Tổng quan luận án

Công trình nghiên cứu thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, tập trung vào đề tài "Đặc điểm lượng từ tiếng Hán hiện đại trong sự đối chiếu với loại từ tương đương tiếng Việt" do nghiên cứu sinh Đỗ Thị Kim Cương thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Văn Khang tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (năm 2017).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Lượng từ trong tiếng Hán và loại từ trong tiếng Việt là những lớp từ mang đặc thù loại hình sâu sắc, thuộc phạm trù các ngôn ngữ có loại từ (classifier languages). Trong cấu trúc danh ngữ của hai ngôn ngữ đơn lập này, chúng đóng vai trò thành phần bắt buộc nằm giữa số từ (hoặc từ chỉ lượng) và danh từ. Mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ hoặc đối chiếu sơ bộ, giới nghiên cứu ngôn ngữ học vẫn còn tồn tại nhiều bất đồng về thuật ngữ, tiêu chí phân định từ loại, đặc điểm ngữ nghĩa - cú pháp và bản chất phân loại của lớp từ này.

Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà tác giả xác định là:

  • Các công trình đối chiếu Hán - Việt trước đây thường mặc định đồng nhất khái niệm "lượng từ" trong tiếng Hán với "loại từ" trong tiếng Việt mà không chỉ rõ sự khác biệt căn bản về phạm vi và bản chất từ loại giữa hai ngôn ngữ.
  • Các nghiên cứu trước phần lớn mới chỉ dừng lại ở một số tiểu loại danh lượng từ (hoặc vật lượng từ), bỏ qua nhóm động lượng từ – một đặc trưng điển hình của tiếng Hán.
  • Thiếu các khảo sát hệ thống, chuyên sâu kết hợp giữa lý thuyết ngữ nghĩa - ngữ pháp với điều tra thực nghiệm lỗi thụ đắc ngôn ngữ hai chiều (người Việt học tiếng Hán và người Trung Quốc học tiếng Việt).

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích tổng quát của luận án là làm rõ những đặc điểm cơ bản của lượng từ tiếng Hán hiện đại trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp thông qua việc đối chiếu với các đơn vị loại từ tương đương trong tiếng Việt theo cách tiếp cận đa ngữ luận.

Để đạt được mục đích trên, luận án triển khai 4 nhiệm vụ cụ thể:

  1. (i) Tổng quan tình hình nghiên cứu về loại từ trên thế giới, lượng từ trong tiếng Hán và loại từ trong tiếng Việt, tập trung vào các quan điểm phân định; hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan để xác lập khung nghiên cứu.
  2. (ii) Mô tả và phân tích các đặc điểm ngữ nghĩa của lượng từ trong tiếng Hán hiện đại (danh lượng từ cá thể và động lượng từ) trong sự đối chiếu với loại từ tương đương trong tiếng Việt.
  3. (iii) Phân tích các đặc điểm ngữ pháp của lượng từ tiếng Hán hiện đại trên trục kết hợp đoản ngữ và chức vụ cú pháp trong câu đối chiếu với tiếng Việt.
  4. (iv) Khảo sát thực tế lỗi sử dụng lượng từ tiếng Hán của người Việt học tiếng Trung Quốc và lỗi sử dụng loại từ tiếng Việt của người Trung Quốc học tiếng Việt; phân tích nguyên nhân và đề xuất giải pháp sư phạm khắc phục lỗi.

