Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục đề tài gồm 3 chương: Chƣơng 1: Khái quát cơ sở lý luận và địa bàn nghiên cứu 1. Địa bàn nghiên cứu Chƣơng 2: Làng công giáo Thủ Trung xã Kim Chính 2. Lịch sử hình thành Công giáo trên địa bàn huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình 2. Làng Công giáo Thủ Trung Chƣơng 3: Đời sống văn hóa tôn giáo, tín ngƣỡng làng Thủ Trung 3.
Văn hóa vật chất của làng Công giáo Thủ Trung 3. Sinh hoạt văn hóa tôn giáo. Sinh hoạt văn hóa tín ngƣỡng 3. Mối quan hệ giữa sinh hoạt tôn giáo với sinh hoạt tín ngƣỡng ở làng Thủ Trung 3.Vai trò của tôn giáo đối với xây dựng đời sống văn hóa, bảo tồn bản sắc văn hóa của làng.
16 z Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng đổi mới toàn diện, phát triển đất nước trong đó có đổi mới về tôn giáo mà Công giáo là một tôn giáo lớn đã tác động đến nhiều mặt của Công giáo ở Việt Nam trong đó có vấn đề xứ, họ đạo và tổ chức xứ, họ đạo. Tuy nhiên phải đợi đến khi Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo ra đời (18/06/2004) các vấn đề về nguyên tắc và việc thực hành nghi lễ của tôn giáo mới thực sự trở nên sôi động. Bên cạnh đó, Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điểm của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, số 22/2005/NĐ-CP ra ngày 01/03/2005 (từ đây gọi tắt là Nghị định 22) nêu một số điều đáng lưu ý (xem ở phần phụ lục).
Có thể nhận thấy, các điều khoản trên đây lần đầu tiên đã xác định rõ các quan điểm, nội dung quản lý nhà nước về Tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời đặc biệt có tác động xã hội, văn hóa và đời sống tâm linh sâu sắc đối với các tôn giáo và các tín đồ, chức sắc tôn giáo ở nước ta trong những năm đầu thế kỷ XXI đến nay. Đó cũng là những căn cứ để chúng ta có thể nhận diện các vấn đề văn hóa của những cộng đồng theo các tôn giáo với sự giao thoa với các giá trị văn hóa truyền thống ở các làng Việt nói chung và đồng bằng Bắc Bộ nói riêng. Khái niệm, lý thuyết tiếp cận 1.Các khái niệm cơ bản - Khái niệm xứ, họ đạo Công giáo Về tên gọi: Trước Công đồng Vatican II (1962-1965) ở miền Bắc tên gọi xứ đạo để chỉ tổ chức Giáo hội cơ sở của Công giáo.
Một loại hình tổ chức dưới xứ đạo được 17 z gọi là họ đạo. Ở miền Nam, họ đạo (được hiểu là xứ đạo) có nhiều cách gọi khác nhau như: họ đạo Cái Sắn, họ đạo Cái Mơn, thực tế đó là xứ đạo. Cái Sắn, xứ đạo Cái Mơn. Cũng có khi họ đạo được gọi là địa sở.
Từ sau Công đồng Vatican II, Công giáo ở miền Nam gọi xứ đạo (họ đạo) là giáo xứ, họ đạo là giáo họ. Khoảng từ những năm 1980 Công giáo ở miền Bắc cũng dần dần gọi giáo xứ, giáo họ thay cho cách gọi xứ đạo, họ đạo. Tuy nhiên đó là nhìn một cách đại thể, hoặc trên phương diện sách báo truyền thông còn trên thực tế nhiều nơi, bà con giáo dân vẫn gọi xứ đạo, họ đạo. Trong công trình này tôi dùng khái niệm xứ đạo, họ đạo được hiểu là giáo xứ, họ đạo.
