Tổng quan nghiên cứu

Thành ngữ là một trong những đơn vị ngôn ngữ đặc biệt, phản ánh sâu sắc nếp nghĩ, cách cảm và truyền thống văn hóa của dân tộc Việt Nam. Khảo sát thực tế trong 761 trang văn xuôi đương đại qua hai tác phẩm tiêu biểu cho thấy có tới 449 thành ngữ được huy động để tạo dựng thế giới nghệ thuật. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm sáng tỏ ý nghĩa, cấu tạo ngữ pháp và phương thức hành chức của thành ngữ trong tác phẩm văn học sau năm 1986. Đề tài hướng đến mục tiêu xác lập bức tranh toàn diện về sự vận động của thành ngữ tiếng Việt trong quá trình chuyển dịch từ không gian nông thôn truyền thống sang không gian đô thị mở cửa.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào hai tiểu thuyết xuất sắc gồm "Mảnh đất lắm người nhiều ma" của Nguyễn Khắc Trường ra mắt năm 1988 với bối cảnh làng quê ven sông Công thuộc tỉnh Thái Nguyên, và "Mười lẻ một đêm" của Hồ Anh Thái xuất bản năm 2006 tái hiện không gian đô thị hiện đại. Khoảng cách thời gian gần 20 năm giữa hai tác phẩm là cơ sở lý tưởng để đối sánh phong cách trần thuật và sự phát triển của ngôn ngữ văn xuôi.

Ý nghĩa khoa học của đề tài được lượng hóa rõ ràng khi phân tích 382 lượt xuất hiện thành ngữ của Nguyễn Khắc Trường và 131 lượt xuất hiện của Hồ Anh Thái. Công trình không chỉ cung cấp hệ thống dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về tần suất sử dụng thành ngữ, mà còn bổ sung góc nhìn dụng học mới mẻ cho ngành ngôn ngữ học ứng dụng và thi pháp học văn xuôi Việt Nam đương đại.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết tiểu thuyết đa thanh của Mikhail Bakhtin, nhấn mạnh tính phức âm, tính phân tầng và bản chất đối thoại của ngôn ngữ văn xuôi nghệ thuật. Trong không gian tiểu thuyết, ngôn ngữ không thuần túy là công cụ miêu tả mà trở thành sự phát ngôn thể hiện nhãn quan giá trị của các chủ thể xã hội khác nhau.

Đồng thời, luận văn kế thừa toàn diện hệ thống lý thuyết thành ngữ học tiếng Việt từ các học giả uy tín như Hoàng Văn Hành, Đỗ Hữu Châu, Mai Ngọc Chừ và Nguyễn Thiện Giáp. Hệ thống này định danh thành ngữ là cụm từ cố định có tính hoàn chỉnh về cấu trúc, tính bóng bẩy về ngữ nghĩa và tương đương với từ về mặt ngữ pháp. Công trình vận dụng 4 khái niệm then chốt: thành ngữ nguyên dạng, thành ngữ biến thể, thành ngữ so sánh và thành ngữ ẩn dụ hóa. Cơ sở phân biệt thành ngữ với tục ngữ dựa trên 4 tiêu chí nghiêm ngặt về cấu tạo, ngữ nghĩa, chức năng ngữ pháp và đích tác động do tác giả Đỗ Thị Kim Liên đề xuất.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn ngữ liệu nghiên cứu được trích xuất trực tiếp từ 423 trang của tiểu thuyết "Mảnh đất lắm người nhiều ma" do Nhà xuất bản Hội Nhà văn ấn hành năm 2010 và 338 trang của tiểu thuyết "Mười lẻ một đêm" do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2013. Luận văn sử dụng phương pháp chọn mẫu toàn diện với quy mô khảo sát 100% ngữ liệu thành ngữ xuất hiện trong toàn bộ văn bản của cả hai tác giả.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu bao gồm:

  • Phương pháp thống kê, phân loại định lượng: Xác định chính xác tần số xuất hiện, phân loại thành ngữ theo cấu trúc ngữ pháp và cơ chế tạo nghĩa, từ đó thiết lập tỷ lệ phần trăm cụ thể cho từng nhóm.
  • Phương pháp phân tích diễn ngôn và ngữ dụng: Lý giải giá trị biểu đạt của thành ngữ trong từng ngữ cảnh giao tiếp cụ thể, đặt trong mối quan hệ giữa lời người kể chuyện và lời thoại nhân vật.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phân tích sự tương đồng và dị biệt giữa hai phong cách ngôn ngữ, đồng thời đối chiếu thành ngữ trong tác phẩm với hệ thống thành ngữ gốc trong kho tàng từ vựng tiếng Việt.
  • Phương pháp tổng hợp: Rút ra các kết luận lý luận và thực tiễn ở cuối mỗi chương nghiên cứu.

