Chương 1: Một số vấn đề chung Chương 2: Các văn bản liên quan đến chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số ở tỉnh Bình Định Chương 3: Tác động của chính sách ngôn ngữ đến ngƣời Bana, Hrê, Chăm luan an 11 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG 1. CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ 1. Khái niệm về chính sách, chính sách công và chính sách ngôn ngữ 1. Khái niệm chính sách “Chính sách’’ là thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến trong các tài liệu, trên các phƣơng tiện truyền thông và trong đời sống xã hội.
Tuy nhiên, đây cũng là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng. Theo từ điển tiếng Anh (Oxford English Dictionary) “chính sách” là một đƣờng lối hành động đƣợc thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, Đảng, nhà cai trị, chính khách. Theo sự giải thích này, chính sách không đơn thuần chỉ là một quyết định để giải quyết một vấn đề cụ thể mà nó là một đƣờng lối hay phƣơng hƣớng hành động. Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa một chính sách có thể đƣợc xem nhƣ là một đƣờng lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể.
Quan niệm khác lại cho rằng chính sách là những hành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tƣợng quản lý theo hƣớng đồng thuận hay phản đối. Trên thực tế, thuật ngữ “chính sách” đƣợc sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. Theo “Từ điển tiếng Việt”: “Chính sách là sách lược và các chủ trương biện pháp cụ thể để thực hiện đường lối và nhiệm vụ trong một thời kỳ lịch sử nhất định. Ví dụ: chính sách kinh tế, chính sách mở cửa’’ [39].
Tác giả Nguyễn Văn Khang trong công trình Kế hoạch hóa ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội vĩ mô đã cụ thể hóa làm rõ khái niệm về chính sách. Tác giả cho rằng: “chính sách (policy) là một thuật ngữ chính trị bao gồm các yếu tố: (1) nội dung của chính sách (những chuẩn tắc cụ thể và các biện pháp/kế hoạch để thực hiện các chuẩn tắc đó); (2) phạm vi của chính sách (không có luan an 12 chính sách chung chung mà chỉ có chính sách cho từng lĩnh vực cụ thể); (3) cơ sở của chính sách (thực tiễn, gắn với định hƣớng và trong mối quan hệ với các chính sách khác); (4) thời gian và không gian của chính sách (có tính giai đoạn, gắn với hoàn cảnh cụ thể); (5) chủ thể đƣa ra chính sách [15; tr. Đối với Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, Đảng ta là đảng cầm quyền, vì thế, chính sách (tầm quốc gia) ở Việt Nam do Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam hoạch định. Nhƣ vậy, có thể thấy có thể đƣa ra một định nghĩa duy nhất đúng về chính sách.
Các chính sách đôi khi có thể đƣợc nhận thấy dƣới hình thức các quyết định đơn lẻ nhƣng thông thƣờng nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc đƣợc nhìn nhận nhƣ là một sự định hƣớng hành động cụ thể. Những nỗ lực đƣa ra các định nghĩa khác nhau về chính sách cũng hàm ý rằng khó có thể xác định đƣợc thời điểm cụ thể mà chính sách cần đƣợc ban hành. Chính sách thƣờng đƣợc tiếp tục tiến hóa trong giai đoạn thực hiện, chứ không chỉ cố định nhƣ trong giai đoạn hoạch định chính sách. Khái niệm chính sách công Nhà nƣớc là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mƣu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội.
Chính sách của nhà nƣớc không chỉ tác động đến một khu vực, một bộ phận dân cƣ nhất định mà tác động rộng rãi đến mọi đối tƣợng, mọi quá trình trên phạm vi toàn quốc. Tác động của nhà nƣớc đến các đối tƣợng có thể mang tính chính trị, hành chính, kinh tế hay kỹ thuật đƣợc lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất. Đồng thời, trong những thời kỳ phát triển khác nhau, chức năng, nhiệm vụ của nhà nƣớc cũng có sự thay đổi một cách thích hợp vì thế mà quan niệm về chính sách do nhà nƣớc ban hành (chính sách công) cũng đƣợc tiếp cận từ góc độ khác nhau. Theo “Từ điển Bách khoa Việt Nam”: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ.
Chính sách được thực hiện trong một luan an 13 thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa. Theo định nghĩa này thì mục đích của chính sách công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hƣớng chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề công. Nói cách khác, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của nhà nƣớc.
Khái niệm trên vừa thể hiện đặc trƣng của chính sách công là do nhà nƣớc chủ động xây dựng để tác động trực tiếp lên các đối tƣợng quản lý một cách tƣơng đối ổn định, cho thấy bản chất của chính sách công là công cụ định hƣớng cho hành vi của các cá nhân, tổ chức phù hợp với thái độ chính trị của nhà nƣớc trong việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong đời sống xã hội. Ở nƣớc ta, các chính sách công do Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (mà trƣớc năm 1976 là nhà nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa) đề ra. Các chính sách công của Nhà nƣớc là những bộ phận hợp thành, là sự cụ thể hóa đƣờng lối phát triển kinh tế - xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân. Các khái niệm cơ bản liên quan đến chính sách ngôn ngữ a) Khái niệm chính sách ngôn ngữ Chính sách là một thuật ngữ chính trị bao gồm các yếu tố: nội dung của chính sách, phạm vi của chính sách, cơ sở của chính sách, thời gian và không gian của chính sách với chủ thể đƣa ra chính sách.
