Nghiên cứu thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và bản dịch tiếng Anh

Khám phá luận án tiến sĩ về thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tương đương dịch thuật trong tiếng Anh, cung cấp kiến thức chuyên sâu.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2017

228
14
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ

1.3. Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ khoa học hình sự

1.4. Một số cơ sở lý luận về thuật ngữ

1.4.1. Vị trí thuật ngữ trong hệ thống ngôn ngữ

1.4.2. Khái niệm thuật ngữ

1.4.3. Phân biệt thuật ngữ và một số đơn vị liên quan

1.4.4. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ

1.5. Về khoa học hình sự và thuật ngữ khoa học hình sự

1.5.1. Về khoa học hình sự

1.5.2. Về thuật ngữ khoa học hình sự

1.6. Dịch thuật và vấn đề chuyển dịch thuật ngữ

1.6.1. Khái niệm dịch thuật

1.6.2. Khái niệm tương đương dịch thuật

1.6.3. Các kiểu tương đương dịch thuật

1.6.4. Một số phương pháp dịch thuật

1.6.5. Chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CỦA THUẬT NGỮ KHOA HỌC HÌNH SỰ TIẾNG VIỆT

2.1. Con đường và phương thức hình thành thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

2.2. Thuật ngữ hóa từ ngữ thông thường

2.3. Vay mượn thuật ngữ nước ngoài

2.4. Cấu tạo thuật ngữ mới qua phương thức ghép lai

2.5. Đặc điểm nguồn gốc của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

2.5.1. Thuật ngữ khoa học hình sự thuần Việt

2.5.2. Thuật ngữ khoa học hình sự Hán Việt

2.5.3. Thuật ngữ khoa học hình sự có nguồn gốc Ấn Âu

2.5.4. Thuật ngữ khoa học hình sự có nguồn gốc ghép lai

2.6. Đặc điểm cấu tạo của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

2.6.1. Thuật ngữ khoa học hình sự là từ

2.6.2. Thuật ngữ khoa học hình sự là ngữ

2.7. Đặc điểm định danh của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

2.7.1. Khái niệm định danh

2.7.2. Các tiểu loại thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

2.7.3. Các kiểu định danh của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

2.7.4. Nhận xét về kiểu định danh của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

3. CHƯƠNG 3: TƯƠNG ĐƯƠNG VÀ CÁC THỦ PHÁP DỊCH THUẬT NGỮ KHOA HỌC HÌNH SỰ TIẾNG VIỆT SANG TIẾNG ANH

3.1. Tương đương chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự Việt - Anh

3.2. Tương đương dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh xét về phương diện cấu tạo

3.3. Tương đương dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh xét về phương diện nội dung

3.4. Các thủ pháp chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh

3.4.1. Thủ pháp Trực dịch

3.4.2. Thủ pháp Sao phỏng (hay còn gọi là thủ pháp Calques)

3.4.3. Thủ pháp Dịch vay mượn

3.4.4. Thủ pháp Dịch chuyển loại

3.4.5. Thủ pháp Dịch nghĩa

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận

Nghiên cứu về thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tương đương tiếng Anh là một lĩnh vực quan trọng trong ngôn ngữ học. Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ đã có nhiều công trình từ thế kỷ 18, nhưng phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ 20. Các nhà ngôn ngữ học đã chỉ ra rằng thuật ngữ không chỉ là từ vựng mà còn phản ánh hệ thống khái niệm của ngành khoa học. Việc chuẩn hóa thuật ngữ là cần thiết để đảm bảo tính chính xác trong giao tiếp và nghiên cứu. Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc nghiên cứu và dịch thuật các thuật ngữ khoa học hình sự trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Các tài liệu hiện có chủ yếu tập trung vào lý thuyết và cấu tạo của thuật ngữ, nhưng chưa có một hệ thống từ điển đầy đủ cho thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và tiếng Anh.

