mở đầu của Kinh thi mang tên Quan thư vốn lay từ 2 chữ trong 4 chữ Hán của câu đầu Quan quan thw cưu, hay bài Phat đàn chính là 2 trong 5 chữ thuộc câu đầu Kham kham phat đàn hé của bài thơ. Trong ca dao dân ca Việt Nam, người ta thường lay một vài từ hoặc cả câu đầu là tiêu dé cho bài thơ đó, như Tat nước dau đình, Khăn thương nhớ ai. Thơ ca cô của Việt Nam và Trung Quốc còn có một số bài nhan dé V6 dé. Những bài thơ này thường là cảm xúc ngẫu nhiên của nhà thơ và “bỏ ngỏ” tiêu đề bằng cách đặt tên cho nó là V6 dé dé độc giả suy ngẫm.
Tuy nhiên, với những tác pham thành văn thì đều có đầu đề vốn có của nó. Nhìn chúng, tiêu đề của tác phẩm văn học thường ngắn gọn, trong chừng mực nhật định đêu có vai trò khái quát đên mức cô đọng nhât về tư tưởng nội 16 dung tác phẩm hoặc có mối liên hệ về nội dung hoặc hình thức với tác phẩm. Tiêu đề tác phẩm văn học có thé là một từ, có thé là một cum từ, thậm chí là một câu, được thể hiện qua hàng chữ to hơn, bắt mắt hơn trên bìa sách (nếu là truyện dài) hoặc trên mỗi tác phâm (nếu là truyện ngắn hoặc các thể loại khác). Định danh với tiêu dé tác phẩm văn học (1) Về khái niệm định danh Về vai trò của danh xưng, sách Luận ngữ có câu: “Danh bất chính tắc ngôn bat thuận, ngôn bat thuận tắc sự bat thành, sự bat thành tắc lễ nhạc bat hưng, lễ nhạc bat hưng tắc hình phạt bat trúng.” Nghĩa là danh xưng không chính thống thì lời nói sẽ không xuôi, lời nói không xuôi thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng thịnh, lễ nhạc không hưng thịnh thì hình phạt không đúng đối tượng.
Điều đó phần nào chứng tỏ danh xưng và định danh đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống xã hội. Theo Tir điển tiếng Việt của Hoàng Phê, định danh là gọi tén sự vật, hiện tượng [nói về một chức năng của từ ngữ] [tr. Từ điển quy phạm tiếng Hán hiện đại (SAAB AE ial BR) giải thích rằng, định danh là động từ dùng dé chi “đặt tén/ dành cho danh xưng "(ñn 4 Fe i FY 2 “28 GZ PR”) [tr. Mã Minh Xuân — nhà định danh học nổi tiếng của Trung Quốc cho rang, định danh là danh từ hoặc đoản ngữ mang tính chất danh từ, dùng để chỉ kí hiệu chỉ tên của ngàn vạn sự vật trên thé giới, cũng chính la danh xưng hoặc tên gọi.
La động từ, định danh dung để chỉ quá trình hình thành tên gọi của người hoặc sự vật (iấN{E?3 i] A PERE, ấn eT HET STR TES BIA MERA Fo PEA, aA ta NBÀ3E2#R9JÉJÑ3ŸTŠ) [tr. 1; 37] Từ những cách giải thích trên, có thé thấy, định danh có thé làm động từ, cũng có thé làm danh từ. Giới nghiên cứu ngôn ngữ thường nghiên cứu về định danh dưới góc độ là danh xưng hoặc tên gọi. Trong một số Ít trường họp, nhằm làm sáng tỏ nguồn gốc và quá trình hình thành của tên gọi, người ta mới coi nó là định danh trong qua trình hình thành để đặt cái tên cụ thể cho mỗi một sự vật.
Với tư cách là đơn vị gọi tên, định danh có thê là danh từ, cũng có thể là đoản 17 ngữ danh từ. Những quan điểm này có giá trị gợi mở cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài luận văn này. (2) Những thuộc tính của định danh Trên cơ sở quan điểm của Mã Minh Xuân trình bay trong cuốn Dân luận định danh học (484-10), chúng tôi tong kết thành những thuộc tính của định danh. Cụ thê như sau: Thứ nhất, định danh có thuộc tính gọi tên.