Đối tượng, phạm vi và ngữ liệu nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Lượng từ trong tiếng Hán hiện đại trong sự đối chiếu với các đơn vị loại từ tương đương trong tiếng Việt.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án giới hạn khảo sát ở nhóm lượng từ đích thực: 60 danh lượng từ cá thể (thành phần nòng cốt của danh lượng từ) và 18 động lượng từ (nhóm có chức năng tu sức cho danh từ) trong tổng số 1.091 lượng từ tiếng Hán được thống kê từ các nguồn từ điển. Về phía tiếng Việt, đối tượng đối chiếu là tiểu loại danh từ đơn vị tự nhiên (loại từ) và danh từ đơn vị hành động, loại trừ các danh từ chỉ đơn vị đo lường quy ước hay danh từ tập hợp.
  • Nguồn tư liệu nghiên cứu:
    1. Nguồn từ điển: Gồm 7 từ điển chuyên ngành, trong đó nguồn ngữ liệu chính được khai thác triệt để là cuốn Đại từ điển lượng từ tiếng Hán (汉语量词大词典) của Lưu Tử Bình (刘子平, 2013), kết hợp các từ điển của Trần Bảo Tồn (1988), Quách Tiên Chẩn (2002), Lưu Học Vũ & Đặng Sùng Mô (1989), Lã Thúc Tương (1999), Ân Hoán Quang & Hà Bình (1991), Hoàng Cư Nhân & cs (1999).
    2. Nguồn văn bản viết: Tác phẩm văn học Trung Quốc đương đại như Báu vật của đời (莫言 - Mạc Ngôn, bản dịch của Trần Đình Hiến); văn học Việt Nam như Mùa lá rụng trong vườn của Ma Văn Kháng; Giáo trình Hán ngữ (Đại học Ngôn ngữ và Văn hóa Bắc Kinh); các tài liệu báo chí điện tử Trung Quốc, Đài Loan và Việt Nam.
    3. Nguồn dữ liệu khảo sát thực nghiệm: Bài thi, bài tập viết và phiếu điều tra trực tiếp kết hợp trắc nghiệm trực tuyến (qua SurveyMonkey) của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt tại các trường đại học ở Việt Nam, cùng sinh viên chuyên ngành tiếng Trung tại Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHQG Hà Nội), Đại học Sư phạm Hà Nội, và sinh viên ngành tiếng Việt tại Đại học Cao Hùng (Đài Loan).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu về lượng từ tiếng Hán

Lịch sử nghiên cứu từ loại và lượng từ tiếng Hán được luận án khái quát thành hai giai đoạn lớn:

  • Giai đoạn trước năm 1980: Khởi đầu từ công trình Mã Thị Văn Thông (1898) của Mã Kiến Trung với tên gọi "biệt xưng dĩ kế số giả" (别称以计数者). Tiếp đó là các cách định danh và phân loại khác nhau: Lê Cẩm Hy (1924) gọi là "lượng từ/số lượng phó từ"; Vương Lực (1927, 1944, 1958) dùng "biệt xưng", "phụ đới tự", "đơn vị danh từ", "đơn vị từ"; Lã Thúc Tương và Chu Đức Hy (1953) dùng "phó danh từ"; Cao Danh Khải (1948) gọi là "phụ danh từ"; Lục Chí Vi (1956) gọi là "trợ danh từ"; Chu Pháp Cao (1959), Trần Mộng Gia (1956), Trần Vọng Đạo (1977) dùng "đơn vị từ". Đến năm 1956, Dự thảo Hệ thống chương trình giảng dạy ngữ pháp tiếng Hán do Trương Chí Công chủ biên đã chính thức công nhận "lượng từ" là một từ loại độc lập. Các tác giả Đinh Thanh Thụ (1961), Lưu Thế Nho (1965), Triệu Nguyên Nhiệm (1968), Chu Đức Hy (1982) tiếp tục củng cố tiêu chí phân loại ngữ pháp của lượng từ.
  • Giai đoạn sau năm 1980: Các học giả như Lã Thúc Tương (1980), Chu Đức Hy (1982), Hà Kiệt (2008) đi sâu vào tiểu loại "lượng từ cá thể" (个体量词). Nhiều nhà nghiên cứu quốc tế và Đài Loan tiếp cận theo lý thuyết loại từ như Tai & Wang (1990), Ahrens (1994), Croft (1994), Cheng & Sybesma (1998, 1999), Tang (2005), Gao & Malt (2009), Her & Hsieh (2010), Her One Soon (2011), Huang (2015), McEnery & Xiao (2006).
Giai đoạn Tác giả tiêu biểu Thuật ngữ sử dụng
Trước 1980 Mã Kiến Trung (1898)
Lê Cẩm Hy (1924)
Vương Lực (1944, 1958)
Cao Danh Khải (1948)
Lã Thúc Tương & Chu Đức Hy (1953)
Trương Chí Công (1956)
Triệu Nguyên Nhiệm (1968)
Biệt xưng (别称)
Lượng từ / Số lượng phó từ
Đơn vị danh từ / Đơn vị từ
Phụ danh từ (辅名词)
Phó danh từ (副名词)
Lượng từ (量词 - chính thức 1956)
Phân loại từ / Đạc ngữ
Sau 1980 Lã Thúc Tương (1980)
Chu Đức Hy (1982)
Tai & Wang (1990)
Cheng & Sybesma (1998)
Tang (2005)
Hà Kiệt (2008)
Lượng từ cá thể (个体量词)
Lượng từ cá thể
Phân loại từ (分类词)
Loại từ / Khối lượng từ
Phân loại từ biệt loại (类别分类词)
Lượng từ cá thể