1.1. Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ

Nghiên cứu về thuật ngữ đã được thực hiện từ lâu, với nhiều hướng tiếp cận khác nhau. Các học giả như Carl von Linné và Beckmann đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng và tạo lập thuật ngữ. Tuy nhiên, từ thập niên 1930, nghiên cứu về thuật ngữ đã phát triển mạnh mẽ, với nhiều công trình từ các học giả Âu-Mỹ và Liên Xô cũ. Họ đã đưa ra các tiêu chuẩn và phương pháp để chuẩn hóa thuật ngữ, từ đó tạo nền tảng cho việc nghiên cứu và ứng dụng trong các lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả khoa học hình sự.

1.2. Các cơ sở lý luận về thuật ngữ

Các lý thuyết về thuật ngữ nhấn mạnh vai trò của chúng trong việc phản ánh hệ thống khái niệm của ngành khoa học. Thuật ngữ không chỉ đơn thuần là từ vựng mà còn là công cụ giao tiếp quan trọng trong nghiên cứu và giáo dục. Việc phân biệt giữa thuật ngữ và các đơn vị ngôn ngữ khác là cần thiết để hiểu rõ hơn về chức năng và đặc điểm của chúng. Các tiêu chuẩn của thuật ngữ cũng được đề cập, bao gồm tính chính xác, tính hệ thống và khả năng phản ánh nội dung chuyên môn.

II. Đặc điểm của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt

Đặc điểm của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt rất đa dạng và phức tạp. Chúng được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm từ ngữ thông thường, vay mượn từ nước ngoài và cấu tạo mới qua phương thức ghép lai. Thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt không chỉ phản ánh nội dung chuyên môn mà còn mang tính văn hóa và xã hội. Việc nghiên cứu nguồn gốc và cấu tạo của thuật ngữ giúp xác định rõ hơn về cách thức hình thành và phát triển của chúng trong ngữ cảnh Việt Nam. Điều này cũng góp phần vào việc chuẩn hóa và xây dựng hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực khoa học hình sự.

2.1. Con đường và phương thức hình thành thuật ngữ

Các thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt được hình thành qua nhiều con đường khác nhau. Một số thuật ngữ được hóa từ ngữ thông thường, trong khi một số khác được vay mượn từ các ngôn ngữ nước ngoài. Phương thức ghép lai cũng được sử dụng để tạo ra các thuật ngữ mới, phản ánh sự phát triển của ngành khoa học hình sự. Việc phân tích con đường hình thành giúp hiểu rõ hơn về sự phát triển và biến đổi của thuật ngữ trong ngữ cảnh hiện đại.

2.2. Đặc điểm cấu tạo và định danh của thuật ngữ

Cấu tạo của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt thường bao gồm các yếu tố ngữ nghĩa và ngữ pháp đặc trưng. Đặc điểm định danh của thuật ngữ cũng rất quan trọng, vì chúng không chỉ đơn thuần là từ mà còn mang ý nghĩa chuyên môn sâu sắc. Các kiểu định danh của thuật ngữ được phân loại dựa trên các tiêu chí khác nhau, từ đó giúp xác định rõ hơn về cách thức sử dụng và ứng dụng trong thực tiễn.

III. Tương đương và các thủ pháp dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh

Việc chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự từ tiếng Việt sang tiếng Anh là một thách thức lớn. Các thủ pháp dịch thuật như trực dịch, sao phỏng, và dịch nghĩa được áp dụng để đảm bảo tính chính xác và phù hợp với ngữ cảnh. Tương đương dịch thuật không chỉ đơn thuần là việc tìm kiếm từ tương ứng mà còn cần xem xét đến ngữ nghĩa và cách sử dụng trong từng ngữ cảnh cụ thể. Việc nghiên cứu các thủ pháp này giúp nâng cao chất lượng dịch thuật và đảm bảo rằng các thuật ngữ được sử dụng một cách chính xác trong giao tiếp và nghiên cứu quốc tế.