Timeline nghiên cứu được triển khai và hoàn thành vào tháng 10 năm 2015 tại Trường Đại học Vinh dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Thị Nguyệt Hoa.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát định lượng toàn diện trên văn bản đã mang lại 4 phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, có sự chênh lệch lớn về dung lượng thành ngữ giữa hai tác phẩm. Tác giả Nguyễn Khắc Trường sử dụng 337 thành ngữ với 382 lượt xuất hiện, đạt mật độ trung bình gần 0,9 lượt trên mỗi trang sách. Trong khi đó, tác giả Hồ Anh Thái sử dụng 112 thành ngữ với 131 lượt xuất hiện, đạt mật độ khoảng 0,39 lượt trên mỗi trang sách. Tỷ lệ thành ngữ nguyên dạng chiếm vị thế áp đảo ở cả hai tác giả, lần lượt đạt 91,69% với 309 đơn vị ở Nguyễn Khắc Trường và 88,39% với 99 đơn vị ở Hồ Anh Thái.

Thứ hai, về cấu tạo ngữ pháp của thành ngữ nguyên thể, mô hình ẩn dụ hóa đối xứng chiếm tỷ trọng cao nhất trong cả hai tác phẩm. Cụ thể, Nguyễn Khắc Trường sử dụng 197 thành ngữ ẩn dụ đối xứng, chiếm 58,45% tổng số thành ngữ; Hồ Anh Thái sử dụng 62 thành ngữ, chiếm 62,62%. Mô hình ẩn dụ phi đối xứng đứng thứ hai với 70 thành ngữ ở Nguyễn Khắc Trường, chiếm 20,77% và 21 thành ngữ ở Hồ Anh Thái, chiếm 21,21%.

Thứ ba, thành ngữ so sánh chiếm tỷ lệ khiêm tốn nhất ở cả hai tiểu thuyết. Nguyễn Khắc Trường sử dụng 41 thành ngữ so sánh với 53 lượt xuất hiện, chiếm 12,16%. Hồ Anh Thái sử dụng 16 thành ngữ so sánh với 23 lượt xuất hiện, chiếm 16,16%. Tỷ lệ này hoàn toàn tương thích với cơ cấu tự nhiên của kho tàng tiếng Việt, nơi thành ngữ so sánh chỉ chiếm 15,3% tương đương 492 trên tổng số 3.225 đơn vị thành ngữ theo thống kê của ngành ngôn ngữ học.

Thứ tư, phương thức sử dụng biến thể và thành ngữ đương đại thể hiện rõ dấu ấn thời đại. Nguyễn Khắc Trường ghi nhận 46 thành ngữ biến thể chiếm 13,64% với 51 lượt xuất hiện, tập trung vào việc biến đổi các ngữ liệu quen thuộc trong khẩu ngữ làng quê như chân lấm tay bùn hay thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Ngược lại, Hồ Anh Thái sử dụng 9 thành ngữ biến thể chiếm 7,94% với 11 lượt xuất hiện, nhưng sáng tạo đưa vào các cấu trúc thành ngữ mới của kinh tế thị trường như nhà mặt phố bố làm to, cháu quan chắt tướng, được voi thì đòi hai Bà Trưng.

Thảo luận kết quả

Sự phân hóa rõ rệt trong kết quả nghiên cứu bắt nguồn từ bối cảnh văn hóa xã hội và thi pháp thể loại của từng tác giả. Nguyễn Khắc Trường tái hiện không gian làng Giếng Chùa ngột ngạt bởi mâu thuẫn dòng họ và tàn dư phong kiến thời kỳ bắt đầu đổi mới. Việc sử dụng đậm đặc các thành ngữ dân dã với tần suất lặp lại cao như tai qua nạn khỏi 5 lần, ném đá giấu tay 5 lần, bôi gio trát trấu 4 lần đã khắc họa sâu sắc tâm lý, tư duy của người nông dân Bắc Bộ. Nhà văn quán triệt sâu sắc phương châm nghệ thuật của mình: "Văn chương cần nhất là nói thật".

Trái lại, Hồ Anh Thái xây dựng tiểu thuyết "Mười lẻ một đêm" như một lát cắt châm biếm về đời sống thị dân đương đại trong 11 ngày đêm bị nhốt tại căn hộ chung cư tầng 6. Tác giả biến hóa các thành ngữ so sánh thành các câu đơn độc lập như giống như in, nhanh như chớp, vui như tết, tạo nên nhịp điệu trần thuật nhanh, dứt khoát và sắc sảo. Giọng điệu giễu nhại này làm nổi bật những nghịch lý xã hội thời kỳ hội nhập, thể hiện tinh thần của Milan Kundera khi khẳng định văn học không thể thiếu tiếng cười phản biện.