Thuật ngữ chính sách ngôn ngữ (language policy) lần đầu tiên xuất hiện trong công trình Ngôn ngữ học xã hội của J. Fishman năm 1970 bằng tiếng Anh, tiếp đó là các ngôn ngữ nhƣ Tây Ban Nha (Politica linguistica) năm 1975, Đức (Sparach Politik) năm 1981. cho đến nay, thuật ngữ này đƣợc sử dụng rộng rãi và phát triển nhiều cách hiểu khác nhau. Có nhiều cách hiểu khác nhau về chính sách ngôn ngữ.
Theo nghĩa luan an 14 rộng thì chính sách ngôn ngữ (CSNN) là các nguyên tắc mang ý thức hệ và các biện pháp thực tế để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ trong một quốc gia. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, chính sách ngôn ngữ là hệ thống các biện pháp nhằm làm biến đổi hoặc duy trì cảnh huống ngôn ngữ hoặc làm biến đổi hay duy trì chuẩn mực ngôn ngữ (nhằm tiêu chuẩn hóa ngôn ngữ văn hóa, làm phong phú vốn từ, thuật ngữ, phong cách, cải tiến chính tả, xây dựng, cải tiến chữ viết). Theo cách hiểu này, chính sách ngôn ngữ đồng nghĩa với thuật ngữ kế hoạch hóa ngôn ngữ - là việc tiến hành các biện pháp có tổ chức để giải quyết các vấn đề ngôn ngữ ở cấp độ nhà nƣớc (Paulston, Ch.) Theo Nguyễn Văn Khang [17] CSNN bao hàm sự tác động có ý thức của xã hội đối với ngôn ngữ. Sự tác động này có thể do nhà nƣớc (hay một đảng phái hay tổ chức chính trị xã hội) nhằm định hƣớng sự hành chức và phát triển của ngôn ngữ phù hợp với bối cảnh chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội của một quốc gia ở trong những thời điểm lịch sử nhất định của quốc gia đó.
Mọi CSNN bao giờ cũng mang rõ ý thức hệ của giai cấp cầm quyền (hay một đảng phái hay tổ chức chính trị xã hội) và các biện pháp tổ chức thực hiện. Đồng thời, việc hoạch định CSNN phụ thuộc trƣớc hết vào cảnh huống ngôn ngữ (CHNN). CSNN là chính sách thuộc phạm vi/lĩnh vực ngôn ngữ. Tác giả Nguyễn Văn Khang đã đƣa ra định nghĩa ngắn gọn về CSNN.
Theo ông: “CSNN là chủ trương chính trị và các biện pháp thực hiện chủ trương đó về ngôn ngữ của Nhà nước hoặc các tổ chức chính trị trong phạm vi quốc gia hoặc xuyên quốc gia’’ [17; tr. Từ các quan niệm trên, chúng ta có thể hiểu: CSNN là các chủ trương của một nhà nước, một đảng phái, một nhóm xã hội về vấn đề ngôn ngữ và các biện pháp tổ chức thực hiện những chủ trương đó nhằm tác động vào CHNN và sự hành chức của ngôn ngữ ở phạm vi khu vực/địa phương, quốc luan an 15 gia hay xuyên quốc gia. b) Ngôn ngữ mẹ đẻ Ngôn ngữ mẹ đẻ (Mother Tongue) hay tiếng mẹ đẻ (TMĐ) đƣợc hiểu là ngôn ngữ mà nhờ nó hình thành nên các thói quen sớm nhất của các hoạt động nói năng. Ngôn ngữ mẹ đẻ thƣờng là ngôn ngữ của mẹ, của gia đình đƣợc hình thành ở mỗi ngƣời từ khi còn nhỏ.
Về cơ bản, tiếng mẹ đẻ (hay ngôn ngữ mẹ đẻ) thƣờng là ngôn ngữ tộc ngƣời (Ethnic). c) Ngôn ngữ tộc người Ngôn ngữ tộc ngƣời thƣờng là ngôn ngữ mẹ đẻ (TMĐ) của các thành viên trong cộng đồng tộc ngƣời. Nó là thành tố quan trọng để thống nhất các thành viên tộc ngƣời đó. Nhờ có ngôn ngữ tộc ngƣời mà các đặc điểm văn hóa tộc ngƣời mới đƣợc tồn tại dƣới dạng phƣơng ngữ, thổ ngữ và đƣợc lƣu giữ trong văn học dân gian (văn học truyền khẩu).
d) Ngôn ngữ quốc gia Ngôn ngữ quốc gia (NNQG) là ngôn ngữ do luật pháp nhà nƣớc quy định, đƣợc sử dụng trong phạm vi cả nƣớc, không hạn chế trong một khu vực lãnh thổ hay trong nội bộ một một dân tộc, nhóm dân tộc. Với tƣ cách là ngôn ngữ của cả quốc gia, nó đƣợc sử dụng trong hoạt động chính trị, xã hội, văn hoá. NNQG là tài sản của quốc gia và có ý nghĩa biểu trƣng cho độc lập, thống nhất quốc gia. Vấn đề chính sách ngôn ngữ ở quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ Việc đề ra chính sách ngôn ngữ đòi hỏi phải có sự cân nhắc thận trọng, cần dựa trên thực tế đời sống ngôn ngữ của một nƣớc, đặc biệt là đối với những quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ nhƣ Việt Nam.
CSNN của Nhà nƣớc, của các tổ chức, đảng phái không phải chỉ là chính sách cụ thể đối với NNQG mà phải là chính sách chung đối với các ngôn ngữ nhằm tác động vào sự hành chức của ngôn ngữ trong CHNN ở quốc gia đó trong những luan an 16 hoàn cảnh lịch sử - cụ thể.