3.1. Tương đương dịch thuật ngữ khoa học hình sự

Tương đương dịch thuật là một khái niệm quan trọng trong việc chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự. Việc xác định các tương đương giữa tiếng Việt và tiếng Anh không chỉ giúp đảm bảo tính chính xác mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao tiếp và nghiên cứu trong lĩnh vực này. Các kiểu tương đương được phân loại dựa trên cấu trúc và nội dung, từ đó giúp người dịch có cái nhìn tổng quát hơn về cách thức chuyển dịch.

3.2. Các thủ pháp chuyển dịch thuật ngữ

Các thủ pháp chuyển dịch như trực dịch, sao phỏng, và dịch nghĩa được áp dụng để đảm bảo tính chính xác trong việc chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự. Mỗi thủ pháp có những ưu điểm và hạn chế riêng, và việc lựa chọn thủ pháp phù hợp là rất quan trọng. Nghiên cứu về các thủ pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng dịch thuật mà còn góp phần vào việc chuẩn hóa hệ thống thuật ngữ trong lĩnh vực khoa học hình sự.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, luận án gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổ ng quan tiǹ h hiǹ h nghiên cƣ́u và cơ sở lý luâ ̣n. Trong chƣơng này, chúng tôi tìm hiểu tình hình nghiên cứu chung về thuật ngữ, khái niệm và đặc điểm của thuật ngữ. Trên cơ sở đó, khái niệm thuật ngữ KHHS, đặc điểm định danh của thuật ngữ KHHS đƣợc đƣa ra. Chúng tôi cũng nghiên cƣ́u về dich ̣ thuâ ̣t và vấ n đề tƣơng đƣơng dich ̣ huâ t ̣t thuâ ̣t ngƣ,̃ tƣ̀ đó, xác đinh ̣ các cách chuyể n dich ̣ thuâ ̣t ngƣKHHS ̃ tiế ng Viê ̣t sang tiế ng Anh.

Chƣơng 2: Đặc điểm của thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt. Ở đây, đặc điểm cấu tạo và đặc điểm định danh của thuật ngữ KHHS tiếng Việt đƣợc xem xét và phân tích. Về mặt cấu tạo, luận án tìm hiểu các phƣơng thức và hình thức cấu tạo của các thuật ngữ KHHS tiếng Việt. Về mặt định danh, luận án khảo sát các kiểu định danh của thuâ ̣t ngƣ̃ KHHS tiếng Việt dựa trên 05 tiểu loại cấ u thành nhằm phu ̣c vụ cho cách chuyển dịch thu ật ngữ KHHS Viê ̣t-Anh.

Chƣơng 3: Các thủ pháp và các tƣơng đƣơng chuyển dịch thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt sang tiếng Anh. Trong chƣơng này, chúng tôi sẽ khảo sát các thủ pháp chuyển dịch thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh. Trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ ra cách chuyển dịch tƣơng đƣơng các thuật ngữ KHHS tiếng Việt sang tiếng Anh theo kế t quả đố i chiế u, phân tích. Cuố i cùng là tài liê ̣u tham khảo và phu ̣ lu ̣c.

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CƢ́U VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổ ng quan tin ̀ h hin ̀ h nghiên cƣ́u 1. Tình hình nghiên cứu về thuật ngữ Nghiên cứu thuật ngữ là vấn đề không mới trong nghiên cứu ngôn ngữ nói chung. Trên thế giới, các nhà ngôn ngữ học đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về thuật ngữ.

Việc nghiên cứu thuật ngữ cơ bản đƣợc thực hiện theo các hƣớng nhƣ lý luận về thuật ngữ, cấu tạo thuật ngữ và chuẩn hóa thuật ngữ. Có thể kể đến một số tác giả tiên phong nhƣ Carl von Linné (1736); Beckmann (1780), từ thế kỷ 18, đã bắt đầu những hoạt động nghiên cứu thuật ngữ nhƣ việc xây dựng và tạo lập thuật ngữ. Tuy nhiên, phải đến thế kỷ 20 việc nghiên cứu thuật ngữ thực sự phát triển mạnh mẽ và rõ nét. Tính từ thập niên 1930, các học giả Âu-Mỹ nhƣ Đức, Áo, Mỹ và Liên Xô cũ đã cho ra đời nhiều công trình nghiên cứu về thuật ngữ.