Toàn bộ dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua hệ thống bảng biểu so sánh tần suất xuất hiện và biểu đồ tròn thể hiện tỷ trọng các dạng thức cấu tạo ngữ pháp. Biểu đồ cột ghép đôi giữa hai tác giả sẽ làm nổi bật sự vượt trội về số lượng thành ngữ nông thôn so với thành ngữ đô thị, giúp người đọc nắm bắt trực quan sự phân hóa phong cách nghệ thuật.

Đối sánh với các nghiên cứu văn học kinh điển, mật độ sử dụng thành ngữ của Nguyễn Khắc Trường có nét tương đồng với nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Du khi sử dụng khoảng 180 lần thành ngữ trong "Truyện Kiều", hoặc Nam Cao với 47 thành ngữ trong 37 trang của kiệt tác "Chí Phèo". Điều này chứng minh việc khai thác thành ngữ trong tiểu thuyết sau 1986 là sự tiếp nối xuất sắc truyền thống ngôn ngữ dân tộc kết hợp với tư duy cách tân hiện đại.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả khảo sát thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính ứng dụng thực tiễn cao:

Thứ nhất, chuẩn hóa tài liệu giảng dạy ngôn ngữ học và phong cách học văn học. Giảng viên tại các trường đại học sư phạm và khoa học xã hội cần tích hợp tối thiểu 50 ngữ liệu thành ngữ trích từ tiểu thuyết đương đại vào chương trình đào tạo chuyên ngành. Mục tiêu nhằm nâng cao 35% khả năng phân tích ngữ nghĩa biểu trưng của sinh viên trong giai đoạn 2026 - 2027.

Thứ hai, xây dựng từ điển số hóa về thành ngữ và biến thể thành ngữ tiếng Việt đương đại. Viện Ngôn ngữ học cùng các nhóm nghiên cứu cần chủ trì thu thập, số hóa khoảng 5.000 thành ngữ mới xuất hiện từ thời kỳ đổi mới đến nay. Kế hoạch cập nhật dữ liệu định kỳ 12 tháng một lần, bắt đầu vận hành thử nghiệm từ năm 2026.

Thứ ba, đổi mới phương pháp nghiên cứu thi pháp học văn xuôi theo hướng tiếp cận ngữ dụng. Các nhà nghiên cứu và học viên cao học cần áp dụng mô hình phân tích cấu trúc kết hợp diễn ngôn giao tiếp để đánh giá tính đa thanh trong ít nhất 20 tác phẩm văn xuôi tiêu biểu xuất bản sau năm 2000, hoàn thành báo cáo chuyên đề trước năm 2028.

Thứ tư, ứng dụng nghệ thuật biến thể thành ngữ vào sáng tác văn học và biên kịch truyền thông. Các nhà văn, nhà biên kịch và chuyên gia sáng tạo nội dung cần chủ động vận dụng linh hoạt các biến thể thành ngữ để cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật. Mục tiêu nâng cao 40% tính biểu cảm và sức thu hút của lời thoại trong các dự án nghệ thuật giai đoạn 2026 - 2030.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và thực tiễn thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Nhóm thứ nhất là các giảng viên, nhà nghiên cứu ngôn ngữ học và lý luận văn học. Dữ liệu khảo sát từ 449 thành ngữ là nguồn dẫn chứng thực nghiệm quý giá để xây dựng các bài giảng chuyên sâu về ngữ dụng học, phong cách học và lý thuyết tiểu thuyết đa thanh.

Nhóm thứ hai là học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Ngữ văn, Sư phạm Văn học, Báo chí và Truyền thông. Luận văn cung cấp mô hình nghiên cứu định lượng kết hợp định tính chuẩn mực trên 761 trang văn bản, hỗ trợ phương pháp luận trực tiếp cho việc thực hiện khóa luận tốt nghiệp và luận văn thạc sĩ.

Nhóm thứ ba là các nhà văn, nhà biên kịch và nghệ sĩ sáng tác. Việc nắm bắt nghệ thuật sử dụng 382 lượt thành ngữ của Nguyễn Khắc Trường và cách cải biến ngữ liệu khẩu ngữ của Hồ Anh Thái giúp người sáng tác nâng cao kỹ thuật xây dựng đối thoại sắc sảo và cá tính.

Nhóm thứ tư là các biên tập viên nhà xuất bản và chuyên gia sáng tạo nội dung truyền thông. Việc hiểu rõ cấu trúc của 55 biến thể thành ngữ trong tác phẩm giúp người làm nội dung làm giàu vốn từ vựng, sáng tạo các thông điệp truyền thông súc tích, giàu hình ảnh và mang đậm bản sắc văn hóa Việt.