Lịch sử nghiên cứu về loại từ tiếng Việt

Vấn đề từ loại và loại từ trong tiếng Việt trải qua quá trình tranh luận từ việc phủ nhận từ loại (Hồ Hữu Tường, Trương Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê) đến thừa nhận từ loại dựa trên ý nghĩa ngữ pháp và khả năng kết hợp.

  • Trương Vĩnh Ký (1883) là người đầu tiên ghi nhận 210 "danh từ số" (noms numériques).
  • Các tên gọi khác nhau qua các thời kỳ: Phan Khôi (1955) gọi là "tiền danh tự"; Nguyễn Kim Thản (1960) gọi là "phó danh từ"; Hồ Lê gọi là "danh từ không biệt loại"; Cao Xuân Hạo (1998, 2001) và Nguyễn Thị Ly Kha gọi là "danh từ đơn vị"; Diệp Quang Ban gọi là "danh từ đếm được".
  • Thuật ngữ "loại từ" được dùng phổ biến bởi Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Hoàng Tuệ, Lê Văn Lý, Nguyễn Tài Cẩn, Phan Ngọc, Đinh Văn Đức, Lê Xuân Thại, Lưu Vân Lăng, Lý Toàn Thắng, Nguyễn Phú Phong, Lê Ni La, Phạm Thị Thúy Hồng, cùng các học giả quốc tế như Emeneau (1951), Thompson (1965), Nguyen Hung Tuong (2004), Tran Jennie (2011).
  • Về bản chất, tồn tại hai khuynh hướng chính: (1) coi loại từ là hư từ/từ loại độc lập bổ trợ cho danh từ (Emeneau, Phan Khôi, Trần Trọng Kim); (2) coi loại từ là một tiểu loại của danh từ đơn vị (Nguyễn Tài Cẩn, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban).

Các công trình nghiên cứu đối chiếu Hán - Việt

Tác giả điểm lại các công trình đối chiếu liên quan:

  • Luận văn của Lê Linh Chi (2012) về nhóm loại từ chỉ bất động vật; Tạ Phi (2014) về so sánh từ chỉ loại nhưng chưa xác lập được danh sách cụ thể; Nguyễn Thị Ngọc Hà (2007) đối chiếu lượng từ cá thể nhưng chưa phân định rõ ranh giới với lượng từ tập hợp và chứa đựng.
  • Luận án tiến sĩ của Trịnh Thị Vĩnh Hạnh (2013, ĐHSP Đông Bắc) khảo sát 388 lượng từ nhưng chỉ dừng lại ở vật lượng từ và chưa phân lập tương đương với tiếng Việt; luận án của Vũ Thị Huệ (2014, ĐH Tây Nam) khảo sát danh lượng từ trong 547 lượng từ nhưng chưa xác định tiêu chí chọn lọc danh sách cụ thể và bỏ qua động lượng từ.
  • Các luận văn nghiên cứu lỗi của Hoàng Thị Chiêu Oanh (2008), Lê Hà Thu (2012) khảo sát lưu học sinh Việt Nam tại Trung Quốc với phạm vi hẹp.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Luận án định vị là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên phân định bản chất tương đương giữa hai hệ thống:

  • Tiếng Hán: Lượng từ là một từ loại độc lập gồm Danh lượng từ và Động lượng từ.
  • Tiếng Việt: Loại từ là tiểu loại thuộc danh từ đơn vị tự nhiên.
  • Luận án xác lập sự tương thích: Danh lượng từ cá thể tiếng Hán tương đương Loại từ tiếng Việt; Động lượng từ tiếng Hán tương đương Danh từ đơn vị hành động tiếng Việt.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

Luận án vận dụng các lý thuyết ngôn ngữ học loại hình và loại từ học trên thế giới:

