phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có kết cau nội dung gồm 3 chương, 6 tiết. KHAI QUAT CHUNG VE DIA BAN NGHIEN CUU VA PHẬT GIÁO VIET NAM TÍNH LAM DONG 1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu 1. Địa kinh té, văn hóa, chính trị xã hội Một số khái niêm liên quan đến để tài: Hoằng pháp: Hoằng pháp là một nhiệm vụ trọng yếu của những thé hệ đệ tử của Đức Phật, nhằm đưa giáo ly của Đức Phật đến với quan chúng, ở các vùng đất khác nhau, nối nghiệp Đức Phật làm cho Phật giáo đi vào đời sống, phục vụ chúng sinh.
Đức Phật sau khi thành đạo, thành lập Tăng đoàn cũng không ngoài mục đích hoằng pháp. Đức Phật từng căn đặn các đệ tử của mình: Hãy ra đi, các Tỳ Kheo, đem lại sự tốt đẹp cho nhiều người. Vì lòng từ bi hãy dem lại sự tốt đẹp. lợi ích và hạnh phúc cho chư Tiên và nhân loại.
Mỗi người hãy đi một ngả. Này hỡi các Tỳ Kheo, hãy hoằng dương giáo pháp, toàn hảo ở đoạn đầu, toàn hảo ở đoạn giữa, toàn hảo ở đoạn cuối, toàn hảo cả hai, nghĩa lý và văn tự. Về khái niệm hoăng pháp, trong một bài viết của mình, tác giả Lâm Văn Liêm có phân tích: “Hoang pháp là truyền bá đạo pháp, là một ngành tối quan trọng trong Phật giáo. Phật giáo thịnh hay suy đều do Hoằng pháp.
Đạo Phật sáng tỏ hay lu mờ cũng do Hoằng pháp. Tín đồ hiểu được đạo lý sâu hay cạn cũng do Hoằng pháp. Hoang pháp là hình thức thuyết giảng chính pháp (dhammam desetha), mang lời Phật dạy truyền bá đến mọi chúng sinh” (Lâm Van Liêm, 2018, tr. Tác giả Thích Thiện Bảo trong bài viết “Hoằng pháp đem giáo lý Đức Phật vào cuộc đời” phân tích khái niệm hoăng pháp: Hoằng pháp nghĩa là mở rộng ra làm cho giáo Pháp của Phật được lan toả khắp nơi hay nói cách 11 khác đem giáo lý của Đức Phật đến với mọi người muốn tìm hiểu và ứng dụng lời Phật dạy dé có một đời sống an lạc giải thoát giác ngộ.
Trong nghiên cứu luận văn, tác giả hiểu hoằng pháp là hoạt động nhằm truyền bá giáo pháp của Phật giáo, đưa giáo lý của Phật giáo vào đời sống xã hội dé phục vụ cho con người hướng đến mục đích giải thoát của Phật giáo. Đời sống tinh than: Luận văn nghiên cứu hoạt động hoằng pháp của Phật giáo trong mối liên hệ tác động đến đời sống tinh thần của dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên, chính vì vậy, luận văn đề cập đến khái niệm đời sống tinh than. Đời sống tinh than là khái niệm rộng, thường được nhac đến trong mối tương quan với khái niệm đời sống vật chat, trong cuộc sông chúng ta van thường hiểu đời sống xã hội được chia làm hai lĩnh vực: đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Khi phân tích tong quan về khái niệm đời sống tinh than, tác giả Cao Xuân Sáng và Bùi Văn Hà phân tích: “Đời sống tinh thần” được đưa ra nghiên cứu với tư cách là phạm trù triết học từ đầu những năm 60 thế kỷ XX ở Liên Xô (cũ), và đến nay được dùng tương đối phổ biến trong triết học, văn hóa học.
Nhưng việc xác định nội dung của nó còn có những ý kiến khác nhau dưới góc độ triết học, chăng hạn như: Thứ nhất, loại quan điểm cho rang đời sống tinh thần gồm tat cả những hiện tượng tinh than, quá trình tinh thần, ké cả cơ chế tác động của một số phương tiện vật chất thuộc về văn hóa tinh thần (phát thanh, truyền hình, thư viện, triển lãm nghệ thuật.); thứ hai, loại quan điểm cho răng phạm trù đời sống tinh thần có quan hệ mật thiết với phạm trù ý thức xã hội, khi đời sông tỉnh thần biểu hiện là một hệ thống hoạt động, nghĩa là có sự tác động giữa ý thức xã hội và ý thức cá nhân, ở đó có dau tranh tư tưởng của các tập đoàn xã hội, giai cấp khác nhau. Nó là sự trao đổi quan điểm, tư tưởng, lý luận, sự hình thành, phát trién ảnh hưởng của chúng trong ý thức của quần chúng nhân dân; thứ ba, loại quan điểm cho rằng 12 đời sống tinh thần không phải là tập hợp đơn giản những tư tưởng xã hội, mà nó còn là sự thống nhất đặc biệt của ý thức xã hội với các cơ quan, tô chức về văn hóa, tư tưởng, khoa học, nghệ thuật nói chung; thứ tư, loại quan điểm cho rằng đời sống tinh thần là toàn bộ những hiện tượng, những quá trình tinh thần có liên hệ với những tổ chức, cơ quan về văn hóa, tư tưởng, giáo dục, khoa học, hay là hoạt động tinh thần - văn hóa của các cơ quan, tô chức đó” (Cao Xuân Sáng, Bùi Văn Hà, 2016, tr. Thừa hưởng thành tựu những công trình nghiên cứu đi trước, trong nghiên cứu này, tác giả luận văn đưa ra khái niệm đời sống tinh thần là toàn bộ những biểu hiện nhận thức, tư tưởng, tình cảm, tâm lý của con người. Trong nghiên cứu này, tác giả triển khai nội dung nghiên cứu đời sống tinh thần của người dân tộc thiểu số dưới hai góc độ: đời sống đạo đức và phong tục, tập quán.