Cụ thể, ngƣời đứng đầu trung tâm nghiên cứu và xây dựng thuật ngữ ở Áo (trƣớc chiến tranh thế giới lần thứ hai, trung tâm này đóng ở Đức) - È. Vjuster đã có những đóng góp to lớn trong việc soạn thảo bản chỉ dẫn biên soạn các cuốn từ điển thuật ngữ quốc tế, chỉ dẫn về sự phối hợp công tác thuật ngữ học trên toàn thế giới, khởi thảo ra vấn đề chỉnh lý các hệ thống thuật ngữ dựa trên các nguyên tắc thuật ngữ học và từ điển học. Bên cạnh đó, các học giả nhƣ E. Segen (Mỹ) ngoài việc định nghĩa thuật ngữ, nêu bản chất khái niệm và chức năng của chúng, còn có xu hƣớng tìm cách xác định các tiêu chuẩn cụ thể cần phải có của thuật ngữ.

Trong khi ở Áo, các nhà nghiên cứu thuật ngữ quan tâm đến cách xử lý dữ liê ̣u thuâ ̣t ngƣ,̃ thì các nhà khoa học Liên bang Xô Viết từ những năm 1930 đến 1960 đã đƣa ra nhƣ̃ng quan điể m về thuâ ̣t ngƣ. Đây ̃ là thời kỳ mà các lý thuyết và những hoạt động thực tiễn về thuật ngữ học trên cơ sở đào tạo kỹ thuật của hai chuyên gia D. Drezen ra đời, góp phần to lớn vào hoạt động thực 13 z tiễn quy chuẩn hóa và quốc tế hóa thuật ngữ trong những năm tiếp theo. Cũng trong giai đoạn này, hai nhà khoa học A.

Vinokur đã đƣa ra các quan điểm ngôn ngữ học vào sự phát triển khoa học về thuật ngữ ở Nga. Thời kỳ tiếp theo, giai đoạn những năm 1970 đến những năm 1990, đƣợc ghi nhận bằng việc thuật ngữ học chính thức trở thành một ngành khoa học độc lập. Cách nhìn nhận khác nhau về từ vựng chuyên biệt, những hiệu ứng của các lý thuyết và thực tiễn trong khoa học về thuật ngữ đã hội tụ với những thành tựu trong ngôn ngữ học, logic học và tiến bộ trong công nghệ thông tin đã dẫn đến việc xác định rõ chủ thể và khách thể của thuật ngữ học. Trong giai đoạn này, ở Cộng hòa Liên bang Xô Viết có hàng chục chuyên khảo nghiên cứu về thuật ngữ học đƣợc công bố, hơn 100 luận án tiến sỹ về thuật ngữ học đƣợc bảo vệ và trên 20 tập các bài báo đƣợc xuất bản.

Bên cạnh đó, còn có hàng nghìn cuốn từ điển bách khoa và từ điển ngôn ngữ học, từ điển thuật ngữ kỹ thuật tổng hợp, từ điển thuật ngữ khoa học công nghệ và từ điển chuyên ngành đƣợc biên soạn. Thời kỳ này phải kể đến sự đóng góp của các nhà khoa học nhƣ L. Vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, thời kỳ này việc nghiên cứu thuật ngữ đƣợc thực hiện trong bối cảnh sau khi Liên Xô sụp đổ với những thay đổi sâu sắc trong đời sống kinh tế, xã hội và khoa học. Ở Việt Nam, thuâ ̣t ngƣ̃ xuấ t hiê ̣n muô ̣n hơn so với các nƣớc phƣơng Tây.