  • Loại hình học loại từ: Tiếp thu mô hình của Greenberg (1972, 1978) về 4 cấu trúc trật tự thành tố [Q-CL-N], [N-Q-CL], [CL-Q-N], [N-CL-Q]; trong đó tiếng Hán và tiếng Việt thuộc cấu trúc [Số từ/Lượng từ - Loại từ - Danh từ]. Theo thống kê từ WALS (2013), trong các ngôn ngữ thế giới có 260 ngôn ngữ không có loại từ, 62 ngôn ngữ có thể dùng hoặc không, và 78 ngôn ngữ bắt buộc dùng loại từ.
  • Tiêu chí loại từ của Allan (1977): Loại từ xuất hiện như hình vị trên cấu trúc bề mặt và biểu thị đặc điểm ngữ nghĩa nổi trội của thực thể. Allan chia loại từ thành 4 kiểu: loại từ số (numeral classifier), loại từ tương hợp (concordial), loại từ vị ngữ (predicate), và loại từ nội vị (intra-locative).
  • Lý thuyết phạm trù hóa của Aikhenvald (2000): Loại từ là công cụ ngữ pháp hóa và từ vựng hóa phản ánh các tham tố phổ quát (người, động vật, giới tính, hình dạng, chức năng, không gian).
  • Lý thuyết ngữ pháp tiếng Việt của Nguyễn Tài Cẩn (1975): Phân định loại từ là tiểu loại của danh từ đơn vị tự nhiên nằm trong tổ chức đoản ngữ danh từ.
HỆ THỐNG ĐỐI CHIẾU TƯƠNG ĐƯƠNG GIỮA HAI NGÔN NGỮ
Lượng từ tiếng Hán (量词)          <--->  Từ loại tương đương tiếng Việt

Phương pháp nghiên cứu

Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp định lượng và phương pháp so sánh đối chiếu:

  1. Phương pháp miêu tả: Xem xét cấu trúc hệ thống của các đơn vị ở bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, được thực hiện qua 3 thủ pháp:
    • Thủ pháp phân tích nghĩa tố (componential analysis): Phân tích các nét nghĩa, trường nghĩa để nhận diện cơ cấu nghĩa của 60 danh lượng từ cá thể và 18 động lượng từ tiếng Hán (Chương 2).
    • Thủ pháp phân tích phân bố (distributional analysis): Đặt lượng từ trên trục ngữ đoạn để kiểm tra khả năng kết hợp và cương vị cú pháp trong danh ngữ và câu (Chương 3).
    • Thủ pháp thống kê và phân loại: Xử lý số liệu tần suất xuất hiện, tỷ lệ lỗi từ vựng - ngữ pháp thành các biểu bảng, mô hình (Chương 4).
  2. Phương pháp đối chiếu: Thực hiện đối chiếu một chiều lấy tiếng Hán làm chuẩn, đối chiếu sang các đơn vị loại từ tương đương trong tiếng Việt nhằm làm sáng tỏ các đặc trưng ngữ pháp - ngữ nghĩa theo hướng tiếp cận đa ngữ luận.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 1 hệ thống hóa các quan điểm học thuật về lượng từ trong Hán ngữ học và loại từ trong Việt ngữ học. Dựa trên số liệu Từ điển tiếng Hán hiện đại (bản thứ 5, 2008), hệ thống từ loại tiếng Hán gồm 87.001 mục từ, trong đó lượng từ có 618 từ (chiếm 0,71%).

Tác giả phân tích bảng tiến trình thuật ngữ từ năm 1898 đến sau 1980 và bảng cấu trúc từ loại tiếng Việt theo tổ chức đoản ngữ của Nguyễn Tài Cẩn. Trên cơ sở đó, luận án xác lập quan điểm: thừa nhận tính độc lập của từ loại lượng từ trong tiếng Hán (gồm danh lượng từ và động lượng từ), đồng thời xác định loại từ tiếng Việt là tiểu loại danh từ đơn vị tự nhiên. Luận án xây dựng mô hình hệ thống lượng từ tiếng Hán và giới hạn phạm vi đối chiếu vào 60 danh lượng từ cá thể và 18 động lượng từ.