Xứ đạo: Bộ Giáo luật 1983 (từ đây được viết tắt là Bộ Giáo luật) phần viết về giáo xứ, quy định: Điều 515: 1. Giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu được thiết lập cách bền vững ở trong Giáo hội địa phương và việc săn sóc mục vụ được ủy thác cho cha sở làm chủ chăn riêng dưới chủ quyền của giám mục giáo phận. Chỉ duy có giám mục giáo phận có quyền thành lập, giải tán hoặc thay đổi các giáo xứ; tuy nhiên ngài không nên thành lập, giải tán hoặc thay đổi một cách đáng kể các giáo xứ mà không tham khảo ý kiến Hội đồng linh mục. Một khi đã được thành lập hợp lệ giáo xứ đương nhiên được hưởng tư cách pháp nhân theo luật.
Hiến chế về phụng vụ Thánh của Công đồng Vatican II, đoạn 42 viết: “Một cách nào đó, các giáo xứ phản ánh Giáo hội hữu hình được thiết lập trên toàn cõi trái đất”. Cũng Công đồng Vatican II, Sắc lệnh về tông đồ giáo dân đoạn 10 viết: “Giáo xứ là một hình thức tông đồ cộng đồng kiểu mẫu, vì đó là nơi quy tụ đủ mọi hạng người thành một cộng đoàn và đem họ vào tinh thần đại đồng của Giáo hội” Trong hệ thống tổ chức của Giáo hội Công giáo còn một bậc đó là chuẩn giáo xứ. Ở Việt Nam, nhất là ở miền Bắc giáo dân gọi loại hình này một cách dân dã là 18 z phiên đạo hay xứ xép. Chuẩn giáo xứ hay phiên đạo được thiết lập ở những nơi mà vì những lý do khác nhau chưa thể thành lập ngay xứ đạo.
Tuy nhiên không phải chuẩn giáo xứ (phiên đạo) nào cũng “tuần tự như tiến”, trên thực tế có một số chuẩn giáo xứ (phiên đạo) sau một thời gian thành lập đã bị hủy. Chẳng hạn năm 1954 ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, giáo dân ồ ạt di cư vào Nam, một số phiên đạo vì vậy không tồn tại. Bộ Giáo luật quy định về chuẩn giáo xứ như sau: Điều 516: 1. Trừ khi luật quy định khác, chuẩn giáo xứ cũng được đồng hóa với giáo xứ.
Chuẩn giáo xứ là một cộng đoàn tín hữu ở trong Giáo hội địa phương được ủy thác cho một tư tế như là chủ chăn riêng, nhưng vì hoàn cảnh đặc biệt chưa được thiết lập thành giáo xứ. Ở đâu các cộng đoàn không thể thành lập thành giáo xứ hay chuẩn giáo xứ được, thì giám mục giáo phận phải dự liệu việc săn sóc mục vụ cho họ bằng cách khác. Theo Bộ Giáo luật, Điều 518, có hai loại hình giáo xứ là giáo xứ tòng nhân. Giáo xứ tòng thổ là giáo xứ có một địa vực nhất định, còn giáo xứ tòng nhân lại không tính theo địa vực.
Hay nói một cách khác nó là một địa vực rộng lớn rất khó xác định có thể là một vùng rộng lớn khi mà ở đó có tín đồ của giáo xứ sinh sống. Điều 518: Theo luật chung, giáo xứ phải có tính cách tòng thổ, nghĩa là bao gồm tất cả các tín hữu thuộc một địa sở nhất định, tuy nhiên ở đâu thấy thuận lợi cũng có thể thiết lập giáo xứ tòng nhân xét vì lý do lễ điển, ngôn ngữ, quốc tịch của các tín hữu thuộc về một lãnh thổ hay kể cả vì một lý do nào khác. Mỗi giáo xứ đều có cha sở là chủ chăn riêng. Nghĩa là đã là giáo xứ (hay chuẩn giáo xứ) thì phải có linh mục coi sóc như Bộ Giáo luật quy định.
