong đó ông xác định thành ngữ tương đương với ngữ cố định như sau: " Nói thành ngữ là các cụm từ cố định hóa là nói chung.Bởi vậy cái quyết định để xác định các ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng cấu tạo câu. Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có thể thay thế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu."[7, 73] 8 Theo Mai Ngọc Chừ (2001), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, đã đưa ra định nghĩa: ''Thành ngữ là cụm từ cố định hoàn chỉnh về cấu trúc và ngữ nghĩa. Nghĩa của chúng có tính hình tượng và gợi cảm'' [14, 157] Nguyễn Thiện Giáp (2008) trong Giáo trình ngôn ngữ học, đã đưa ra định nghĩa: "Thành ngữ(idiom) là những cụm từ trong cơ cấu cú pháp và ngữ nghĩa của chúng có những thuộc tính đặc biệt, chỉ có ở cụm từ đó. Nói cách khác, thành ngữ là một cụm từ mà ý nghĩa của nó không được tạo thành từ ý nghĩa của các từ cấu tạo nên nó"[20, 109] và trong Từ vựng học tiếng Việt, đã đưa ra khái niệm khá ngắn gọn: "Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tình gợi cảm."[18, 22] Hay theo tác giả Hoàng Phê (2010), Từ điển Tiếng Việt, cũng đã đưa ra khái niệm: "Thành ngữ là tập hợp từ cố định đã quen dùng mà nghĩa của nó thường không thể giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa của các từ tạo nên" [51, 1178] Ngoài ra, trong Tục ngữ Việt Nam dưới góc nhìn ngữ nghĩa – ngữ dụng, tác giả Đỗ Thị Kim Liên cũng đã đưa ra các tiêu chí phân loại thành ngữ và tục ngữ về cấu tạo, ngữ nghĩa, chức năng, đích tác động.

Tóm lại, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ dù đã đưa ra nhiều quan điểm về thành ngữ, dựa trên những cơ sở, đặc điểm thuộc tính khác nhau. Chúng tôi xin đưa ra cách hiểu của mình về thành ngữ như sau: Thành ngữ là một cụm từ cố định, có kết cấu vững chắc, có ý nghĩa hoàn chỉnh, giàu hình 9 ảnh, bóng bẩy, được sử dụng nhiều trong giao tiếp, có chức năng tương đương như từ. Đặc trưng thành ngữ Thành ngữ là một bộ phận quan trọng trong vốn từ của một ngôn ngữ, do quá trình giao tiếp và những đặc trưng văn hóa cộng đồng tạo thành. Trong tiếng Việt, thành ngữ chiếm một số lượng khá lớn, vừa phong phú vừa đa dạng, được nhân dân sử dụng thành thục như một công cụ giao tiếp chung nhất.

Thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, thuộc cấp độ từ, cụm từ, có chức năng cấu tạo câu. Xét về đặc trưng, chúng ta thấy thành ngữ có bốn đặc trưng cơ bản sau: về kết cấu, về nghĩa, về sử dụng, về tính văn hóa dân tộc. Đặc trưng về kết cấu Thành ngữ trong tiếng Việt phổ biến là những cụm từ cố định, ổn định cao, kết cấu vững chắc. Điều đó thể hiện rõ ở các mặt như: Số tiếng ổn định, trật tự cố định của các vế.

Số tiếng ổn định: Xét về số lượng tiếng thì thành ngữ có số tiếng ít nhất là 2 tiếng như: rắn mắt, mát tay, vui tính, tay trắng, bó tay, chết thật. Thành ngữ 3 tiếng như: bé hạt tiêu, đẹp như tiên, khô như rang, cứng như đá.Thành ngữ có 4 tiếng như đầu xuôi đuôi lọt, của đau con xót, lên rừng xuống biển, sa cơ bước. chiếm số lượng rất lớn, khoảng 70% thành ngữ tiếng Việt. Thành ngữ kiểu này thường chia làm hai vế tạo nên sự cân đối hài hòa, kết cấu bền chặt, ngữ nghĩa ổn định.

Thành ngữ loại 5 tiếng có số lượng khá ít: vắt cổ chày ra nước, vải thưa che mắt thánh, chạy trời không khỏi ướt. Thành ngữ loại 6 tiếng có số lượng tương đối nhiều, loại này cũng cân đối hài hòa như thành ngữ 4 tiếng: đãi cứt chó lấy vỏ khoai, đâm bị thóc chọc bị gạo, ông nói gà bà nói vịt.Loại thành ngữ 7, 8, 9 chữ trở lên có số lượng cũng ít: lừ đừ như ông từ vào đền, đạp vỏ dưa thấy vỏ dừa mà sợ, chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng, nói đằng quang đà sang đằng rậm. 10 Trật tự các âm tiết ổn định, ít thay đổi (trừ các biến thể): Thành ngữ 4, 6 âm tiết có thể đổi trật tự, nhưng người sử dụng vẫn giữ nguyên vì thói quen. Ví dụ như: chân lấm tay bùn -> chân bùn tay lấm; thượng cẳng chân hạ cẳng tay ->thượng cẳng tay hạ cẳng chân.