TỪ LOẠI TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI (TỪ ĐIỂN TIẾNG HÁN HIỆN ĐẠI, 2008)
Tổng mục từ: 87.001

Chương 2: Đặc điểm ngữ nghĩa của lượng từ tiếng Hán (đối chiếu với tiếng Việt)

Chương này tập trung xác lập các tiêu chí nhận diện và phân tích cấu trúc ngữ nghĩa của danh lượng từ cá thể và động lượng từ tiếng Hán.

  • 5 tiêu chí nhận diện nghĩa của danh lượng từ cá thể (loại từ chính danh):
    1. Tính [+đơn vị]: Có chức năng cá thể hóa sự vật thành các thực thể phân lập (ví dụ: 一个桌子 / một cái bàn).
    2. Tính [+đếm được]: Hàm nghĩa số lượng tự nhiên có giá trị bằng 1 (ví dụ: 三个球 = 3 × 1 quả bóng; 我买了本书 = mua 1 cuốn sách).
    3. Khả năng [+phạm trù hóa]: Phân loại sự vật theo các nét đặc trưng cố hữu như hình dáng, công dụng (ví dụ: 一把伞 / ô có cán cầm đối lập với 一顶伞 / ô có chóp che).
    4. Khả năng [+vật hóa]: Đóng vai trò là tác tử danh hóa các khái niệm trừu tượng (ví dụ: 一个痛苦 / một nỗi thống khổ, 一丝希望 / một tia hi vọng).
    5. Khả năng [+miêu tả]: Phụ gia miêu tả tính chất thực thể (ví dụ: 一条布 / một mảnh vải).
  • Khảo sát ngữ nghĩa: Tác giả phân tích chi tiết lượng từ đa năng "个" (chiếm 63,5% lượng từ cá thể theo McEnery & Xiao), lượng từ "把", các nhóm lượng từ chỉ hình dạng (dài: 条, 根, 支; phẳng: 张, 片, 块; tròn: 颗, 粒, 粒) và động lượng từ chuyên dùng (次, 下, 回, 趟, 遍, 番, 顿, 阵, 场). Đối chiếu cho thấy loại từ tiếng Việt có khả năng phân định sắc thái biểu cảm và chi tiết hóa hình thể sâu sắc (ví dụ phân biệt con, cái, chiếc, bức, tấm, thanh, lá).

Chương 3: Đặc điểm ngữ pháp của lượng từ tiếng Hán (đối chiếu với tiếng Việt)

Chương 3 phân tích hành vi ngữ pháp của lượng từ trong cấu trúc đoản ngữ và cấp độ câu:

  • Vị trí và kết cấu trong danh ngữ: Cấu trúc cơ bản trong tiếng Hán là [Số từ + Lượng từ + (Định ngữ) + Danh từ], lượng từ kết hợp trực tiếp với số từ tạo thành "lượng ngữ" làm định ngữ cho danh từ. Trong tiếng Việt, cấu trúc danh ngữ có mô hình phân bố khác: [Số từ + Loại từ + Danh từ + Định ngữ], trong đó loại từ thường đóng vai trò trung tâm ngữ kết hợp với danh từ phía sau.
  • Khả năng kết hợp: Phân tích quy tắc kết hợp của danh lượng từ với đại từ chỉ thị (这, 那), tính từ (一大把刀子 = 一把大刀子), và hiện tượng danh ngữ trống (vắng mặt danh từ trung tâm).
  • Chức vụ cú pháp:
    • Danh lượng từ kết hợp số từ làm chủ ngữ, tân ngữ, định ngữ, hoặc vị ngữ trong câu.
    • Động lượng từ kết hợp số từ tạo thành ngữ số lượng chủ yếu đảm nhận chức năng bổ ngữ chỉ số lần/thời lượng của hành động sau động từ.
    • Phân tích hiện tượng lặp lượng từ dạng AA (biểu thị ý nghĩa "mỗi", "tất cả": 个个, 条条, 次次) và cấu trúc lặp 一AA, 一A一A trong sự đối chiếu với các phương thức biểu đạt tương đương trong tiếng Việt.