Phải đến đầu thế kỷ XX, viê ̣c hình thành và xây dƣ̣ng thuâ ̣t ngƣ̃ mới đƣơ ̣c chú ý nghiên cƣ́u. Trên báo Nam Phong đã có các ý kiế n bàn ba ̣c về danh tƣ̀ khoa ho.̣c Đầu tiên là Dƣơng Quảng Hàm(1919) ông đề cập đến việc vay mƣợn thuật ngữ nƣớc ngoài với chủ trƣơng “nên mƣợn chữ nho” (tƣ́c chƣ̃ Hán) vì “về triết học, khoa ho ̣c, kỹ nghệ Tàu dịch đúng và gần đủ , tiế ng Tàu đồ ng chủng với tiế ng ta”. Tƣ̀ nhƣ̃ng năm 30 của thế kỷ XX, Khoa ho ̣c ta ̣p chí (1931- 1933) đã có nhƣ̃ng đóng góp đáng kể về viê ̣c xây dƣ̣ng thuâ ̣t ngƣ̃ khoa kỹ thuâ ̣t với 14 z khuynh hƣớng chủ yế u là tiế p nhâ ̣n dƣới da ̣ng phiên âm mô ̣t số it́ thuâ ̣t ngƣ̃ của tiếng Hán và tiếng Pháp. Tuy nhiên, Nguyễn Văn Thinh ̣ (1932) lại hoàn toàn không tán thành quan điể m dùng chƣ̃ Hán để đă ̣t thuâ ̣t ngƣ̃ hóa ho ̣c.

Ông chủ trƣơng “mƣợn tiếng Latin hay Hi Lạp nhƣ các tiếng trong thế giới mà phiên âm ra”, không mƣơ ̣n tiế ng Pháp , vì tiếng Pháp cũng mƣợn tiếng Latin hay Hi Lạp, ta nên đi tới cô ̣i nguồ n phải tố t hơn” [Dẫn theo 21]. Đế n thâ ̣p niên 40, có thể coi Hoàng Xuân Hañ (1942) là ngƣời tiên phong trong việc xây dựng một hệ thố ng thuâ ̣t ngƣ̃ khoa ho ̣c về nhƣ̃ng khái niê ̣m trong toán ho, ̣cvâ ̣t ly,́ hóa học, cơ học và thiên văn học dựa trên cơ sở tiếng Pháp. “Cuốn Danh từ khoa học của Hoàng Xuân Hãn không chỉ cung cấp tƣ liệu từ ngữ mới, tri thức mới mà cả phƣơng pháp, cách thức sáng tạo thuật ngữ tiếng Việt hiện đại. Đóng góp lớn của công trình này không chỉ ở vốn thuật ngữ một số ngành khoa học cơ bản lần đầu đƣợc xây dựng cấu tạo mà còn là lí luận về hệ thuật ngữ, về nguyên tắc và phƣơng pháp xây dựng hệ thuật ngữ tiếng Việt hiện đại” [65, tr.

Do điều kiện lịch sử và xã hội, phải đến những năm 60 của thế kỉ XX, vấn đề thuật ngữ mới thực sự trở thành mối quan tâm của các nhà khoa học Việt Nam. Năm 1960, Ban Sử Địa Văn (tiền thân của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam) đã ban hành “Quy định tạm thời về nguyên tắc biên soạn danh từ khoa học tự nhiên”. Hàng loạt các hội nghị, hội thảo bàn về vấn đề thuật ngữ (Hội nghị bàn về vấn đề xây dựng thuật ngữ khoa học, 28 - 29/12/1964; Hội nghị trƣng cầu ý kiến về vấn đề dùng thuật ngữ khoa học tháng 5/1965). Một Hội đồng Thuật ngữ - Từ điển khoa học do Nguyễn Khánh Toàn làm chủ tịch đã ra đời.