Dân tộc thiểu số: được định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc như sau: “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thô nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Dân tộc đa số là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia. Theo Thông cáo báo chí kết quả sơ bộ Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, toàn quốc có 82.729 người dân tộc Kinh, chiếm 85,3% va 14.255 người dân tộc khác, chiếm 14,7% tổng dân số của cả nước. Như vậy, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam là 53 dân tộc trong thành phần dân tộc Việt Nam, trừ dân tộc Kinh là dân tộc đa số.
Tây Nguyên: Tây Nguyên (còn được gọi là vùng Cao nguyên Nam Trung Bộ, Tây Nguyên - Miền Trung) là khu vực với địa hình cao nguyên các tỉnh xếp theo thứ tự vị trí địa lý từ Bắc xuống Nam gồm có: tỉnh Kon Tum, tỉnh Gia Lai, tỉnh Đắk Lắk, tỉnh Đắk Nông và tỉnh Lâm Đồng. 13 Tây Nguyên là vùng thuộc Miền Trung của Việt Nam. Tây Nguyên là khu vực có diện tích tự nhiên là 54.474 km2 chiếm 16,8% diện tích tự nhiên cả nước, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với Lào, Campuchia. Tây Nguyên là vùng đất đa dạng về thành phần dân tộc sinh sống, với 49 dân tộc cùng chung song, gom 12 dan tộc ban dia và 37 dân tộc nhập cư từ nơi khác đến.
Da thành phần dân tộc tạo cho nơi đây đặc điểm rất đa dạng về ngôn ngữ, tâm lý, phong tục tập quán và sự phát triển không đều nhau về kinh tế - xã hội. Tây Nguyên là địa bàn hoạt động của nhiều loại hình tôn giáo đã được công nhận về mặt tô chức tôn giáo, trong đó chủ yêu là Công giáo, Phật giáo, Tin Lành và Cao Đài, với tổng số 1.500 nhà tu hành, khoảng 840 cơ sở thờ tự. Sự biến đổi kinh tế - xã hội đã đưa đến những thay đổi đáng ké tới nghi thức văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số như K’ho, Mạ. Các chương trình lớn diễn ra trên địa bàn Tây Nguyên như di dân xây dựng vùng kinh tế mới, tái định canh định cư; giao đất giao rừng.
ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sự biến đổi các cộng đồng dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng. Nền tảng xã hội phù hợp cho sự vận hành nên văn hóa truyền thống của các tộc người Tây Nguyên trong xã hội đương đại đã không còn. Luật tục của các cộng đồng dân tộc thiểu số đang có những biến đổi theo hướng thích nghỉ với luật pháp. Hau hết các điều khoản luật tục không còn hiệu lực thực tế là những điều khoản vốn được xem là lạc hậu, mâu thuẫn với luật pháp.
Tại Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng hiện nay đã và đang diễn ra hai quá trình đồng hóa tự nhiên (quá trình tiếp xúc, giao lưu ảnh hưởng văn hóa tự nhiên giữa các tộc người): 1 là quá trình đồng hóa tự nhiên 14 giữa văn hóa người Kinh và các tộc người bản địa, 2 là quá trình đồng hóa tự nhiên giữa những người bản địa (giữa các dân tộc thiểu số). Dấu vết của tín ngưỡng dân gian đa thần vẫn còn lưu giữ đậm nét trong đời sống tâm linh, tôn giáo các dân tộc. Ngoài các tôn giáo có tổ chức nêu trên, đồng bào Tây Nguyên vẫn duy trì những nghi lễ mang màu sắc tôn giáo liên quan đến phong tục, tập quán truyền thống của họ, mà chúng ta gọi là tín ngưỡng dân gian hay hình thái tôn giáo nguyên thuỷ (sơ khai). Trong hệ thống tín ngưỡng dân gian của hầu hết các tộc người ở Tây Nguyên, tín ngưỡng về Linh hồn là loại hình tín ngưỡng được bảo lưu một cách rõ nét nhất, nồi trội nhất, dan xen, pha trộn với các tín ngưỡng Vật linh, Ma thuật, trở thành thứ tôn giáo cơ bản của người Tây Nguyên.
Thông qua các nghi lễ tôn giáo của các tộc người ở Tây Nguyên, có thé dé thấy rang, đặc trưng tâm thức tôn giáo của họ mang nặng tính huyền ảo, và lối tham chiếu nhân tính trong quan hệ người - vật (người Tây Nguyên quan niệm, mọi vật đều có linh hồn như con người), nên họ đã thờ rất nhiều loại thần linh. Chính vì vậy, đối tượng thờ cúng trong các loại hình tín ngưỡng dân gian của Tây Nguyên là đa thần. Các nghi lễ, phong tục của người Tây Nguyên nói chung, Lâm Đồng nói riêng hình thành trên nền tảng của đời sống kinh tế nông nghiệp. Do đó, những lễ nghỉ tôn giáo điển hình va gắn bó nhất của người dân số đều liên quan đến đời sông sản xuất nông nghiệp, như lễ cúng hồn lúa, lễ cơm mới, lễ mẹ lúa.
Tiếp đến là những lễ nghi liên quan đến vòng đời của một con người, như lễ cầu sinh đẻ và nuôi con, lễ đặt tên, lễ xả xui, lễ cầu sức khoẻ, lễ trưởng thành, lễ cưới hỏi, lễ cầu an, lễ mừng thọ, lễ tang ma, lễ bỏ mả.