Là một kí hiệu gọi tên sự vật, định danh có ba đặc tính, đó là tính chỉ định, tính khu biệt và tính miêu tả. Bởi vì có ba đặc tính nay mà định danh vừa có mối liên hệ nhất định với đối tượng sở chỉ, vừa có sự khu biệt nhất định. Căn cứ vào mối liên hệ này, người ta chỉ cần nhắc đến tên gọi của sự vật thì sẽ lập tức liên tưởng đến tất cả các đặc điểm của đối tượng được nhắc đến. Thứ hai, định danh có thuộc tính xã hội.
Thuộc tính xã hội ở đây là xét trong mối tương quan giữa định danh với xã hội. Đặc tính này thé hiện cả quá trình nảy sinh, sử dụng và diễn tiến của định danh. Thuộc tính xã hội của định danh thể hiện tính có thé giao tiếp và tính không gian. Thứ ba là thuộc tính cấu trúc.
Bản chất của định danh quyết định thuộc tính cấu trúc của nó. Định danh là một thực thê ngôn ngữ, thuộc tính cau trúc của nó được thê hiện ở bốn phương diện: ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa và logic. Thứ tư là thuộc tính văn hóa. Định danh được coi là “nơi phát tích” và là “kết tinh” của văn hóa nhân loại.
Sự hình thành và phát triển của nó ảnh hưởng và ràng buộc sâu sắc của các nhân tô văn hóa. Thuộc tinh văn hóa của định danh thể hiện ở hai phương diện, một là sự khác biệt về ban sắc dân tộc và khu vực; hai là sự khác biệt về trình độ khoa học và nghệ thuật hóa. (3) Những nhân tổ tác động đến định danh Định danh chịu tác động của nhiều nhân tố, trong đó có thé chia làm nhân tố chủ quan và nhân tổ khách quan. Nhân tố chủ quan bao gồm phương thức tư duy và đặc điểm tâm lí dân tộc.
Việt Nam va Trung Quốc cùng nằm trong một không gian văn hóa, khiên cho hai dân tộc đêu có nhiêu điêm tương đông về tâm 18 lí, chăng hạn như tâm lí đăng cap xã hội, tâm lí mong muôn phan dau vươn lên, đúng như tinh thần của câu ngạn ngữ Trung Quốc Aft fay Mb EK EAR AE nhân vãng cao xứ tau, thủy vãng đê xứ lưu (người đi lên cao, nước chảy chỗ tring), tâm lí tự ràng buộc, tâm lí đám đông, tâm lí cam ky, tam li theo đuổi hạnh phúc thịnh vượng, tâm lí coi trọng quan hệ dòng tộc, gia đình, tâm lí theo đuổi cái đẹp. Xét trên nhân tố khách quan, định danh chịu ảnh hưởng của các nhân tố như: đối tượng định danh, đặc điểm và yêu cầu của người sử dụng, điều kiện kinh tế và tự nhiên, phong tục tập quán dân tộc, khu vực, thời đại tôn giáo, sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự tác động của văn hóa ngoại lai, sự kiện lịch sử, thần thoại truyền thuyết, ngôn ngữ dân tộc. Điều đó chứng tỏ, với những nước khác nhau và các dân tộc khác nhau, việc định danh tác phẩm cũng như nhân vật trong tác phẩm cũng có những điểm khác nhau. Đôi nét về đặc điểm của ngôn ngữ Trung Quốc 1.
Đặc điểm từ vựng Tiếng Hán cũng như tiếng Việt đều thuộc loại hình ngôn ngữ âm tiết tính, không biến hình. Cùng với quá trình phát triển của xã hội, lượng từ vựng của bất kỳ ngôn ngữ nào cũng đều không ngừng gia tăng và có những biến đổi nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu giao tiếp. Từ vựng tiếng Hán cô đại chủ yếu là từ đơn âm tiết. Tuy nhiên, từ văn ngôn (hình thức ngôn ngữ viết trước phong trào Ngũ tứ) phát triển sang bạch thoại (tiếng Hán hiện dai), “ từ đơn tiết đã được song tiết hóa.