Vào tháng 6/1966, Ủy ban Khoa học Nhà nƣớc đã công bố áp dụng tạm thời bản “Quy tắc phiên thuật ngữ khoa học (gốc Ấn - Âu) ra tiếng Việt”. Những năm 90 của thế kỉ XX về sau, một số bài viết, công trình nghiên cứu về cấu tạo thuật ngữ tiếng Việt ra đời nhƣ: Vấn đề phƣơng thức cấu tạo thuật ngữ trong một số công trình xuất bản tại Việt Nam thời kì 1954 - 1975. Cũng từ đây, nhiề u sản 15 z phẩ m thuâ ̣t ngƣ̃ đố i chiế u đã đƣơ ̣c xuấ t bản đáp ƣ́ng phầ n nào nhu cầ u nghiên cƣ́u và da ̣y ho ̣c cũng nhƣ xây dƣ̣ng hê ̣ thố ng thuâ ̣t ngƣ̃ khoa ho ̣c tiế ng Viê ̣t. Có mô ̣t vài công trin ̀ h nghiên cƣ́u tiêu biể u về thuâ ̣t ngƣ̃ của cá c tác giả nhƣ : Võ Xuân Trang (1973) và (1977); Lƣu Vân Lăng (1977), Nguyễn Đức Dân (1977); Hoàng Trọng Phiến (1985), Nguyễn Nhƣ Ý (1992); Vũ Quang Hào (1993).

Đến thế kỷ XXI, con đƣờng phát triển của tiếng Việt đã đƣợc chỉ rõ, con đƣờng hình thành thuật ngữ tiếng Việt cũng đƣợc xác định. Các vấn đề lý luận về thuật ngữ nhƣ việc xây dựng thuật ngữ, vấn đề định danh ngôn ngữ, việc vay mƣợn thuật ngữ nƣớc ngoài, việc áp dụng lý thuyết điển mẫu và chuẩn hóa thuật ngữ tiếng Việt đƣợc tập trung nghiên cứu. Những vấn đề lý luận và phƣơng pháp luận để biên soạn từ điển chuyên ngành và thuật ngữ cũng đƣợc bàn luận. Cụ thể, đã có những công trình bàn về những vấn đề trên nhƣ “Sự phát triển từ vựng tiếng Việt nửa sau thế kỷ XX” năm 2009, và “Thuật ngữ học - những vấn đề lý luận và thực tiễn” năm 2012, do Hà Quang Năng làm chủ biên; “Những vấn đề thời sự của chuẩn hóa tiếng Việt” năm 2011, do Vũ Kim Bảng và Nguyễn Đức Tồn làm đồng chủ nhiệm.

Bên ca ̣nh nhƣ̃ng công triǹ h nghiên cƣ́u , bài viết về thuâ ̣t ngƣ,̃ cũng có nhiều cuốn từ điển thuật ngữ ra đời.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên cứu thuật ngữ khoa học hình sự tiếng Việt và bản dịch tiếng Anh" của tác giả Khổng Minh Hoàng Việt, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Hồng Cổn và GS. Nguyễn Xuân Yêm, tập trung vào việc phân tích và so sánh các thuật ngữ trong lĩnh vực khoa học hình sự giữa tiếng Việt và tiếng Anh. Nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ các khái niệm pháp lý mà còn cung cấp những tương đương dịch thuật chính xác, từ đó hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu trong lĩnh vực luật học. Độc giả sẽ tìm thấy giá trị trong việc hiểu sâu hơn về ngôn ngữ pháp lý, cũng như cách thức mà các thuật ngữ này được áp dụng trong thực tiễn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề liên quan đến pháp luật và ngôn ngữ học, bạn có thể tham khảo bài viết "Khám Phá Giá Trị Pháp Lý Của Văn Bản Công Chứng Trong Luận Văn Thạc Sĩ Luật", nơi phân tích giá trị pháp lý của các văn bản công chứng, hay bài viết "Tìm Hiểu Pháp Luật về Hộ Kinh Doanh ở Việt Nam", cung cấp cái nhìn tổng quan về pháp luật hộ kinh doanh, một lĩnh vực có liên quan mật thiết đến các thuật ngữ pháp lý. Cuối cùng, bài viết "Kỷ luật lao động theo pháp luật Việt Nam hiện nay: Thực trạng và hướng hoàn thiện" sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các quy định pháp lý trong lĩnh vực lao động, một phần không thể thiếu trong hệ thống pháp luật. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn sâu sắc hơn về các vấn đề pháp lý hiện nay.