Chương 4: Ứng dụng thực tế: Khảo sát tình hình sử dụng lượng từ của người Việt học tiếng Hán và loại từ của người Trung Quốc học tiếng Việt

Chương 4 vận dụng lý thuyết phân tích lỗi (error analysis) để khảo sát thực nghiệm:

  • Khảo sát lỗi của sinh viên Trung Quốc học tiếng Việt: Tập trung vào các lỗi dùng sai loại từ chỉ người (thằng, đứa, người, vị do không nắm vững sắc thái biểu cảm khinh/trọng), lỗi nhầm lẫn loại từ chỉ động vật và bất động vật (con vs cái), lỗi bỏ sót loại từ trong danh ngữ bắt buộc.
  • Khảo sát lỗi của sinh viên Việt Nam học tiếng Hán: Tiến hành trên các bài thi viết luận và phiếu khảo sát trực tuyến. Thống kê chỉ ra 3 nhóm lượng từ:
    • Nhóm có tỷ lệ dùng đúng cao nhất: Lượng từ quen thuộc, tần suất cao như 个, 本, 张, 块.
    • Nhóm có tỷ lệ đúng thấp và ít sử dụng: Lượng từ chuyên dụng hẹp như 艘, 幢, 柄, 尊.
    • Nhóm có tỷ lệ đúng thấp nhưng tần suất sử dụng cao: Các lượng từ dễ nhầm lẫn như 条, 支, 根, 把, 架, 门, 场, 遍, 趟.
  • Nguyên nhân mắc lỗi: Luận án xác định 4 nguyên nhân chính: (1) Can thiệp tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ (chuyển di tiêu cực); (2) Khái quát hóa quy tắc quá mức (lạm dụng lượng từ vạn năng 个); (3) Sự bất tương đồng trong phạm trù hóa giữa tư duy ngôn ngữ Hán và Việt; (4) Hạn chế trong phương pháp giảng dạy và giáo trình.
  • Đề xuất sư phạm: Xây dựng hệ thống bài tập đối chiếu, bảng tương đương lượng từ - loại từ, và quy trình giảng dạy ngữ nghĩa - ngữ pháp gắn liền với tri nhận văn hóa.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ sự khác biệt về mặt bản chất từ loại giữa "lượng từ" tiếng Hán (từ loại độc lập mang chức năng đo lường và phân loại) và "loại từ" tiếng Việt (thuộc nhóm danh từ đơn vị tự nhiên).
  2. Thiết lập khung 5 tiêu chí nhận diện ngữ nghĩa cho danh lượng từ cá thể tiếng Hán (tính đơn vị, tính đếm được, khả năng phạm trù hóa, khả năng vật hóa, khả năng miêu tả), giúp phân định ranh giới giữa lượng từ cá thể và các lượng từ đo lường, tập hợp khác.
  3. Xác lập mô hình đối chiếu tương đương có căn cứ khoa học giữa hệ thống danh lượng từ, động lượng từ tiếng Hán với các tiểu loại danh từ đơn vị tự nhiên và danh từ đơn vị hành động trong tiếng Việt.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp bảng miêu tả chi tiết đặc điểm ngữ nghĩa, khả năng kết hợp và phân bố ngữ pháp của 60 danh lượng từ cá thể và 18 động lượng từ tiếng Hán có đối chiếu trực tiếp với các đơn vị tương đương trong tiếng Việt.
  2. Cung cấp bức tranh thực nghiệm định lượng về thực trạng sử dụng, phân loại các dạng lỗi và xác định nguyên nhân mắc lỗi lượng từ/loại từ của người học ở cả hai chiều Hán - Việt và Việt - Hán.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp sư phạm ứng dụng trong việc biên soạn giáo trình, từ điển đối chiếu và phương pháp giảng dạy ngữ pháp tiếng Hán cho người Việt cũng như dạy tiếng Việt cho người Trung Quốc.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu giới hạn phạm vi nghiên cứu ở 60 danh lượng từ cá thể và 18 động lượng từ tiếng Hán; chưa bao quát toàn diện các tiểu loại lượng từ tập hợp, lượng từ đo lường chuẩn, lượng từ chứa đựng và lượng từ vay mượn lâm thời. Về phía tiếng Việt, nghiên cứu tập trung vào danh từ đơn vị tự nhiên mà chưa khảo sát sâu toàn bộ hệ thống danh từ chỉ đơn vị quy ước.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đối chiếu trên các nhóm lượng từ lâm thời, lượng từ phức hợp; phân tích lượng từ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận chuyên sâu; xây dựng ngân hàng ngữ liệu lỗi (learner corpus) quy mô lớn phục vụ dịch thuật tự động Hán - Việt.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học: Cung cấp khung phương pháp luận nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ đơn lập, kỹ thuật phân tích nghĩa tố và phương pháp điều tra lỗi thụ đắc ngôn ngữ.
  • Đối với giảng viên và chuyên gia biên soạn giáo trình: Là tài liệu tham khảo để thiết kế bài học ngữ pháp về lượng từ tiếng Hán và loại từ tiếng Việt, xây dựng các bài tập khắc phục lỗi chuyển di tiêu cực.
  • Đối với người làm công tác dịch thuật Hán - Việt: Cung cấp các cứ liệu đối dịch chính xác giữa các lượng từ chuyên dụng tiếng Hán và loại từ tiếng Việt tương ứng theo từng ngữ cảnh ngữ nghĩa.