Điều 519: Cha sở là chủ chăn riêng của giáo xứ đã được giao phó, và thi hành việc săn sóc mục vụ của cộng đoàn được ủy thác dưới quyền của giám mục giáo phận, vì được gọi thông phần với giám mục vào tác vụ của Đức Kito, ngõ hầu chu tất nhiệm 19 z vụ giảng dạy, thánh hóa và quản trị đối với cộng đoàn ấy, với sự cộng tác của các linh mục khác hoặc với các phó tế và cả sự hợp lực của các giáo dân, theo quy tắc luật định. Như vậy, xứ đạo là một phần của địa phận (được gọi là giáo hội địa phương), có một nhà thờ (Thánh được xứ) một số giáo hữu cư trú trong một vùng nhất định, được giao cho một linh mục (cha sở) coi sóc. Họ đạo: Trong quá trình truyền giáo, phát triển đạo ở Việt Nam, các giáo sĩ khi có được một lượng tín đồ nhất định thì gom lại lập ra họ đạo. Dựa vào đình nghĩa về xứ đạo có thể hiểu họ đạo là một vùng cụ thể, có một số lượng tín đồ nhất định.
Họ đạo là một bộ phận của xứ đạo, nghĩa là một số họ đạo tập hợp thành một xứ đạo. Tuy nhiên có thể không đúng với một số trường hợp ở miền Trung và miền Nam khi mà xứ đạo được coi là họ đạo và không hề có họ đạo lẻ phụ thuộc. Trong họ đạo có các loại hình như: họ đầu xứ, họ địa sở hay là họ nhà xứ để chỉ có trị sở của xứ đạo (nhà thờ xứ đạo, nơi cha sở cư trú để quản trị xứ đạo). Mỗi xứ đạo còn có những họ đạo khác phụ thược gọi là họ đạo lẻ.
Ở Việt Nam, thông thường các họ đạo lẻ (hiện ở một vài nơi họ đầu xứ) có một cơ sở thờ tự là nhà nguyện – thường được gọi là nhà thờ họ để phân biệt với nhà thờ xứ. Bên dưới họ đạo ở nhiều xứ đạo còn có những tổ chức “hợp thành” với cái tên gọi khác nhau: dâu, giáp, tích, lân. Như phần trên đề cập, mỗi xứ đạo có một cha sở quản nhiệm. Do tầm quan trọng của xứ đạo nên cha sở được Bộ Giáo luật quy định rất rõ.
Để một người có thể được bổ nhiệm cách hữu hiệu làm cha sở, cần phải đã chịu chức linh mục. Ngoài ra, người đó phải trội vượt về đạo lý lành mạnh, tác phong đứng đắn, có nhiệt tâm với các linh hồn và những nhân đức khác, cũng như những đức tính mà luật hoặc phổ quát hoặc địa phương đòi hỏi để săn sóc một giáo xứ cụ thể. Để bổ nhiệm người nào vào chức vụ cha sở, cần phải biết rõ về khả năng của người đó, theo cách thức giám mục giáo phận ấn định, kể cả nhờ việc khảo hạch. Như vậy cha sở ở đây được hiểu là linh mục chính xử.
Ở một số xứ đạo nhất là ở Thành phố Hồ Chí Minh ngoài cha chính xứ còn có cha phó xứ (có thể là một, cũng có xứ tới bốn cha phó xứ). Cha phó xứ được cha chính xứ giao cho phụ trách một số phần việc mục vụ như: giảng dạy giáo lý, phụ trách hội đoàn chủ yếu là giới trẻ cũng có khi là phụ trách một họ đạo lẻ. Trong những điều kiện và hoàn cảnh xứ đạo không có cha sở thì quy định của Bộ giáo luật là: Điều 517: 1. Ở đâu hoàn cảnh đòi hỏi, việc săn sóc mục vụ của một giáo xứ hoặc của nhiều giáo xứ một trật có thể ủy thác cách liên đới cho nhiều tư tế, miễn là một người trong họ phải là trưởng ban điều hành việc săn sóc mục vụ; vị này hướng dẫn công việc hoạt động chung và chịu trách nhiệm trước giám mục.