Đây là những trường hợp biến thể (dị bản), nó không biểu thị sự thiếu ổn định trong kết cấu thành ngữ. Sự có mặt của từng từ tố trong thành ngữ là ổn định. Chẳng hạn như ăn trên ngồi trốc: trong câu này "trốc" là đầu dùng nhiều ở bắc miền Trung, người miền Bắc và Nam không nói trốc, nhưng vẫn sử dụng. Ý nghĩa của thành ngữ không chịu sự tác động của từng yếu tố trong thành ngữ.

Ví dụ: vắt cối chày ra nước hay vắt cổ chày ra nước cùng đều chỉ sự keo kiệt. Đặc trưng về nghĩa Thành ngữ có đặc trưng nổi bật là tính hoàn chỉnh và bóng bẩy về nghĩa của nó. Nghĩa của thành ngữ thường biểu thị những khái niệm hoặc biểu tượng nói về các thuộc tính, quá trình hay sự vật. Nói một cách khác thì thành ngữ thường biểu hiện giá trị nghĩa bóng theo tính hàm ẩn.

Nghĩa này được biểu hiện ở hai phương diện: nghĩa biểu trưng và và bình diện bậc nghĩa. Nghĩa biểu trưng có cơ sở liên tưởng gắn bó với từng dân tộc, truyền thống, đặc trưng văn hóa, phù hợp với tâm lý dân tộc. Bên cạnh đó xét về bình diện bậc nghĩa, đi từ tiếp xúc hình ảnh (nghĩa đen) đến việc tiếp nhận biểu trưng (nghĩa bóng). Ví dụ: ngứa mồm ngứa miệng Nghĩa đen: Cảm giác mồm miệng bị cái gì đó tác động gây ngứa, muốn gãi ở mồm miệng.

Nghĩa bóng: Thích nói xen vào của người khác dù không có liên quan gì đến mình. 11 Như vậy thành ngữ là loại đơn vị từ vựng biểu thị nghĩa đôi. Hai nghĩa ấy gần như song song tồn tại: Nghĩa đen là cơ sở, là gốc; nghĩa bóng hay nghĩa phái sinh là nghĩa được sử dụng trong hành chức, là nghĩa hình thành nhờ quá trình biểu trưng hóa. Đặc trưng về sử dụng Thành ngữ trong tiếng Việt được sử dụng tương đương như từ.

Điều này được thể hiện trên hai phương diện: Nghĩa và ngữ pháp. Xét về nghĩa: Nghĩa của thành ngữ không phải là tổng hợp ý nghĩa biểu trưng của các thành tố (tầng nghĩa bóng). Nhờ yếu tố này mà trong khi sử dụng, người ta có thêm vào một vào, bớt đi, đảo vị trí một số yếu tố cũng không làm ảnh hưởng đến nghĩa của chúng; ngược lại chính nhờ điều này mà thành ngữ có thêm nhiều biến thể, tạo nên sự phong phú đa dạng uyển chuyển trong biểu đạt. Về mặt ngữ pháp: Thành ngữ đảm nhận tất cả các chức năng giống như từ.

Đặc trưng về văn hóa Thành ngữ là biểu hiện của cách nói, lối suy nghĩ, tư duy dân tộc. Người Việt thường có lối nói ví von, hình ảnh, ẩn dụ, khoa trương, cách dẫn dắt mềm mại, uyển chuyển.Trong văn hóa truyền thống, thành ngữ là những ngữ liệu cô đọng, hàm súc và hình ảnh nhất được tích lược từ xa xưa và không ngừng bổ sung để tăng giá trị biểu đạt, giao tiếp. Tóm lại thành ngữ tiếng Việt rất linh hoạt, uyển chuyển trong sử dụng, đặc biệt là trong sáng tạo văn chương nghệ thuật nhằm tạo ra giá trị biểu đạt cao. Thành ngữ đã góp phần quan trọng làm phong phú và đa dạng cho ngôn từ và diễn đạt của tiếng Việt.

Phân biệt thành ngữ với tục ngữ và thành ngữ trong văn bản nghệ thuật 1. Phân biệt thành ngữ với tục ngữ Thành ngữ và tục ngữ là hai đối tượng nghiên cứu của khoa học, cả hai đều được sử dụng khá phong phú và đa dạng trong đời sống hằng ngày 12 của nhân dân. Nếu như thành ngữ là đối tượng nghiên cứu của ngành ngôn ngữ, bộ môn từ vựng ngữ nghĩa nói riêng; thì tục ngữ là đối tượng nghiên cứu của văn học dân gian. Thế nhưng để phân biệt và hiểu đúng thành ngữ, tục ngữ trong một số trường hợp cũng không hề đơn giản.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