Câu hỏi thường gặp

Luận văn phân biệt thành ngữ và tục ngữ dựa trên những tiêu chí cốt lõi nào? Luận văn dựa trên 4 tiêu chí khoa học: hình thức cấu tạo, số lượng âm tiết, chức năng ngữ pháp và nội dung ý nghĩa. Thành ngữ là cụm từ cố định tương đương với từ, chủ yếu gồm 4 âm tiết, giữ chức năng tạo câu và mang nghĩa biểu trưng hình tượng. Tục ngữ là câu hoàn chỉnh diễn đạt một nhận định trọn vẹn, có cấu tạo từ 6 âm tiết trở lên, thực hiện chức năng thông báo và đúc kết kinh nghiệm sống.

Tại sao số lượng thành ngữ trong "Mảnh đất lắm người nhiều ma" lại cao gấp 3 lần "Mười lẻ một đêm"? Nguyên nhân xuất phát từ không gian nghệ thuật và đặc điểm nhân vật. Tác phẩm của Nguyễn Khắc Trường có dung lượng 423 trang viết về làng quê nông thôn Bắc Bộ với 337 thành ngữ mang đậm khẩu ngữ dân gian. Tác phẩm của Hồ Anh Thái dài 338 trang tập trung vào môi trường đô thị mở cửa với lối kể chuyện hiện đại, tiết chế khẩu ngữ truyền thống để nhường chỗ cho các trần thuật châm biếm sâu cay.

Tỷ lệ thành ngữ so sánh trong hai tiểu thuyết có phản ánh đúng quy luật tiếng Việt không? Kết quả nghiên cứu hoàn toàn khớp với quy luật ngôn ngữ. Thành ngữ so sánh chiếm 12,16% ở Nguyễn Khắc Trường và 16,16% ở Hồ Anh Thái. Tỷ lệ này tương đương với tỷ lệ 15,3% thành ngữ so sánh trong tổng số 3.225 thành ngữ tiếng Việt theo công trình thống kê học thuật của Giáo sư Hoàng Văn Hành, chứng minh tính quy luật chặt chẽ của vốn từ ngữ dân tộc.

Hồ Anh Thái đã có những đóng góp mới nào trong cách sử dụng thành ngữ hiện đại? Hồ Anh Thái có hai cách tân tiêu biểu trong "Mười lẻ một đêm": đưa vào các thành ngữ mang hơi thở kinh tế thị trường như nhà mặt phố bố làm to, và tách các cụm so sánh quen thuộc thành các câu đơn độc lập như giống như in, nhanh như chớp. Lối viết này tạo ra nhịp điệu trần thuật gãy gọn, giàu tính trào lộng và đậm chất báo chí đương đại.

Giá trị ứng dụng thực tiễn lớn nhất của đề tài nghiên cứu này là gì? Luận văn đã lượng hóa thành công 449 đơn vị thành ngữ trong văn bản nghệ thuật, cung cấp phương pháp luận phân tích hành chức ngôn ngữ kết hợp thi pháp học. Đây là tài liệu tham khảo nền tảng cho việc giảng dạy ngữ văn, biên soạn từ điển ngữ liệu văn học và nâng cao kỹ năng biên kịch lời thoại nhân vật trong nghệ thuật đương đại.

Kết luận

  • Công trình đã thực hiện khảo sát định lượng toàn diện 449 thành ngữ trên 761 trang văn bản của hai tiểu thuyết tiêu biểu sau năm 1986.
  • Kết quả khẳng định thành ngữ ẩn dụ đối xứng giữ vai trò nòng cốt trong tạo nghĩa văn học với 58,45% ở Nguyễn Khắc Trường và 62,62% ở Hồ Anh Thái.
  • Nghiên cứu làm sáng tỏ hai phong cách nghệ thuật đối lập nhưng bổ sung cho nhau: chất mộc mạc dân gian nông thôn và giọng điệu trào lộng đô thị thời mở cửa.
  • Tỷ lệ thành ngữ so sánh từ 12,16% đến 16,16% trong tác phẩm phản ánh chính xác cấu trúc khách quan của hệ thống thành ngữ tiếng Việt.
  • Luận văn cung cấp khung phân tích ngữ dụng học chuẩn xác, khẳng định thành ngữ là phương tiện đắc lực tạo nên tính đa thanh trong tiểu thuyết.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là đã hệ thống hóa sự vận động của thành ngữ trong hành chức ngôn ngữ văn học đương đại một cách khoa học và chặt chẽ. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2026 - 2030 là mở rộng quy mô nghiên cứu sang 10 tác giả văn xuôi tiêu biểu khác nhằm hoàn thiện bức tranh ngôn ngữ học văn học Việt Nam thời kỳ hội nhập. Độc giả quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình tại thư viện Trường Đại học Vinh để phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu và sáng tạo nghệ thuật.