Câu hỏi thường gặp

1. Khác biệt căn bản nhất giữa quan niệm "lượng từ" trong tiếng Hán và "loại từ" trong tiếng Việt là gì?

Trong Hán ngữ học, "lượng từ" là một từ loại độc lập hoàn chỉnh gồm hai phân nhóm lớn là danh lượng từ (tính đếm/đo lường sự vật) và động lượng từ (tính đếm hành vi). Trong khi đó, ở Việt ngữ học, "loại từ" được đa số học giả xác định là một tiểu loại thuộc phạm trù danh từ (danh từ đơn vị tự nhiên), không bao gồm các từ chỉ đơn vị đo lường quy ước hay danh từ tập hợp.

2. Luận án xác định những tiêu chí nào để nhận diện danh lượng từ cá thể tiếng Hán?

Luận án xác lập 5 tiêu chí: (1) Tính [+đơn vị] phân lập thực thể; (2) Tính [+đếm được] với giá trị đại lượng bằng 1; (3) Khả năng [+phạm trù hóa] theo hình dáng hoặc chức năng; (4) Khả năng [+vật hóa] (danh hóa khái niệm); (5) Khả năng [+miêu tả] đặc tính của sự vật.

3. Động lượng từ tiếng Hán tương đương với đơn vị nào trong tiếng Việt?

Động lượng từ tiếng Hán (như 次, 下, 趟, 遍, 回) tương đương với nhóm danh từ đơn vị hành động trong tiếng Việt (gồm nhóm chuyên dùng như lần, lượt, phen, chuyến, trận và nhóm lâm thời như đấm một đấm, đá một cái, quất một roi).

4. Tỷ lệ xuất hiện của lượng từ cá thể "个" trong tiếng Hán theo các nghiên cứu được dẫn trong luận án là bao nhiêu?

Theo khảo sát của McEnery và Xiao (2006) được dẫn trong luận án, lượng từ "个" chiếm tới 63,5% tổng số lần xuất hiện của lượng từ cá thể và chiếm 38,8% trong tổng số các kết cấu có chứa lượng từ trong tiếng Hán hiện đại.

5. Nguyên nhân chính khiến sinh viên Việt Nam hay dùng sai các lượng từ như 条, 支, 把, 张 là gì?

Nguyên nhân chủ yếu do sự bất tương đồng trong phương thức phạm trù hóa sự vật giữa hai ngôn ngữ và thói quen chuyển di tiêu cực từ tiếng mẹ đẻ (tiếng Việt dùng cây, cái, con theo các thuộc tính không gian và công năng khác biệt với cách khu biệt theo trục hình học hoặc điểm cầm nắm của tiếng Hán).


Kết luận

Luận án của tác giả Đỗ Thị Kim Cương là công trình nghiên cứu chuyên khảo có hệ thống về đặc điểm ngữ nghĩa và ngữ pháp của lượng từ tiếng Hán hiện đại trong sự đối chiếu với loại từ tương đương tiếng Việt. Thông qua việc phân lập rõ ràng 60 danh lượng từ cá thể và 18 động lượng từ chuẩn mực, luận án đã làm sáng tỏ bản chất loại hình học của lớp từ này trong hai ngôn ngữ đơn lập. Các kết quả khảo sát thực nghiệm và phân tích lỗi thụ đắc cung cấp cơ sở khoa học tin cậy cho công tác giảng dạy, biên soạn giáo trình và dịch thuật song ngữ Hán - Việt.