Thí dụ, FJ khả > FILA kha di (có thể),# cáo > FFF cáo tổ (bảo/ cho biết), ÃiI tri > #HÌl tri đạo (biết), 37 bàng > 3734 bàng biên (bên cạnh), 8ƒ phú > HA phú hữu (giàu có), #{ ban > $39 ban cùng (nghèo khổ), #š sát > WX quan sát. Đồng thời, một lượng khá lớn từ vựng trong tiếng Hán hiện đại được sản sinh, tương đương với từ ngữ vốn có trong văn ngôn, làm giàu cho hệ thống từ vựng tiếng Hán hiện đại, thỏa mãn nhu cau giao tiếp ngôn ngữ. Ví du: thực > WZ, ngật (ăn), 4 âm > My hát (uống), 8X dục > #8 tưởng (muốn), 3§ 6/ KR yếm > i} thảo yếm (ghét), Fl viết > ii thuyết (nói/ nói rang), [a] văn > "it thính 19 (nghe). Điều đó chứng tỏ, những từ đơn âm tiết vốn có trong tiếng Hán cô đại này tuy còn lưu giữ trong tiếng Hán hiện đại nhưng không sử dụng như một từ đơn độc lập mà trở thành từ tố cầu tạo từ ghép đa âm tiết, mà thay thế nó là một từ khác có nghĩa tương đương.
Mặt khác, những từ gốc Hán đơn âm tiết này còn được lưu giữ trong các thành ngữ, cum từ cố định, như: bat khả kháng, tri nhân tri điện bắt tri tâm, phú quý tại thiên, tử sinh hữu mệnh, văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình. Phần lớn những từ trong văn ngôn này được du nhập vào hệ thống từ vựng tiếng Việt và trở thành từ Việt gốc Hán, chăng hạn như âm thực, yếm thế, ban han, hinh phat, bang quan. Đặc điểm ngữ pháp Về phương diện ngữ pháp, trước hết phải nói đến trật tự từ trong câu. Nhìn chung, tư duy của người Trung Quốc là từ ngoại điên hướng tới trung tâm, vì thế, hình thành nên những cấu trúc định trung, trạng trung.
Trong cấu trúc định trung thường có trung tâm ngữ là danh từ (trường hợp động từ hoặc tinh từ đứng ở vi trí trung tâm thì động từ hoặc tính từ đó đã được lâm thời chuyên hóa thành danh từ), thành phần phụ định ngữ bổ nghĩa cho trung tâm ngữ đứng trước trung tâm. Điểm này khác với tiếng Việt, chang han, 3 #24 Dau phát cố sự (chuyện đầu tóc), 31“ Đoan ngọ tiết (tết Đoan ngọ). Cấu trúc trạng trung là chỉ trong một cấu trúc ngôn ngữ có thành phan trạng ngữ bổ nghĩa cho trung tâm thì trạng ngữ luôn luôn đứng trước, trung tâm ngữ đứng sau. Điều này khác với tiếng Việt, vị trí trạng ngữ trong tiếng Việt khá linh hoạt, có thể đứng ở trước hoặc ở sau trung tâm đều được.
Chang hạn, trong mi SHU, HD cao hứng (vui vẻ) là trạng ngữ, đứng trước, bổ nghĩa cho động từ trung tâm là Pith thuyết thoại (nói), tương đương với tiếng Việt là vui vẻ nói chuyện/ nói chuyện một cách vui vẻ/ nói chuyện vui vẻ. Trong biéu đạt, tiếng Hán rất coi trọng tính cân xứng trong câu từ, cụm từ 4 âm tiết dùng đơn lẻ và dùng liền hai ba cụm rất được coi trọng, nhằm tạo ra tính tiết tau của câu văn.